ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO QUANG HUY
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CỦA NGÀNH XÂY DỰNG HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS BÙI THỊ NGỌC LAN
Hà Nội - 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NGÀNH XÂY DỰNG HÀ NỘI
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 7
1.1. Lý luận về nguồn nhân lực và quan hệ giữa nguồn nhân lực với công
nghiệp hóa, hiện đại hóa 7
1.1.1. Lý luận về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 7
1.1.2. Mối quan hệ giữa nguồn nhân lực với công nghiệp hóa, hiện đại
hóa 13
1.2. Đặc điểm ngành xây dựng Hà Nội và sự cần thiết phát triển nguồn
nhân lực của ngành đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa Thủ đô 18
1.2.1. Đặc điểm ngành xây dựng Hà Nội trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa Thủ đô 18
1.2.2. Sự cần thiết phát triển nguồn nhân lực ngành xây dựng Hà Nội
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô 22
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NGÀNH
XÂY DỰNG HÀ NỘI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 31
2.1. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của ngành xây dựng Hà Nội 31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi,dưới sự hướng của PGS.TS Bùi Thị Ngọc
Lan. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn
toàn trung thực và chưa được công bố. Các thông tin, tài
liệu trình bày trong luận văn có xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận văn
Đào Quang Huy
1
MỞ ĐẦU
kinh tế trọng điểm phía Bắc nên nhiệm vụ lại càng nặng nề. Trước yêu cầu
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng hạ tầng đô thị đồng bộ,
hiện đại, hiện đại hóa bộ mặt đô thị, phát triển hạ tầng nông thôn, xây dựng bộ
mặt nông thôn mới ở ngoại thành, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thủ đô. Theo đề án phát triển nguồn nhân lực ngành xây dựng Hà Nội giai
đoạn năm 2011 - 2020, từ nay đến năm 2020, tốc độ đầu tư xây dựng cơ bản
tăng từ 11 đến 13%. Căn cứ vào đó, tốc độ tăng trưởng nhân lực ngành xây
dựng bình quân hàng năm từ nay đến 2020, lực lượng của ngành sẽ có 1,5
triệu người được đào tạo, trong đó đào tạo nghề là khoảng 900 nghìn người.
Để đạt được mục tiêu về số lượng và chất lượng nhân lực qua đào tạo đến
năm 2020, hàng năm đào tạo nghề phải tăng 3,57 lần, trung cấp chuyên
nghiệp tăng 2,75 lần và giáo dục đại học tăng 1,37 lần. Theo Hiệp hội nhà
thầu xây dựng Việt Nam, tình trạng chung thực tế tại các công trình là thiếu
trầm trọng nhân lực có trình độ, được đào tạo, đặc biệt là công nhân trình độ
cao. Các nhà thầu xây dựng vẫn phải tuyển dụng những thợ hồ, thợ phu, dân
bốc vác thuê, thậm chí phụ nữ làm trên công trường. Lực lượng này trình độ
học vấn thấp, không được đào tạo, nên việc làm không ổn định, thu nhập bấp
bênh, thậm chí sau các dịp lễ tết, một số lượng lớn không quay lại, khiến
không ít nhà thầu mất nhiều thời gian công sức để đạt tiến độ công trình. Vì
vậy, ngành xây dựng Việt Nam nói chung và ngành xây dựng Hà Nội nói
riêng phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ lý do trên tôi
chọn: “Phát triển nguồn nhân lực của ngành xây dựng Hà Nội trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm đề tài tốt nghiệp. 3
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã được nhiều học giả quan tâm,
lực lượng sản xuất; nghiên cứu thực trạng của nó, đồng thời đề xuất những
giải pháp phát huy nhân tố con người nhằm phát triển lực lượng sản xuất
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức”, Báo cáo tổng hợp kết
quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp cơ sở 2010, do PGS.TS. Bùi Thị Ngọc
Lan làm chủ nhiệm. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,
H. 2010. Đề tài làm rõ quan niệm nguồn nhân lực chất lượng cao mối quan hệ
giữa phát triển kinh tế tri thức với nguồn nhân lực chất lượng cao; đánh giá
thực trạng, đề ra các xu hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở Việt Nam.
- Luận án tiến sĩ “Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Tú
Oanh (1999); Luận văn thạc sĩ: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay”
của tác giả Vũ Thị Phương Mai (2004).
Những công trình nghiên cứu trên là rất đáng trân trọng và là tài liệu
quý, bổ ích để tác giả tham khảo. Song ở luận văn này, tác giả nghiên cứu
nguồn nhân lực trong ngành xây dựng, mà cụ thể là nguồn nhân lực ngành
xây dựng Hà Nội, để đáp ứng những yêu cầu của ngành xây dựng Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và thực trạng phát triển nguồn
nhân lực của ngành xây dựng Hà Nội, luận văn đề xuất những phương hướng
5
và giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực ngành xây dựng Hà Nội
đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích làm rõ những lý luận chung về nguồn nhân lực, và mối quan
hóa, hiện đại hóa với phát triển nguồn nhân lực của ngành xây dựng Hà Nội
trong giai đoạn hiện nay.
- Về thực tiễn, luận văn làm rõ thực trạng nguồn nhân lực của ngành
xây dựng Hà Nội và đề xuất một hệ thống những quan điểm, giải pháp chủ
yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực của ngành trong những năm tới.
6.2 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy lý luận chính trị trong các nhà trường, đồng thời, có thể được dùng
làm tài liệu tham khảo cho ngành xây dựng thành phố Hà Nội trong việc quy
hoạch và phát triển nguồn nhân lực của ngành và những ai quan tâm đến vấn
đề này.
7 . Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết. 7
Chƣơng 1
LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NGÀNH XÂY DỰNG HÀ
NỘI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Lý luận về nguồn nhân lực và quan hệ giữa nguồn nhân lực với
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
qua giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại xem
xét nguồn nhân lực dưới góc độ tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm
năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động, thành vốn nhân
lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính
sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng vô tận đó được khai thác, phát
huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn. Với cách tiếp cận này nguồn nhân
lực được hiểu là “tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội của
con người. Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con
người thành nguồn vốn con người [6, tr.11].
Ngày nay cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học và công
nghệ, nhân tố con người vẫn giữ vị trí quan trọng và không thể thay thế.
Nguồn nhân lực quyết định sự thành hay bại của bất cứ một doanh nghiệp,
một quốc gia nào.
Khi tiếp cận nguồn nhân lực dưới góc độ là lực lượng lao động xã hội
thì nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam từ 15-
60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi) và có khả năng lao động. Nguồn nhân lực bao
gồm cả những người đang tham gia lao động hoặc sẽ tham gia hoạt động kinh
tế - xã hội. Ở đây bao gồm cả những người đang tham gia lao động hoặc đang
trong quá trình học tập, tìm kiếm việc làm… Như vậy, nguồn lao động bao
gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến
trạng thái là họ đang có hoặc không tham gia hoạt động kinh tế.
9
Theo một cách tiếp cận rộng hơn thì nguồn nhân lực là tổng thể những
tiềm năng phát triển và năng lực thực tế của cộng đồng dân cư của mỗi quốc
gia hay cộng đồng có thể huy động vào việc phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia hay cộng đồng đó.
Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực như một bộ phận cấu thành các
nguồn lực của quốc gia, như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn tài
chính, nguồn lực trí tuệ ("chất xám")… Những nguồn lực này có thể được huy
con người được coi là một thứ tài nguyên quý giá nhất, một nguồn lực quan
trọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực. Vì vậy, thực chất chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội là chiến lược phát triển con người và vì con người.
Như vậy, mặc dù còn những cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực,
song giữa các quan niệm này cũng có điểm thống nhất, đó là hầu hết các tác
giả đều xác định nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng và năng lực của
con người được huy động vào quá trình lao động, sản xuất của mỗi quốc gia
hay cộng đồng sở hữu nó.
Do đó xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của đề tài này, tác giả cho
rằng: “Nguồn nhân lực có thể hiểu là nguồn cung cấp sức lao động cho xã
hội, nó là một bộ phận của dân số có vai trò tạo ra giá trị vật chất, văn hóa,
dịch vụ cho xã hội”.
Nguồn nhân lực của nước ta trong thời gian qua đã tăng một cách đáng
kể về mặt số lượng do sự gia tăng dân số ở mức cao và liên tục trong nhiều
năm, là yếu tố cơ bản để mở rộng và phát triển sản xuất. Tuy vậy, xét về mặt
chất lượng, nguồn nhân lực nước ta còn khá nhiều hạn chế.
Có thể nói chất lượng nguồn nhân lực được kết hợp bởi 3 yếu tố: Thể
lực, trí lực và đạo đức, lối sống.
+ Thể lực: là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự phát
triển sinh học, không có bệnh tật; có sức khỏe lao động trong hình thái lao động
ngành nghề nào đó, có sức khỏe để học tập làm việc lâu dài Thể lực yếu sẽ hạn
chế rất lớn đến sự phát triển trí lực của cá nhân và cộng đồng xã hội nói chung.
+ Trí lực: Là năng lực trí tuệ, tinh thần, là trình độ phát triển trí tuệ, là
trình độ học vấn chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ, tay nghề. Nó
quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người, nó càng có vai trò
11
quyết định trong phát triển nguồn lực con người, đặc biệt trong thời đại ngày
nay khi khoa học, công nghệ phát triển như vũ bão.
+ Lối sống đạo đức: Là sự phản ánh những chuẩn mực đạo đức xã hội.
về nguồn nhân lực phải xem xét đánh giá cả hai mặt: số lượng và chất lượng.
Đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực không chỉ cần thiết mà còn là điều kiện
đủ để tạo động lực cho người lao động làm việc có hiệu quả, cũng như đảm
bảo cho việc giáo dục và đào tạo. Có thể liệt kê một số định nghĩa của một số
tổ chức liên Hiệp quốc về phát triển nguồn nhân lực sau đây:
- Theo UNESCO: Phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ sự lành nghề
của dân cư trong mối quan hệ qua lại với sự phát triển của đất nước.
- ILO cho rằng phát triển nguồn nhân lực bao hàm một phạm vi rộng
hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề hoặc ngay cả việc đào tạo nói
chung. Quan niệm này dựa trên cơ sở nhận thức cho rằng con người có nhu
cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới được việc làm hiệu quả, cũng như
thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Sự lành nghề được hoàn thiện
nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống và làm việc đáp ứng
những kỳ vọng của con người. Cũng như vậy, những quan điểm, thái độ phát
triển về một cá nhân và xã hội là cần thiết để lồng ghép nguyện vọng cá nhân
vào khuôn khổ xã hội hay quốc gia một cách đồng bộ.
- FAO: Nhìn nhận phát triển nguồn nhân lực như một quá trình mở
rộng khả năng tham gia hiệu quả vào phát triển bao gồm cả tăng năng lực
sản xuất.
Qua một số định nghĩa trên có thể thấy rằng: phát triển nguồn nhân lực
là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một
cách hiệu quả vào tiến trình phát triển của quốc gia. Phát triển nguồn nhân lực
chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực của con người vì sự tiến bộ
kinh tế, xã hội. Phát triển nguồn nhân lực thúc đẩy sự tăng trưởng trong thế
giới kỹ thuật cao ngày nay. Khác với đầu tư cho nguồn lực phi con người, đầu
13
tư cho con người tức là sẽ va chạm đến đời sống của cá nhân, gia đình, cộng
đồng của họ và đến toàn xã hội nói chung.
Trong phạm vi đề tài này sẽ phân tích vai trò quyết định của nguồn
tạo ra những kỹ thuật công nghệ ngày càng cao để phục vụ cho quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng thời con người cũng tác động qua lại lẫn nhau
và chịu sự tri phối của các điều luật, thể chế chính trị. Chỉ có con người mới
có thể cải biến được các mối quan hệ này để tạo ra sự bình đẳng và sự tăng
trưởng bền vững về kinh tế và phát triển ổn định về mặt xã hội, sự bền vững
về môi trường. Con người là chủ thể của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, cho nên muốn quá trình này diễn ra theo hướng tốt đẹp thì đòi hỏi bản
thân mỗi cá nhân tham gia vào quá trình này phải có những phẩm chất tốt
đẹp. Con người không chỉ có thể lực khoẻ mạnh mà cần phải có một tri thức
rộng lớn, sự hiểu biết, có tay nghề thành thạo, được đào tạo bồi dưỡng và phát
huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ
hiện đại.
Do tầm quan trọng của tri thức như vậy, ngày nay ở hầu hết các quốc gia
trên thế giới đều tìm cách nâng cao hàm lượng trí tuệ trong đội ngũ những
người lao động. Để làm được việc này thì các biện pháp giáo dục và đào tạo
đóng vai trò hết sức quan trọng. Kinh nghiệm lịch sử chỉ ra rằng không một
quốc gia nào, một dân tộc nào trên thế giới có thể trở nên giàu có và có tỷ lệ
tăng trưởng cao trước khi đạt được giáo dục phổ thông. Các nước công nghiệp
hóa mới như Singapo, Hàn Quốc cũng như một số nước và vùng lãnh thổ khác
có tốc độ tăng trưởng nhanh trong những thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX đều đạt
được mức phổ cập giáo dục tiểu học trước khi nền kinh tế đó cất cánh. Như vậy
có thể nói việc phát triển nguồn nhân lực chính là góp phần vào thúc đẩy quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh hơn và đúng hướng hơn.
Thứ hai, nguồn nhân lực là đối tượng hưởng thụ những thành quả từ
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
15
Mục đích khi xác định mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mỗi
quốc gia là tạo ra một nền kinh tế phát triển cao, một xã hội văn minh hiện
đại, sự bình đẳng của các cá nhân trong hưởng thụ những thành quả mà quá
lệ lao động trong ngành nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao động trong ngành công
nghiệp, dịch vụ. Trang bị các yếu tố hiện đại cho nền kinh tế, nhất là trong
lĩnh vực sản xuất. Quá trình này sẽ tạo nên một cuộc cách mạng đối với lực
lượng lao động xã hội, từng bước cải biến nếp nghĩ, cách làm vốn còn mang
nặng dấu ấn tiểu nông, sản xuất nhỏ trong một bộ phận lao động. Mặt khác,
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn để phát triển xã hội. Dưới tác
động tích cực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế có bước phát
triển, nhờ đó mà đời sống của con người từng bước được nâng cao. Con
người có điều kiện hơn để chăm lo nuôi dạy con cái, chú trọng cho công tác
giáo dục, y tế, phát triển toàn diện.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đặt ra những yêu cầu
ngày càng cao đối với người lao động về trình độ học vấn, chuyên môn kỹ
thuật, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, tính kỷ luật , từ đó buộc người
lao động phải không ngừng nỗ lực học tập, vươn lên để đáp ứng được yêu cầu
ngày càng khắt khe của thị trường lao động trong xu thế hội nhập và phát
triển. Như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã tạo ra môi trường và yêu cầu
khách quan đòi hỏi phải phát triển nguồn lực con người.
Bên cạnh mặt tác động tích cực thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng
có những tác động tiêu cực đến một số nhóm đối tượng của nguồn nhân lực -
đó là nhóm có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, thiếu cơ hội phát triển như
người dân ở khu vực nông thôn, miền núi trình độ thấp, chưa qua đào tạo.
Đây sẽ là nhóm đối tượng dễ bị gạt ra khỏi guồng máy sản xuất. Tình trạng
một bộ phận không nhỏ người lao động phải bỏ việc sau một thời gian thử
việc tại các khu công nghiệp, nhà máy, hoặc phải chấm dứt hợp đồng trước
thời hạn là một thực tế phản ánh điều đó. Do yêu cầu của công nghiệp hoá,
17
hiện đại hoá cần ứng dụng nhanh những thành tựu khoa học - công nghệ mới
vào sản xuất, vào quản lý kinh tế, xã hội cũng làm cho một số lao động nhanh
chóng bị lạc hậu, không có khả năng đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và dễ
công hiện đại vào sản xuất, vì vậy yêu cầu đặt ra cấp thiết hiện nay cho ngành
là phải có nguồn nhân lực chất lượng cao cả về số lượng và chất lượng để làm
chủ được máy móc, thiết bị và công nghệ xây dựng hiện đại của thế giới mà
ngành đã được chuyển giao.
1.2. Đặc điểm ngành xây dựng Hà Nội và sự cần thiết phát triển
nguồn nhân lực của ngành đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa Thủ đô
1.2.1. Đặc điểm ngành xây dựng Hà Nội trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa Thủ đô
Thủ đô Hà Nội có tổng diện tích bằng 3.323,6 km
2
, chiếm 1% diện tích
tự nhiên của cả nước, với 12 quận nội thành, 1 thị xã và 17 huyện ngoại
thành, dân số gần 6,844 triệu người, chiếm 7,8% dân số cả nước. Hà Nội có vị
trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế; là trung tâm của vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ, một đỉnh của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh. Hà Nội tập trung các đầu mối giao thông quan trọng nối với các tỉnh
trong nước và quốc tế, bao gồm hệ thống đường bộ (đường 1, đường 3, đường
4, đường 5, đường 6, đường 32, đường cao tốc Láng - Hoà Lạc), đường sắt
(Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội - Quán Triều), đường sông (Sông Hồng, sông Đuống, sông Đà) và
đường hàng không (Sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay nội địa Gia Lâm). Hệ
thống đường giao thông vận tải đó giúp cho việc liên hệ thuận tiện với các
khu công nghiệp các tỉnh, thành phố, thị xã, nhất là ở khu vực phía Bắc. Vị trí
địa lý tự nhiên của đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế nói
chung ở Hà Nội phát triển và cho việc phát triển ngành công nghiệp và xây
19
dựng Hà Nội nói riêng, đồng thời tạo cho nền sản xuất công nghiệp của Hà
Nội gắn với thị trường trong nước và thị trường quốc tế, đặc biệt là với thị
học đầu tiên được đào tạo bài bản. Sau này khi về nước, đội ngũ này đã tham
gia công tác giảng dạy góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho ngành.
Sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã tạo đà
cho sự phát triển lớn mạnh của ngành xây dựng Việt Nam nói chung và Hà
Nội nói riêng hiện nay. Trước đổi mới, ngành xây dựng Hà Nội là một ngành
kinh tế nhỏ đóng góp rất khiêm tốn cho kinh tế Thủ đô với sự tồn tại của một
số tổng công ty xây dựng như Sông Đà, Sông Hồng, công ty cầu Thăng
Long Máy móc, thiết bị cũ kĩ, lạc hậu, với đội ngũ cán bộ kỹ sư, kiến trúc
sư còn nhỏ bé, đội ngũ công nhân lành nghề còn thiếu trầm trọng về số lượng
và chất lượng. Hiện nay, ngành xây dựng Hà Nội đã trưởng thành vượt bậc,
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp rất lớn cho kinh tế Hà Nội. Với
hàng trăm, hàng nghìn các công ty, các nhà thầu xây dựng vừa và nhỏ của tư
nhân , ngành xây dựng Hà Nội đã đóng góp cho Thủ đô và đất nước rất
nhiều các công trình đẹp và hiện đại như cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy, cầu
Nhật Tân, cầu Trung Hà, cầu Vĩnh Thịnh; các đường vành đai 3,4; các cây
cầu vượt, cầu cạn, đường sắt trên cao, các trục đường xuyên tâm góp phần
liên kết, liên hoàn về mặt hạ tầng giao thông thuận lợi nối Hà Nội với các địa
phương bạn, giúp kinh tế Hà Nội và các địa phương bạn cùng nhau phát triển.
Ngành đã xây dựng cho thủ đô nhiều khu đô thị mới khang trang, hiện đại góp
phần nâng cao diện tích nhà ở bình quân đầu người ở Hà Nội, đồng thời đóng
góp cho Hà Nội nhiều công trình chính trị, văn hóa, phúc lợi như sân vận
động Mỹ Đình, trung tâm hội nghị Quốc gia, các quảng trường, công viên
Ngành xây dựng Hà Nội cũng đã hoàn thiện nâng cao năng lực cấp thoát nước
cho Thủ đô như xây dựng và đưa vào sử dụng nhà máy nước Sông Đà, trạm
thoát nước Yên Sở, kè hóa và nạo vét sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, cống
hóa sông Lừ, sông Sét tạo cho Hà Nội những con đường mới, đẹp mà trước
đây là những dòng sông ô nhiễm, tạo ra sự hoàn chỉnh, đồng bộ về hạ tầng đô
thị cũng như sự hiện đại về bộ mặt đô thị ở những quận nội thành, và nâng