Thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay - Pdf 28

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGÔ THỊ VÂN ANH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Ở TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ
chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Phan Thanh Khôi Hà Nội - 2014
3 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 13
Chƣơng 1. CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VÀ NỘI DUNG CHÍNH SÁCH
DÂN TỘC Ở TỈNH VĨNH PHÚC 13
1.1. Chính sách dân tộc 13
1.2. Nội dung chính sách dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc 20
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở
TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY 43
2.1. Những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân
tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay 43
2.2. Nguyên nhân của những thực trạng trên 59
Chƣơng 3. NHỮNG QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
CƠ BẢN GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH DÂN TỘC Ở TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY 64
3.1. Những quan điểm chỉ đạo góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay 64

kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng của đất nƣớc. Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa IX về công tác dân tộc đã
khẳng định: Các dân tộc thiểu số: thực hiện tốt chính sách bình đẳng, đoàn
kết, tƣơng trợ, giúp nhau cùng phát triển trong cộng đồng các dân tộc Việt
5 Nam. Đến Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) lại tiếp tục khẳng định: các dân tộc
trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ. Đây là những nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nƣớc ta. Đó cũng chính là cơ sở để Đảng và Nhà nƣớc ta xây
dựng và thực hiện các chính sách xã hội nói chung và chính sách dân tộc nói
riêng nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân,
nhất là ở các vùng dân tộc thiểu số còn ở trình độ sản xuất và đời sống thấp,
xây dựng, phát triển quan hệ dân tộc tốt đẹp và đấu tranh chống lại các thế lực
phản động có âm mƣu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại việc
thực hiện chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc.
Tỉnh Vĩnh Phúc thuộc đồng bằng Bắc Bộ, là vùng đồng bằng có trung du
và miền núi.Tỉnh Vĩnh Phúc có 1 thành phố trực thuộc tỉnh, 1 thị xã và 7
huyện. Bên cạnh dân tộc Kinh, toàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện có trên 10 nghìn hộ
đồng bào dân tộc thiểu số với trên 40 nghìn nhân khẩu đang sinh sống tại trên
40 xã, thị trấn thuộc 5 huyện, thị xã: Lập Thạch, Tam Đảo, Bình Xuyên, Sông
Lô và thị xã Phúc Yên. Toàn tỉnh có 13 dân tộc thiểu số; trong đó đông nhất
là dân tộc Sán Dìu với gần 40 nghìn ngƣời (chiếm 90,8% tổng số đồng bào
dân tộc thiểu số trong tỉnh).Các dân tộc sống đan xen, đoàn kết, hoà thuận và
hỗ trợ nhau phát triển.
Ở Vĩnh Phúc đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở miền
núi, đời sống còn rất nhiều khó khăn. Những năm qua, các chính sách dân tộc
và miền núi của Đảng và nhà nƣớc đƣợc thực hiện trên địa bàn tỉnh đã góp

dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đánh giá những thành tựu
và yếu kém trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc,
7 tác giả đề ra định hƣớng chính sách dân tộc, đặc biệt là chính sách trên lĩnh
vực văn hóa trong thời gian tới.
Vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện naydo TS. Đậu
Tuấn Nam chủ biên, đƣợc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản
năm 2009.Cuốn sách gồm tập hợp các bài viết của các nhà khoa học tập trung
nghiên cứu về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay.
Từ việc xác định khái niệm dân tộc, GS. TS. Phan Hữu Dật đi sâu nghiên cứu
chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề này thông qua việc phân tích chủ nghĩa Mác
cũng nhƣ chủ nghĩa Mác – Lênin. PGS, TS. Lê Ngọc Thắng và PGS, TS.Cao
Văn Thanh đã trình bày những quan điểm, chính sách cơ bản của Đảng và
Nhà nƣớc ta về dân tộc cũng nhƣ những chính sách kinh tế - xã hội vùng dân
tộc thiểu số ở nƣớc ta hiện nay. Bên cạnh việc đƣa ra những quan điểm, chính
sách cơ bản, các tác giả phân tích thực trạng, nguyên nhân cho những hạn chế
trong việc thực hiện chính sách dân tộc và từ đó đƣa ra những giải pháp nhằm
khắc phục hạn chế…
Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc của TS. Bế Trƣờng Thànhdo Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2011. Nhân kỷ niệm 65
năm ngày thành lập Ủy ban Dân tộc (3-5-1946-3-5-2011), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản cuốn Vấn đề dân tộc và công tác dân
tộc. Cuốn sách gồm một số bài viết và công trình tiêu biểu của đồng chí Bế
Trƣờng Thành, góp phần luận giải và làm sáng tỏ vấn đề dân tộc ở Việt Nam;
đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với đồng bào các dân tộc
và công tác dân tộc hiện nay. Các bài viết đề cập đến nhiều lĩnh vực, nhiều
khía cạnh khác nhau nhìn từ góc độ công tác dân tộc nhƣ: việc hoạch định
chính sách dân tộc, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về công tác dân tộc, tham mƣu cho

9 Trong cuốn sách này, tác giả đã thể hiện theo tinh thần khảo cứu dân tộc học
về lịch sử dân cƣ, tập quán sản xuất, sinh hoạt xã hội, ngôn ngữ, chữ viết, kiến
trúc – mỹ thuật – âm nhạc dân gian, phong tục, lễ hội nhằm giúp ngƣời đọc
có cách nhìn tổng quan về văn hóa các dân tộc ở Vĩnh Phúc với bản sắc
truyền thống riêng. Tác giả cũng đồng thời cảnh báo những nguy cơ làm phai
nhạt bản sắc các dân tộc thiểu số. Từ đó khuyến nghị một số vấn đề về giữ
gìn, bảo tồn, khai thác phát huy các giá trị văn hóa độc đáo của các dân tộc
Sán Dìu, Cao Lan và Dao ở Vĩnh Phúc.
Vựng tập các dân tộc thiểu số ở Vĩnh Phúc do Ban Dân tộc tỉnh Vĩnh
Phúc phát hành năm 2011 đã giới thiệu khá chi tiết về đặc điểm các dân tộc
thiểu số của tỉnh.
Ngoài ra còn có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ có liên quan đến
đề tài này nhƣ:
Thực hiện chính sách dân tộc ở vùng núi phía Bắc nước ta trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ( 2003) – Luận văn tốt nghiệp
lớp cao cấp lý luận chính trị của Bế Thu Hƣơng.
Thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2006) – Luận án Tiến sĩ Triết học của
Nguyễn Thị Phƣơng Thủy.
Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Khánh Hòa trong giai
đoạn hiện nay (2006) – Luận văn Thạc sĩ Triết học của Hồ Thị Ngọc Mai.
Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam( 2014) -
Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Lâm Thành.
10 Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi

dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc ở tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Về nội dung: chú trọng các vấn đề liên quan đến các dân tộc, dân tộc
thiểu sốcủa tỉnh Vĩnh Phúc.
Về thời gian: 15 năm tái thiết lập tỉnh (1997 – 2013) và nhất là những
năm gần đây.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn: Đƣợc thực hiện dựa trên những nguyên lý,
lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, những quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc, đồng
thời đề tài có kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học có
liên quan.
- Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn: Sử dụng phƣơng pháp luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin, đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, đồng thời sử dụng tổng hợp phƣơng pháp nghiên cứu: phƣơng
pháp logic - lịch sử, phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng
pháp phân tích, phƣơng pháp tổng kết thực tiễn, phƣơng pháp điều tra dân tộc
học…
6. Đóng góp mới của luận văn
Dƣới góc độ chính trị - xã hội, luận vănlàm rõ những những thành tựu
đạt đƣợc trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc qua 15
năm tái thiết lậpnhất là những năm gần đây, đồng thời chỉ ra những hạn chế
cần đƣợc khắc phục. Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa
12 hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc trong tỉnh, đáp ứng yêu cầu của đất
nƣớc và quốc tế.
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văncó thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham

hỏi phải nghiên cứu, phân tích từng cảnh huống sử dụng khái niệm một cách
cụ thể. Trong phạm vi của đề tài, tác giả chủ yếu sử dụng khái niệm dân tộc
theo nghĩa hẹp: dân tộc – tộc ngƣời.
1.1.2. Quan niệm mác xít về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc
C.Mác và Ph.Ăng ghen sống trong thời đại tƣ bản chủ nghĩa trƣớc độc
quyền. Quan điểm của Mác, Ăngghen về vấn đề dân tộc thể hiện rõ khi hai
14 ông nghiên cứu phong trào giải phóng dân tộc ở Ba Lan, Airơlan, các nƣớc
vùng Ban Căng và các nƣớc khác, và cũng thể hiện rõ khi hai ông phê phán
các Chính phủ Anh và Nga sa hoàng trong vấn đề Ba Lan cũng nhƣ Airơlan.
Mác và Ăng ghen đã kêu gọi: “Hãy xóa bỏ tình trạng ngƣời bóc lột ngƣời thì
tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối
kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch
giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo” [4,tr.624].
Hai ông đã nêu ra khẩu hiệu nổi tiếng “Vô sản tất cả các nƣớc đoàn kết lại!”.
Từ những luận chứng khoa học về vấn đề dân tộc, Lênin đề ra Cƣơng
lĩnh dân tộc của các Đảng Cộng sản “các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các
dân tộc đƣợc quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại: Đó là
Cƣơng lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới và kinh
nghiệm của nƣớc Nga dạy cho công nhân” [30,tr.375]. Đây là tƣ tƣởng chỉ
đạo, nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin về chính sách dân tộc.
Những quan điểm về vấn đề dân tộc và giải quyết các quan hệ dân tộc
đƣợc Lênin khái quát thành Cƣơng lĩnh chung cho các Đảng mácxít, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn trên phạm vi toàn thế giới , trong từng quốc gia
cũng nhƣ từng dân tộc.
Thực tế, thời đại ngày nay không những không bác bỏ Cƣơng lĩnh dân
tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin, mà ngƣợc lại còn cung cấp thêm sự kiện, con
số để xác nhận sự đúng đắn của Cƣơng lĩnh đó và đòi hỏi chi tiết hóa Cƣơng

luôn là một bộ phận trọng yếu trong chính sách xã hội”.Đồng thời, Đại hội
nhấn mạnh rằng, sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng
cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nƣớc ta. Sau Đại hội VI,
16 trƣớc những yêu cầu đòi hỏi của thực tế vùng dân tộc và miền núi, ngày
27/11/1989, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 22-NQ/TW về một số chủ trƣơng,
chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã góp phần thúc đẩy phát
triển một bƣớc quan trọng kinh tế - xã hội miền núi và các vùng đồng bào dân
tộc thiểu số.
Tình hình thế giới những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
XX có những biến động to lớn.Hệ thống các nƣớc xã hội rơi vào khủng hoảng
sâu sắc và chủ nghĩa sụp đổ gây bất lợi cho phong trào cách mạng thế giới
trong đó có Việt Nam.Trong bối cảnh đó, Đảng ta tiến hành Đại hội lần thứ
VII.Đại hội VII của Đảng đã thông qua Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Lần đầu tiên, chính sách bình đẳng, đoàn
kết, tƣơng trợ giữa các dân tộc đã đƣợc Đảng ta đƣa vào trong Cƣơng lĩnh của
Đảng với tên gọi Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Cƣơng lĩnh ghi rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết,
tƣơng trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên
con đƣờng văn minh tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam”. Trên cơ sở các quan điểm cơ bản của Đảng
về vấn đề dân tộc, Hiến pháp 1992, một lần nữa, khẳng định về quyền bình
đẳng giữa các dân tộc ở nƣớc ta.
Sau 10 năm thực hiện đƣờng lối đổi mới toàn diện và 5 năm thực hiện
Nghị quyết Đại hội VII, đất nƣớc ta đã vƣợt qua một giai đoạn thử thách gay
go, đã có những thay đổi to lớn và sâu sắc so với thời kỳ bắt đầu đổi mới. Đại
hội VIII của Đảng diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa lịch sử đó. Về vấn đề dân
tộc, Đại hội nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lƣợc lớn”. Thực hiện

đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam; 2) Các dân tộc trong đại gia
đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tƣơng trợ, giúp nhau cùng phát triển,
18 cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nƣớc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên
quyết đấu tranh với mọi âm mƣu chia rẽ dân tộc; 3) Phát triển toàn diện chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc
và miền núi; gắn tăng trƣởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực
hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dƣỡng nguồn nhân lực;
chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những
giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát
triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất; 4) Ƣu tiên đầu tƣ
phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trƣớc hết, tập trung
vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có
hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi
trƣờng sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cƣờng của đồng bào các
dân tộc, đồng thời tăng cƣờng sự quan tâm hỗ trợ của Trung ƣơng và sự giúp
đỡ của các địa phƣơng trong cả nƣớc; 5) Công tác dân tộc và thực hiện chính
sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các
ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.
Tiếp tục tƣ tƣởng của Nghị quyết về công tác dân tộc đƣợc thông qua tại
Hội nghị lần thứ bảy, khóa IX, Đại hội X khẳng định: “Vấn đề dân tộc và
đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lƣợc lâu dài trong sự nghiệp cách mạng
nƣớc ta”. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Vấn đề dân tộc tiếp tục đƣợc Đại hội XI của Đảng quan tâm. Báo cáo

là các dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc nhƣng điều đó không có nghĩa là
việc thực hiện chính sách dân tộc là việc riêng của các dân tộc thiểu số mà nó
20 là chính sách chung đối với cả dân tộc thiểu số và dân tộc đa số, nó liên quan
đến tất cả mọi ngƣời, mọi chuyên ngành, mọi cấp từ trung ƣơng đến địa
phƣơng.
Chính sách dân tộc giải quyết mối quan hệ trong cộng đồng dân cƣ đa
dân tộc của một quốc gia theo quan điểm của giai cấp nắm chính quyền.
Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản là một hệ thống các chủ trƣơng, giải
pháp nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, văn hóa, xã hội giữa các
dân tộc, trong đó có sự quan tâm đến các dân tộc thiểu số có trình độ phát
triển kinh tế - xã hội thấp.
Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đảm bảo phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc và bản sắc tốt đẹp của
mỗi dân tộc trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và thực
tiễn Việt Nam.
Chính sách dân tộc có nội dung, nhiệm vụ tƣơng đối rộng và có mối
quan hệ với rất nhiều chính sách khác, lĩnh vực khác. Là một bộ phận trong
hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta, chính sách dân tộc gắn bó hữu
cơ với tất cả các chính sách về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc
phòng, chịu tác động của các chính sách chung, đồng thời nó cũng tác động
trở lại với các chính sách đó.
Từ những quan điểm chung về chính sách dân tộc, Đảng và Nhà nƣớc ta
đã đề ra những chủ trƣơng, chính sách cụ thể cho việc thực hiện chính sách
dân tộc. Những chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đã đƣợc tỉnh
Vĩnh Phúc triển khai thực hiện theo điều kiện của tỉnh.
1.2. Nội dung chính sách dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.1.Đặc điểmchung của tỉnh

39km (Hà Nội, Phú Thọ) đi qua các huyện Mê Linh, Bình Xuyên, Vĩnh Yên,
Tam Dƣơng, Vĩnh Tƣờng; quốc lộ 2B, dài 25km từ Vĩnh Yên đi khu nghỉ mát
Tam Ðảo; quốc lộ 2C, dài 30km (từ phƣờng Ðồng Tâm, thị xã Vĩnh Yên đến
Tuyên Quang) đi qua huyện Tam Dƣơng, huyện Lập Thạch; quốc lộ 2 dài
22 15km (từ thị trấn Phúc Yên đi cầu Thăng Long) đi qua xã Tiền Châu, xã Tiền
Phong, huyện Mê Linh. Ngoài ra, còn có đƣờng sắt dài 41km (Hà Nội - Lào
Cai) đi qua các huyện Mê Linh, Bình Xuyên, Vĩnh Yên, Tam Dƣơng, Vĩnh
Tƣờng. Hệ thống sông ngòi chính nằm trên địa bàn tỉnh gồm có sông Hồng
chảy Bạch Hạc (TP Việt Trì) qua huyện Vĩnh Tƣờng, Yên Lạc đến xã Tráng
Việt (huyện Mê Linh) dài 41km.
- Về địa hình
Vùng núi có diện tích 549,92 km2, chiếm 40,1% diện tích tự nhiên toàn
tỉnh; vùng trung du có diện tích 320,88km2, chiếm 23,4% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh; vùng đồng bằng có diện tích 500,68km2, chiếm 35,65% diện tích tự
nhiên toàn tỉnh. Ðiểm cao nhất là đỉnh núi giữa của Tam Ðảo cao 1.542m,
điểm thấp nhất là vùng đồng bằng (xã Trung Hoà, huyện Yên Lạc) cao 15m.
Ðộ cao trung bình là 42m so với mặt nƣớc biển.
- Về khí hậu
Mang khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt. Mƣa bão tập trung vào
các tháng 5 - 8 hàng năm với lƣợng mƣa trung bình hàng năm là 1.556,98
mm. Tần suất lũ lụt, lũ quét thƣờng xảy ra vào tháng 4 - 9; các hiện tƣợng gió
lốc, mƣa đá thƣờng xảy ra cục bộ ở các huyện Lập Thạch, Vĩnh Tƣờng, Yên
Lạc, Tam Dƣơng, gây đổ nhà cửa , cây cối, phá hoại cây màu, ảnh hƣởng
nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Nhiệt độ cao trung bình
hàng năm là 24,90C, trung bình thấp là 17,90C.
- Tài nguyên đất
Tỉnh Vĩnh Phúc có 219.200 ha diện tích đất tự nhiên. Trong đó: Diện

24 nƣớc tiến hành xây dựng chính quyền mới. Sản xuất nông nghiệp ở Vĩnh
Phúc trong thời kỳ này đã có những bƣớc phát triển đáng kể.Tuy nhiên, do
hậu quả chiến tranh, cộng với thiên tai địch họa đã gây không ít khó khăn, cản
trở việc phục hồi kinh tế, phát triển sản xuất. Đồng thời, cơ chế tập trung,
quan liêu, bao cấp ngày càng tỏ ra không còn thích hợp, và đã trở thành một
trong những lực cản lớn đối với việc thực hiện các nỗ lực phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh cũng nhƣ của cả nƣớc.
Từ năm 1954 đến năm 1975: Từ cuối năm 1954, cùng với việc khắc
phục hậu quả chiến tranh, tỉnh Vĩnh Phúc tích cực khôi phục kinh tế, tập trung
phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp, đồng thời chú trọng phát triển
công - thƣơng nghiệp. Song song với quá trình phục hồi kinh tế, Vĩnh Phúc đã
tiến hành thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công - thƣơng nghiệp, đặc
biệt là sau thắng lợi của cải cách ruộng đất .công tác khai hoang phục hóa
cũng đƣợc đẩy mạnh.
Từ năm 1975 đến năm 1996: Đây là giai đoạn nhân dân Vĩnh Phúc bắt
tay vào xây dựng quê hƣơng, cùng cả nƣớc xây dựng cơ sở vật chất cho nền
sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đất nƣớc thống nhất. Tuy nhiên,
do hậu quả chiến tranh, cộng với thiên tai địch họa đã gây không ít khó khăn,
cản trở việc phục hồi kinh tế, phát triển sản xuất. Đồng thời, cơ chế tập trung,
quan liêu, bao cấp ngày càng tỏ ra không còn thích hợp, và đã trở thành một
trong những lực cản lớn đối với việc thực hiện các nỗ lực phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh cũng nhƣ của cả nƣớc
Tuy cơ chế quản lý và kết quả phát triển kinh tế có biến chuyển nhƣng
đây là thời kỳ nền kinh tế nƣớc ta nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng lâm
vào khủng hoảng, kinh tế tập thể và kinh tế nhà nƣớc gặp nhiều khó khăn,
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status