Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THÀNH MINH

ĐỔI MỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2010 0
MỤC LỤC
Trang
Mở ĐầU 0
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài 3
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn 9
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 9
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu 9
6. Đóng góp mới của luận văn 10
7. Kết cấu của luận văn 10
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về chính sách dân tộc và sự cần thiết
phảI đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc 11
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc và chính sách dân tộc 11
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về chính sách dân tộc 27
1.3. Sự cần thiết phải đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc và khái
quát quá trình đổi mới thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
ta 35
Chương 2. THực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện chính sách
dân tộc ở tỉnh thừa thiên huế 43
2.1. Đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội, văn hóa và mối quan hệ

có sự lãnh đạo của Đảng.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã coi việc vận động đồng bào các dân
tộc thiểu số như một trong những công tác quan trọng có ý nghĩa chiến lược.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I (3-1935) đã xác định: “Trung
ương, các xứ ủy và các tỉnh ủy (trong những tỉnh có dân tộc thiểu số) phải
cử ra một số người chuyên môn nghiên cứu và chỉ đạo công tác vận động
các dân tộc thiểu số ”[22, tr.74]. Cách mạng Tháng Tám thành công, dưới
điều kiện mới là một nước Việt Nam độc lập, công tác dân tộc đã được
Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ Tịch đặc biệt quan tâm. Ngày 9- 9 - 1946,
Chính phủ ra nghị định số 359 thành lập nha dân tộc thiểu số để nghiên cứu
và giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến công tác dân tộc trên toàn đất
nước. Từ đó đến nay, vấn đề dân tộc nói chung và dân tộc thiểu số nói 2
riêng luôn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong các quyết sách của Đảng
và Nhà nước ta. Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta
đã nêu rõ “vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược, cơ
bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng ”[21, tr.121]
Trong những thắng lợi vĩ đại của lịch sử dân tộc dưới sự lãnh đạo của
Đảng, cùng với cả nước, đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những đóng góp
cực kỳ to lớn. Vùng đồng bào các dân tộc là cái nôi của những căn cứ cách
mạng, của chiến khu xưa, là bàn đạp cho những cuộc tiến công và nổi dậy
đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Ngày nay, đất nước đã có những bước chuyển
biến to lớn và vươn lên mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới, vùng miền núi và
đồng bào các dân tộc thiểu số đã và đang tạo ra thế chiến lược lâu dài cho sự
tăng trưởng kinh tế - xã hội, là lá chắn vững chắc cho sự nghiệp giữ vững nền
độc lập dân tộc. Bên cạnh những thành tựu phát triển to lớn của đất nước,
đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi, ở các vùng sâu, vùng xa vẫn còn
tình trạng nghèo khó, bệnh tật và thất học Thực trạng đó đòi hỏi cần phải đổi

biến hòa bình”, xuyên tạc chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước
ta, gây mất trật tự an ninh trên địa bàn tỉnh.
Trước tình hình trên, vấn đề đặt ra là phải thực hiện những chính sách
thích hợp nhằm phát huy tối đa thế mạnh của đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh
Thừa Thiên Huế, đưa đồng bào ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, vững
bước đi lên cùng với các dân tộc anh em khác trên địa bàn tỉnh cũng như cả
nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì vậy, tác giả chọn đề tài
“Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc ở Tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai
đoạn hiện nay” làm luận văn thạc sỹ triết học chuyên ngành chủ nghĩa xã hội
khoa học. Đây là đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc là một trong những 4
nội dung có ý nghĩa chiến lược trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Đây còn là vấn đề thực tiễn nóng bỏng đòi hỏi phải giải quyết một
cách khoa học, đúng đắn và thận trọng. Vì thế, trong những năm vừa qua vấn
đề dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm cụ thể hóa bằng
các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; bằng hệ thống pháp luật của Nhà nước. Trên
tinh thần đó, các nhà nghiên cứu đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa
học, những đề tài, bài báo khoa học tập trung vào vấn đề dân tộc và việc thực
hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta như:
- Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Việt Nam,
Ủy ban dân tộc và miền núi, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996. Đề tài đã nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc và chỉ ra những phương hướng giải quyết vấn đề dân tộc
theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- 50 năm công tác dân tộc 1946 - 1996, Ủy ban dân tộc và miền núi,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997. Bằng nhiều hình ảnh và tư liệu quý

chính sách dân tộc thuộc ủy ban dân tộc, Hà Nội, 2005. Với mười chuyên đề
được trình bày một cách khoa học, cuốn sách là tài liệu tham khảo bổ ích cho
cán bộ bảo vệ môi trường công tác trong lĩnh vực dân tộc và miền núi. Tác
phẩm chủ yếu đi vào phân tích những vấn đề về môi trường, vai trò của việc
bảo vệ môi trường ở vùng dân tộc và miền núi, thực trạng môi trường ở vùng
dân tộc và miền núi, đề xuất các giải pháp khoa học nhằm bảo vệ môi trường
và phát triển bền vững ở vùng dân tộc và miền núi.
- Một số vấn đề dân tộc và phát triển, PGS,TS Lê Ngọc Thắng, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005. Tác phấm chủ yếu đề cập đến một số nội
dung về vấn đề lý luận, chính sách dân tộc; các vấn đề về phát triển kinh tế,
bảo tồn và phát huy các bản sắc văn hóa, ổn định xã hội của vùng dân tộc và
miền núi; đổi mới nội dung và phương thức công tác dân tộc; vai trò của 6
nghiên cứu khoa học đối với công tác dân tộc; phát triển bền vững và bảo vệ
môi trường ở vùng dân tộc và miền núi. Tác phẩm mang lại những gợi ý quan
trọng về hệ thống các vấn đề thuộc nội dung công tác dân tộc hiện nay.
- Giải pháp cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số, Viện
dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006. Với hai nhóm nội dung cơ bản:
1, Nhóm nội dung mang tính tổng quan về lý thuyết và định hướng chính
sách; 2, Nhóm nội dung đề cập các giải pháp cụ thể trong các lĩnh vực: sản
xuất nông nghiệp, chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo và sự dụng cán
bộ, chính sách tái định cư, đa dạng hóa thu nhập của đồng bào dân tộc và
miền núi. Cuốn sách đã đề cập đến các vấn đề liên quan trực tiếp và gián tiếp,
trước mắt và lâu dài nhằm góp phần tìm ra các giải pháp hữu hiệu, thiết thực,
phù hợp nhằm cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
- Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam, ủy
ban dân tộc, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2006. Tác phẩm chủ yếu đi sâu
vào nghiên cứu vấn đề phát triển bền vững ở vùng dân tộc thiểu số và vùng

2005. Tác phẩm chủ yếu đề cập đến những nội dung chủ yếu trong công tác
dân tộc ở tỉnh Thừa Thiên Huế và trang bị cho cán bộ làm công tác dân tộc
những kỹ năng cần thiết nhằm thực hiện tốt trách nhiệm của mình.
- Đồng bào các dân tộc thiểu số Thừa Thiên Huế mang họ Hồ của chủ
tịch Hồ Chí Minh của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, năm 2004. Đây là tập hợp
những bài viết của các tác giả nghiên cứu về đồng bào dân tộc ít người tỉnh
Thừa Thiên Huế mang họ Hồ trong đó chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu lịch sử,
ý nghĩa của sự kiện đồng bào các dân tộc thiểu số Thừa Thiên Huế mang họ
Hồ và vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số mang họ Hồ ở tỉnh Thừa Thiên
Huế đối với cách mạng Việt Nam.
- Góp phần tìm hiểu văn hóa dân gian dân tộc Tà - Ôi A Lưới - Thừa 8
Thiên Huế của tác giả Trần Hoàng và Nguyễn Thị Sửu, Nxb Văn hóa dân tộc,
Hà Nội, 2003. Tác phẩm chủ yếu tìm hiểu những nét văn hóa đặc sắc của dân
tộc Tà - Ôi ở huyện A Lưới - tỉnh Thừa Thiên Huế được thể hiện qua kiến
trúc nhà ở, trang phục, các món ăn dân tộc, những lễ hội hàng năm và các tục
lệ của người Tà - Ôi.
Ngoài ra còn có một số luận văn, luận án nghiên cứu về vấn đề dân
tộc như: “Đổi mới chính sách của Đảng, nhà nước trong đào tạo, sử dụng
đội ngũ cán bộ dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” của tác giả Lô
Quốc Toản ( năm 1993). “Đổi mới thực hiện chính sách dân tộc trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (từ thực tiễn các tỉnh miền núi
phía Bắc)” của tác giả Nguyễn Thị Phương Thủy (năm 2001). Hai luận văn
này sau khi bảo vệ thành công đã được các tác giả phát triên nghiên cứu và
bảo vệ thành công ở mức luận án tiến sĩ triết học. Luận văn của thạc sỹ Lô
Quốc Toản được kế thừa nghiên cứu và nâng cao trong luận án tiến sỹ:
"Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc
nước ta hiện nay"(2009). Luận văn của thạc sỹ Nguyễn Thị Phương Thủy

tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến chính sách dân tộc
và việc thực hiện chính sách dân tộc.
- Đánh giá, phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách dân tộc và yêu cầu
đặt ra đối với việc đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Thừa Thiên
Huế.
- Đề xuất và luận giải những quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm đổi mới
việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu 10
- Cơ sở lý luận và thực tiễn
+ Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc.
+ Cơ sở thực tiễn của luận văn là thực trạng đời sống kinh tế - xã hội và
văn hóa của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và việc triển khai thực hiện các
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lôgic - lịch sử, tổng hợp, phân tích tài
liệu, khảo sát thực tế, điều tra xã hội học,v.v
6. Đóng góp mới của luận văn
- Trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luận
văn đánh giá khách quan khoa học thực trạng việc thực hiện chính sách dân tộc và
yêu cầu phải đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất những giải pháp cơ
bản nhằm đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Thừa Thiên Huế
trong giai đoạn hiện nay.

đề dân tộc làm cơ sở, định hướng cho việc giải quyết vấn đề dân tộc trong
thời đại tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, cả C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin
đều chưa đưa ra một định nghĩa đầy đủ về dân tộc.
C.Mác và Ph.Ăngghen luôn quan tâm đến vấn đề dân tộc và gắn vấn
đề dân tộc với vấn đề giai cấp. Trong đó vấn đề công bằng và bình đẳng
giữa các dân tộc được nêu lên như là một yếu tố tiên quyết khi giải quyết
vấn đề dân tộc. Hai ông đã nhiều lần nhấn mạnh rằng quan hệ dân tộc là quan
hệ hết sức phức tạp, khi xem xét giải quyết nó cần phải có quan điểm lịch sử 12
cụ thể. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”(1848), C.Mác và
Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai
cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc,
nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”[34, tr.93] và các ông đã
đặt ra yêu cầu đối với giai cấp công nhân mỗi nước: “ giai cấp vô sản mỗi
nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải vươn lên thành giai cấp dân
tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”[34, tr.105].
Trong việc giải quyết những quan hệ cơ bản của dân tộc hình thành cùng
với sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã đề cập đến công bằng bình đẳng giữa các dân tộc, tộc
người trong mối quan hệ với vấn đề giai cấp trong xã hội và hai ông đã nhất
trí cho rằng vấn đề công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc chỉ được thực hiện
khi thủ tiêu mọi áp bức giai cấp. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ “Khi mà sự
đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù
địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”[34, tr.106]. Từ đó, hai ông
khẳng định “Hãy xóa bỏ tình trạng bóc lột người thì tình trạng dân tộc này
bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ”[34, tr.106].
Như vậy, ngay từ khi chủ nghĩa Mác ra đời, vấn đề dân tộc đã được đặt
lên vị trí trung tâm trong chiến lược đấu tranh của giai cấp công nhân. Cùng

được pháp luật bảo vệ và được thể hiện sinh động trong thực tế. Phấn đấu để
xóa đi khoảng cách, sự chênh lệch về kinh tế, trình độ phát triển giữa các dân
tộc trong quốc gia có ý nghĩa rất quan trọng.
Trên bình diện quốc tế, bình đẳng dân tộc trong giai đoạn hiện nay gắn
liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa
sôvanh, gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại áp bức bóc lột của các nước tư
bản đối với các nước chậm phát triển và cả các nước thuộc địa, phụ thuộc.
Điều này đòi hỏi trước hết phải thủ tiêu tình trạng giai cấp này áp bức giai cấp 14
khác để trên cơ sở đó, xoá bỏ tình trạng dân tộc này nô dịch dân tộc khác, tạo
điều kiện để các dân tộc giúp đỡ nhau phát triển trên con đường tiến bộ.
Bình đẳng giữa các dân tộc trước hết phải trên phương diện kinh tế. Giải
quyết những mối quan hệ dân tộc đều phải đặt trong mối quan hệ về lợi ích
kinh tế. Ở phương diện này, bình đẳng dân tộc phụ thuộc và sự đồng đều về
trình độ phát triển kinh tế của các dân tộc, cốt lõi là sự phát triển đồng đều về
lực lượng sản xuất. Bất cứ đặc quyền nào dành riêng cho các dân tộc đều dẫn
đến sự vi phạm lợi ích của các dân tộc khác, dẫn đến sự bất bình đẳng dân tộc.
Bình đẳng về kinh tế là điều kiện thiết yếu để các dân tộc trong một quốc gia
đa dân tộc thực hiện sự đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển.
Bên cạnh bình đẳng về kinh tế thì bình đẳng về chính trị là quyền thiêng
liêng của mỗi dân tộc. Đối với các dân tộc bị áp bức, thuộc địa, phụ thuộc thì
việc đấu tranh giành quyền bình đẳng về chính trị là điều kiện để thực hiện
quyền bình đẳng của mình trên các phương diện khác của đời sống xã hội.
Lênin đã chỉ rõ vấn đề bình đẳng về chính trị liên quan đến quyền tự quyết dân
tộc. Nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề bình đẳng chính trị và quyền tự
quyết trong các quốc gia cụ thể nhất là các quốc gia đa dân tộc là vấn đề đặc
biệt quan trọng đối với giai cấp vô sản và những người mácxít chân chính. Mọi
biểu hiện của tư tưởng dân tộc cực đoan, sự kỳ thị, phân biệt, đối xử bất bình

phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ. Nói một cách cụ thể, yêu
sách đòi dân chủ chính trị đó có nghĩa là hoàn toàn tự do tuyên truyền cho
việc phân lập và có nghĩa là giải quyết vấn đề phân lập bằng con đường trưng
cầu dân ý trong dân tộc muốn phân lập. Như vậy là yêu sách đó hoàn toàn
không đồng nghĩa với yêu sách đòi phân lập, phân tán thành lập những quốc
gia nhỏ. Nó chỉ là biểu hiện triệt để của cuộc đấu tranh chống mọi áp bức dân
tộc” [30, tr.327]. Bên cạch đó, Lênin cũng khẳng định quyền tự quyết còn bao
gồm cả quyền tự nguyện liên hiệp lại với các dân tộc khác khi có điều kiện và 16
trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi để đủ sức mạnh chống lại các nguy cơ xâm
lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và tận dụng những thuận lợi
để phát triển quốc gia - dân tộc. Lênin cũng chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa xã hội
mới tạo điều kiện để cho các dân tộc thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Người
viết, “Chủ nghĩa xã hội có mục đích không những xóa bỏ tình trạng nhân loại
bị chia thành những quốc gia nhỏ và xóa bỏ mọi trạng thái biệt lập giữa các
dân tộc, không những làm cho các dân tộc gần gũi nhau, mà cũng nhằm thực
hiện việc hợp nhất các dân tộc lại…Nhân loại chỉ có thể trải qua thời kỳ quá độ
của chuyên chính của giai cấp bị áp bức, mới có thể xóa bỏ các giai cấp, cũng
giống như vậy, nhân loại chỉ có thể trải qua thời kỳ quá độ hoàn toàn giải
phóng tất cả các dân tộc bị áp bức, nghĩa là thời kỳ các dân tộc được tự do phân
lập, thì mới có thể đạt tới sự hợp tác tất nhiên giữa các dân tộc”[30, tr.328].
Quyền tự quyết trong cương lĩnh dân tộc của Lênin có ý nghĩa sâu sắc.
Đây là quyền cơ bản của dân tộc. Nó là cơ sở để xoá bỏ sự hiềm khích, thù
hằn giữa các dân tộc; đảm bảo sự tồn tại, phát triển độc lập cho các dân tộc;
phát huy tiềm năng của các dân tộc vào sự phát triển chung của nhân loại.
+ Liên hiệp công nhân các dân tộc lại
Theo Lênin thì đoàn kết công nhân tất cả các dân tộc lại chính là điều
kiện thực hiện tốt các quan hệ dân tộc, thực hiện quyền bình đẳng và quyền

tr.357]. Định nghĩa dân tộc của Xtalin đã đưa ra được các tiêu chí để nhận
biết, đã nhấn mạnh rằng, nói đến dân tộc là nói đến những cộng đồng người
thống nhất, ổn định, bền vững so với cộng đồng bộ tộc. Nếu so sánh với
những quan niệm trước đó, định nghĩa dân tộc của Xtalin đã có nhiều nét mới
tiến bộ. Vì thế, một thời gian dài ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa xem định
nghĩa trên của Xtalin như là một định nghĩa kinh điển về dân tộc. Tuy nhiên,
từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX trở lại đây, định nghĩa trên về dân tộc của Xtalin
đã trở nên lỗi thời và ảnh hưởng của nó cũng giảm dần trong giới khoa học do 18
những hạn chế được phát hiện ra trong thực tiễn giải quyết vấn đề dân tộc.
Thứ nhất, định nghĩa trên của Xtalin chưa đưa ra một tiêu chí rõ ràng để
phân biệt khái niệm dân tộc trong quốc gia dân tộc với khái niệm tộc người.
Xtalin khẳng định phải có đủ bốn nhân tố (ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế, văn
hóa) mới hình thành dân tộc. Tuy nhiên, trong thực tế có những cộng đồng
chưa hội tụ cả bốn nhân tố nhưng cộng đồng đó vẫn xứng đáng là dân tộc.
Định nghĩa trên của Xtalin chỉ phù hợp với dân tộc - quốc gia mà thôi.
Thứ hai, từ định nghĩa trên của mình đi đến việc Xtalin phủ nhận các
hình thức dân tộc tiền tư bản chủ nghĩa. Ông cho rằng cộng đồng quốc gia
tiền tư bản chủ nghĩa là bộ lạc, bộ tộc tương ứng với xã hội nguyên thủy và xã
hội có giai cấp của thời kỳ nông nghiệp. Điều này chỉ đúng ở các quốc gia
Châu Âu. Việc không thừa nhận sự tồn tại của các dân tộc trước chủ nghĩa tư
bản là một hạn chế, không đúng với thực tế lịch sử đặc biệt là lịch sử hình
thành của các dân tộc Châu Á trong đó có Việt Nam.
Thứ ba, từ việc đề cập nhiều đến cộng đồng dân tộc theo nghĩa quốc gia
nên dẫn đến việc Xtalin chỉ chú ý nhiều đến những cộng đồng chủ thể trong
một quốc gia; những cộng đồng có quy mô và sức mạnh thật sự để có thể trở
thành một quốc gia hoặc có điều kiện trong việc liên minh với các cộng đồng
khác để trở thành một quốc gia trong khi thực tế vẫn có nhiều cộng đồng bé

nhiều ngôn ngữ, yếu tố văn hóa thậm chí nhiều chủng tộc khác nhau. Ngày
nay, do không gian xã hội được mở rộng mang tính toàn cầu, do phương tiện
đi lại, mỗi cộng đồng dân tộc ngày lại có thêm nhiều bộ phận của các cộng
đồng dân tộc người tham gia, nên tình trạng dân tộc đa dân tộc là phổ biến. 2.
Dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người, ví dụ
dân tộc Tày, dân tộc Bana… Cộng đồng có thể là một bộ phận chủ thể hay
thiểu số của một dân tộc(nation) sinh sống ở nhiều quốc gia, dân tộc khác 20
nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm về ngôn ngữ, văn hóa và
nhất là ý thức tự giác tộc người.”[26, Tr.655]
- Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học viết: “Dân tộc. 1. Tên gọi
các cộng đồng người hình thành trong lịch sử ở những giai đoạn phát triển
khác nhau: dân tộc Kinh, dân tộc Tày, đoàn kết các dân tộc anh em. 2. Tên
gọi những cộng đồng người có chung một ngôn ngữ, một lãnh thổ, một nền
kinh tế và một truyền thống văn hóa: dân tộc Việt Nam luôn yêu chuộng hòa
bình, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. 3. dân tộc thiểu số: học sinh người
dân tộc, chính sách của nhà nước đối với đồng bào dân tộc.” [56, Tr.398]
- Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Dân tộc. 1. Cộng đồng người ổn
định hình thành trong quá trình lịch sử của xã hội có chung tiếng nói, lãnh
thổ, đời sống kinh tế và tâm lý: đoàn kết dân tộc. 2. Dân tộc thiểu số, nói tắt:
ưu tiên học sinh dân tộc, cán bộ dân tộc. 3. Cộng đồng người ổn định hình
thành nhân dân một nước, một quốc gia gắn bó với nhau trong truyền thống,
nghĩa vụ và quyền lợi: dân tộc Việt Nam.”[67, Tr. 520]
Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học của Hội đồng Trung ương chỉ đạo
biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh viết: “Hiện nay khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa, trong
đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:
- Chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung

và thực tiễn. Đây là sai lầm cần khắc phục đối với những nghiên cứu về vấn
đề dân tộc.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và việc thực hiện
chính sách dân tộc ở Việt Nam
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến chính
sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Bác đã xác định: “chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước ta là: các dân tộc đều bình đẳng và đoàn kết chặt chẽ, thương 22
yêu giúp đỡ nhau như anh em. Đồng bào miền xuôi phải ra sức giúp đỡ đồng bào
miền ngược cùng tiến bộ về mọi mặt”[38, 639]. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc và chính sách dân tộc bao gồm những nội dung cơ bản sau:
+ Chính sách dân tộc phải hướng đến đoàn kết toàn dân tộc. Đây là mục
tiêu, nhiệm vụ hàng đầu, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thành
công của cách mạng Việt Nam.
Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết toàn dân tộc là đoàn kết “mọi con dân Việt
Nam”, “mỗi một người con rồng cháu tiên”, không phân biệt già, trẻ, gái trai,
giàu nghèo quý tiện, không phân biệt thiểu số hay đa số. Trong đó, Bác đã dành
sự quan tâm đặc biệt đến những dân tộc thiểu số. Người đánh giá rất cao vai
trò, vị trí của các dân tộc thiểu số và miền núi trong sự nghiệp chung của đất
nước. Vì thế, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã chỉ đạo
thành lập Nha Dân tộc thiểu số để nghiên cứu giải quyết các vấn đề, chính sách
đối với đồng bào các dân tộc thiểu số trên toàn quốc. Ngày 19/4/1946, Chủ tịch
Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về Dự án ngân sách lương thực
của quân đội, vấn đề lập Nha Dân tộc thiểu số và vấn đề tài chính. Cùng ngày,
Người đã gửi thư cho đồng bào dân tộc thiểu số Miền Nam nhân Đại hội các
dân tộc thiểu số Miền Nam tại Plâycu, trong thư Bác đã chỉ rõ: “Đồng bào
Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các
dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status