Cải cách thủ tục Hải quan qua thực tiễn tại tỉnh
Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay
Lê Chí Hồng
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Phạm Hồng Thái
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Phân tích thực trạng thủ tục hải quan nói chung và công tác cải cách thủ tục
Hải quan nói riêng của ngành Hải quan và tại Cục Hải quan Thừa Thiên Huế, các ưu
điểm, hạn chế hiện nay cũng như các nguyên nhân của các ưu điểm và hạn chế đó. Đề
xuất những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả công tác cải cách thủ tục Hải quan
trong giai đoạn hiện nay tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế.
Keywords: Pháp luật Việt Nam; Cải cách hành chính; Thủ tục hành chính; Hải quan
Content
Mở đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn một thập kỷ qua, toàn cầu hoá và các hiệp định tự do thương mại đã làm cho
kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của mỗi quốc gia tăng lên nhanh chóng. Bên cạnh việc hàng
rào thuế quan được giảm dần theo lộ trình cam kết thì việc xuất hiện các hình thức bảo hộ mới
như hàng rào kỹ thuật, vệ sinh an toàn, môi trường, chống bán phá giá, độc quyền đối với các
nước lớn ngày càng gia tăng và mâu thuẫn sâu sắc.
Với những nỗ lực không ngừng, Hải quan Việt Nam nói chung, Cục Hải quan Thừa Thiên
Huế nói riêng đã thực hiện các chương trình cải tiến quy trình thủ tục Hải quan truyền thống và
đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên, trước sự thay đổi sâu sắc của tình hình thế
giới và trong nước, đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, phương tiện vận tải và hành khách xuất nhập
- Một số giải pháp ứng dụng tin học vào quản lý hành chính ngành hải quan giai
đoạn 2002-2005. Nguyễn Hồng Sơn – Luận văn Thạc sỹ 2002
- Kiểm toán Hải quan – Công cụ chống gian lận thương mại. Mai Thị Hoàng Minh –
Công trình NCKH 2005
Tuy nhiên những nghiên cứu, tư liệu này chỉ mới nêu ra một số ý tưởng, chưa nghiên
cứu tập trung hoặc chỉ đưa ra mô hình cải cách của một số quốc gia có một số điều kiện chưa
thực sự phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Chính vì vậy, những thông tin trong đề tài này là
thông tin được cập nhật mới đến thời điểm nghiên cứu. Đó là kết quả nghiên cứu, tổng hợp, phân
tích từ nhiều nguồn thông tin, tư liệu khác nhau, mang tính khoa học và chính xác cao.
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung quản lý nhà nước về hải quan, những
quy định của WTO liên quan, đánh giá tình hình quản lý nhà nước về hải quan ở Việt Nam trong
thời gian qua, dự đoán những xu hướng vận động liên quan ở Việt Nam trong thời gian tới từ đó
đề ra những giải pháp mang tính đồng bộ, lâu dài cho hoạt động cải cách thủ tục hải quan ở Việt
Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng trong thời gian tới đáp ứng được xu thế phát
triển trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các
thủ tục Hải quan để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập
khẩu, xuất nhập cảnh và bảo đảm yêu cầu quản lý.
4- Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác cải cách thủ tục Hải quan qua thực tiễn tại tỉnh Thừa
Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận thủ tục Hải quan và cải cách thủ tục Hải quan trong giai đoạn
hiện nay.
+ Đánh giá và phân tích nhứng thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong công tác cải cách
thủ tục Hải quan tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
+ Đề xuất quan điểm đóng góp của tác giả về một số vấn đề trong thực hiện cách thủ tục
Hải quan tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
5- Phương pháp nghiên cứu:
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ HẢI QUAN VÀ YÊU CẦU CẢI CÁCH THỦ TỤC HẢI QUAN TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1- Khái niệm về Hải quan và thủ tục Hải quan
1.1.1- Khái quát chung về Hải quan.
- Sự ra đời và phát triển của Hải quan Việt Nam.
“Hải quan” là cụm từ được phiên dịch từ chữ Hán, theo khái niệm này Hải quan là cơ quan
Nhà nước phụ trách việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hoá, vật phẩm và phương tiện vận tải
được phép đưa vào, đưa ra khỏi lãnh thổ quốc gia, và thu thuế quan các loại động sản này.
Tuỳ theo tình hình chính trị, hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội và mối quan hệ
quốc tế của mỗi nước, mỗi khu vực trong từng thời kỳ mà chức năng nhiệm vụ, hình thức tổ
chức, tên gọi, phạm vi địa bàn hoạt động, vị trí trong hệ thống bộ máy Nhà nước có thể khác
nhau, nhưng xét về tính chất cơ bản, Hải quan các nước đều có vai trò quan trọng như nhau : Đó
là binh chủng đặc biệt gác cửa đất nước về kinh tế, gắn liền với hoạt động đối ngoại, kinh tế đối
ngoại và an ninh quốc gia.
Trải qua từng giai đoạn cách mạng, ngành Hải quan đã không ngừng phát triển, đảm bảo
đáp ứng yêu cầu các nhiệm vụ quản lý, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
- Hải quan Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống
nhất đất nước.
Nhiệm vụ của ngành Hải quan là cùng với cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,
đấu tranh chống đế quốc Mỹ giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước. Để đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ mới, tháng 10 năm 1954 Hội đồng Chính phủ đã quyết định giao Bộ Công Thương
quản lý hoạt động ngoại thương và thành lập Sở Hải quan thuộc Bộ Công Thương.
Ngày 27/2/1960, Chính phủ ban hành Nghị định 03/CP ban hành điều lệ Hải quan, đây là
văn bản pháp quy tương đối hòan chỉnh đầu tiên về các luật lệ, thủ tục Hải quan, được Nhà nước
công bố và xác định lực lượng Hải quan là “công cụ” đảm bảo thực hiện đúng chế độ Nhà nước
độc quyền ngoại thương, ngoại hối, thi hành chính sách thuế quan, tiếp nhận hàng viện trợ và
Hải quan Việt Nam có hai chức năng cơ bản là chức năng quản lý Nhà nước về Hải quan
và chức năng chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
Hai chức năng này là hai mặt của vấn đề thuộc quyền lực Nhà nước về Hải quan để bảo vệ
lợi ích, chủ quyền và an ninh quốc gia trong hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại. Do đó, hai
chức năng này có mối quan hệ tương hỗ và tạo nên sức mạnh tổng hợp thuộc quyền lực của Hải
quan Việt Nam, được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Hải quan Việt Nam
Điều 11 - Luật Hải quan quy định rõ: “Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm
tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng
hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý Nhà nước về
Hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách
thuế đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu”.
1.1.2- Khái niệm thủ tục Hải quan
- Khái niệm chung về hành chính Hải quan
Hải quan là một bộ phận của nền hành chính quốc gia, bao gồm hệ thống thực thi quyền
hành pháp, là công cụ của hành pháp, quản lý một lĩnh vực xã hội - lĩnh vực Hải quan, trên cơ sở
thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về Hải quan.
Hành chính Hải quan được thể hiện trên các phương diện:
+ Thể chế hành chính Hải
+ Hệ thống thiết chế bộ máy Hải
+ Hệ thống nhân sự Hải quan
Ở nước ta, hệ thống hành chính Hải quan bao gồm từ hệ thống thể chế hành chính, đến hệ
thống thiết chế bộ máy và hệ thống nhân sự, là công cụ đắc lực bảo vệ cho đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của Quốc hội và hệ thống văn bản pháp quy của
Chính phủ về phát triển kinh tế- xã hội nói chung, về đối ngoại, kinh tế đối ngoại và an ninh
quốc gia nói riêng, được thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho đất nước và cho nhân dân, đóng góp
ngày càng quan trọng trong việc đem lại lợi ích cho cả cộng đồng quốc tế.
- Khái niệm thủ tục Hải quan
Khoản 6, điều 4 - Luật Hải quan nêu rõ: “Thủ tục Hải quan là các công việc mà người
đồng doanh nghiệp.
1.2.3- Những loại thủ tục Hải quan:
* Đối với hàng hoá:
- Thủ tục Hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu thương mại
- Thủ tục Hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu đầu tư, tạo tài sản cố định.
- Thủ tục Hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo hình thức gia công.
- Thủ tục Hải quan đối với hàng hoá tạm xuất - tái nhập, tạm nhập - tái xuất
- Thủ tục Hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu chuyển cửa khẩu
- Thủ tục Hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại chỗ
- Thủ tục Hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu.
- Thủ tục Hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu phi mậu dịch
- Thủ tục Hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu ra vào kho ngoại quan, kho bảo thuế
- Thủ tục Hải quan đối với hàng hoá quá cảnh
* Đối với phương tiện vận tải:
- Thủ tục Hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh (đường bộ, đường
biển, đường không).
- Thủ tục Hải quan đối với phương tiện vận tải quá cảnh (đường bộ).
- Thủ tục Hải quan đối với phương tiện vận tải chuyển cảng (đường biển)
1.3- Nội dung của cải cách thủ tục Hải quan
1.3.1 Mục tiêu của cải cách thủ tục Hải quan:
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan nhằm nâng cao
năng lực quản lý và chất lượng phục vụ của cơ quan Hải quan, bên cạnh việc giải quyết các mâu
thuẫn trong quá trình tác nghiệp của ngành Hải quan với sự gia tăng không ngừng của khối
lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải và người xuất nhập cảnh, sự đa dạng hoạt
động thương mại quốc tế, giúp cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế
thế giới.
Đồng thời, thông qua việc cải cách thủ tục Hải quan cũng sẽ tạo thuận lợi, thông thoáng
hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch, góp phần nâng cao nâng cao vị thế của ngành
Hải quan cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp.
Đối với nghiệp vụ Hải quan, thì cải cách thủ tục hành chính trọng tâm là cải cách thủ tục
- Tự động hóa quy trình thủ tục Hải quan và các công việc có liên quan đến nghiệp vụ
Hải quan
Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH
VỰC HẢI QUAN
2.1- Thực trạng công tác cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam hiện nay:
2.1.1- Đánh giá chung
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế chung của cả nước, ngành Hải quan đã chủ động và tích
cực phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan xác định rõ vai trò trách nhiệm của ngành trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước về Hải quan, trực tiếp làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hàng hóa XNK, đấu tranh chống
buôn lậu và gian lận thương mại, thu thuế xuất nhập khẩu
Hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế của ngành Hải quan đã và đang có nhiều biến
chuyển tích cực, đạt được những kết quả đáng khích lệ trong hội nhập với các tổ chức quốc tế và
khu vực; tranh thủ được sự ủng hộ giúp đỡ của Hải quan nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế,
góp phần đẩy mạnh cải cách và hiện đại hóa ngành Hải quan, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính
trị của ngành, trong đó có việc hoàn thành xây dựng Luật Hải quan dựa trên tiêu chuẩn và thông
lệ quốc tế.
2.1.2- Cải tiến qui trình thủ tục Hải quan
- Thực trạng chung về cải tiến qui trình thủ tục
Trước đây, quy trình thủ tục Hải quan được thực hiện theo các quy định tại Nghị định
171/HĐBT ngày 27/5/1991, để triển khai Nghị định này từ năm 1994-1998, Tổng cụ Hải quan đã
ban hành nhiều văn bản quy định trình tự thủ tục Hải quan như: quy trình thủ tục Hải quan với
hàng hóa XNK mậu dịch ban hành kèm theo Quyết định 258/QĐ-TCHQ ngày 16/12/1994, quy
trình thủ tục Hải quan với hàng hóa XNK theo tiểu ngạch ban hành kềm theo Quyết định 79/QĐ-
TCHQ ngày 14/6/1994, cùng với nhiều Quyết định khác quy định về các quy chế Hải quan đối
với hàng hóa gia công, hàng hóa nhập khẩu được chuyển tiếp, hàng hóa XNK phi mậu dịch, quy
chế kiểm hóa hàng hóa XNK, quy chế địa điểm kiểm tra hàng hóa ngoài khu vực cửa khẩu, quy
trình hành thu đối với hàng hóa XNK ban hành kèm theo Quyết định 383/1998/QĐ-TCHQ và
thủ tục Hải quan được sắp xếp và phân chia theo từng loại hình cụ thể :
+ Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
+ Hàng quá cảnh; hàng tham gia hội trợ, triển lãm; hàng tạm nhập tái xuất; hàng hóa
XNK theo đường bưu chính; hàng hóa là tài sản di chuyển; hàng hóa trao đổi cư dân biên giới;
hàng hóa phục vụ yêu cầu khẩn cấp, an ninh, quốc phòng; hành lý và ưu đãi miễn trừ về khai Hải
quan, kiểm tra Hải quan;
+Hàng hóa tại kho ngoại quan, kho bảo thuế;
+Phương tiện vận tải nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh;
+Hàng hóa xuất nhập khẩu theo đường chuyển phát nhanh:
+ Hàng hóa bán trong các cửa hàng miễn thuế:
+Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bằng phương thức thương mại điện tử
+Thủ tục Hải quan có liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
2.1.3- Cải cách trong nghiệp vụ Hải quan
- Hồ sơ Hải quan
Hồ sơ làm thủ tục Hải quan hiện hành: Theo Quyết định 1171/QĐ-TCHQ ngày
15/6/2009 của Tổng cục Hải quan về việc ban hành quy trình thủ tục Hải quan đối với hàng hoá
xuất khẩu, nhập khẩu thương mại, Thông tư 194/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về
thủ tục Hải quan; kiểm tra, giám sát Hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế
đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và Nghị định 154/2005/NĐ-CP tổ chức cá nhân khi đến
cơ quan Hải quan làm thủ tục khai báo Hải quan để xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thì phải hoàn
thành bộ hồ sơ Hải quan hiện nay, bộ hồ sơ này gồm những chứng từ phải nộp và chứng từ phải
xuất trình. Hồ sơ Hải quan hiện hành thực sự có nhiều ưu điểm gọn nhẹ, tạo điều kiện thuận lợi
cho người khai Hải quan.
* Những cải cách quan trọng trong khâu tính thuế, thu thuế xuất nhập khẩu và các nguồn
thu khác trong quy trình thủ tục Hải quan trên trên tinh thần hội nhập kinh tế
- Phân loại hàng hóa và điều chỉnh thuế quan theo hướng áp dụng Công ước HS:
Công ước HS là Công ước về Hệ thống điều hòa phân loại và mã hóa hàng hóa do Hội
đồng hợp tác Hải quan thế giới nay là Tổ chức Hải quan thế giới ban hành năm 1983, sau gần 10
năm nghiên cứu (1976-1983), và là sản phẩm trí tuệ của tập thể của 60 đại biểu Hải quan các
nước thành viên sáng lập và 20 tổ chức quốc tế. Với tư cách là một ngôn ngữ chung toàn cầu về
giống hệt
- Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu
tương tự
- Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá khấu trừ
- Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá tính toán
- Phương pháp suy luận xác định trị giá tính thuế
* Những cải cách trong khâu kiểm hóa trong quy trình thủ tục Hải quan
Trước đây, Hải quan vẫn thực hiện chính sách kiểm tra toàn bộ các lô hàng, căn cứ vào
giả thiết cho rằng đó là một cơ chế cần thiết để kiểm soát hoạt động buôn lậu, cũng như các hành
vi vi phạm khác. Trong khi bản thân Hải quan tăng cường nỗ lực đấu tranh chống buôn lậu, và vi
phạm pháp luật quản lý Nhà nước về Hải quan, thì tình trạng vi phạm vẫn tiếp tục lan tràn. Kinh
nghiệm trong nước và các nước khác cho thấy rằng kiểm tra toàn bộ các lô hàng vừa không khả
thi vừa không hiệu quả. Với khối lượng giao dịch thương mại ngày càng gia tăng, và áp lực về
việc giảm số nhân viên, thì vấn đề sẽ không thể giải quyết nếu không có sự đổi mới trong hoạt
động kiểm tra Hải quan.
Giảm lượng hàng hóa kiểm tra thực tế có nghĩa rằng cần phải có các phương pháp thay
thế đảm bảo duy trì kiểm tra quản lý trong khi vẫn tạo thuận lợi cho thương mại. Giải pháp cho
điều này có thể thấy trong Công ước KYOTO, Hiệp định trị giá GATT/WTO và nhiều tài liệu
khác. Thực chất ở đây là nhằm vào thông tin, dựa trên những thông tin hiện có và đáng tin cậy,
được hỗ trợ bởi một hệ thống có nhiều khía cạnh, được hậu thuẫn bởi khả năng kiểm toán sau khi
thông quan và được trang bị với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, có kỹ
năng phù hợp.
Theo thông lệ quốc tế, Hải quan các nước rất chú trọng phương pháp quản lý rủi ro. Đây
là một xu thế cơ bản trong việc cải cách tủ tục Hải quan. Theo Công ước KYOTO và kế hoạch
hiện đại hóa Hải quan APEC, thủ tục Hải quan dựa chủ yếu trên nguyên tắc đánh giá rủi ro.
- Phân luồng kiểm tra hàng hóa
Bước đầu thực hiện quản lý rủi ro Hải quan Việt Nam đã thực hiện phân luồng kiểm tra
hàng hóa. Việc phân luồng kiểm tra hàng hóa đã được chính thực thực hiện từ năm 1998 và là
một giải pháp quan trọng trong Đề án cải cách thủ tục Hải quan.
- Phân luồng hàng hóa
đúng pháp luật và nhấn mạnh ưu thế của việc thực hiện tốt pháp luật.
- Thông quan
Trên cơ sở kết quả tự tính thuế của doanh nghiệp và kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa
của công chức Hải quan, công chức Hải quan ấn định số thuế phải nộp và các nghĩa vụ tài chính
phải nộp bằng thông báo thuế hay quyết định điều chỉnh thuế hoặc thực hiện viết biên lai thu
thuế ngay trong trường hợp hàng phi mậu dịch.
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ thuế cũng như các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của
Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
Sau khi đã làm xong thủ tục Hải quan, hàng hóa, phương tiện vận tải được thông quan.
Tuy nhiên trong một số trường hợp chưa làm xong thủ tục Hải quan nhưng nếu được Chi cục
trưởng xem xét, đồng ý thí có thể được thông quan với một số điều kiện.
2.2- Một số kết quả của công tác cải cách thủ tục của ngành Hải quan và tại Cục Hải
quan Thừa Thiên Huế từ năm 2008 đến nay
2.2.1 Cải cách về nghiệp vụ:
Quy trình thủ tục Hải quan đã từng bước được cải tiến theo hướng đơn giản, hài hoà,
minh bạch, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý Hải quan, vừa đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động thương mại, đầu tư và du lịch XNC trên địa bàn.
Thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan, Cục Hải quan
Thừa thiên Huế đã tiến hành triển khai, rà soát cắt giảm 30% thủ tục hành chính trong lĩnh vực
Hải quan theo đề án 30 của Chính phủ, đảm bảo đúng lộ trình đề ra.
2.2.2 Triển khai thủ tục Hải quan điện tử
Triển khai mở rộng thủ tục Hải quan điện tử theo Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg đã
tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu nhưng vẫn đảm bảo
yêu cầu quản lý nhà nước của cơ quan Hải quan. Triển khai thực hiện công văn số 1752/VPCP-
KHTH ngày 23/3/2011 của Văn phòng Chính phủ, Cục Hải quan Thừa Thiên Huế đã đầu tư máy
móc, trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ thực hiện thủ tục Hải quan điện tử, nâng cấp
phần mềm thủ tục Hải quan điện tử đáp ứng yêu cầu triển khai cho các loại hình mới, xây dựng
và triển khai phần mềm giám sát, nối mạng tới các điểm giám sát, thí điểm áp dụng chữ ký số
trong thủ tục Hải quan điện tử, phối hợp chặt chẽ với các Công ty tin học cung cấp phần mềm
đầu cuối cho doanh nghiệp.
các khâu nghiệp vụ và tổ chức thực hiện tốt các quy trình quản lý, theo dõi nợ thuế, miễn thuế,
giảm thuế, hoàn thuế, ấn định thuế, truy thu và cưỡng chế . Ngoài ra để tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp trong việc nộp thuế, Cục Hải quan Tỉnh đã phối hợp với kho bạc Nhà nước và ngân hàng
thương mại thực hiện dự án hiện đại hóa công tác thu ngân sách Nhà nước qua hệ thống ngân
hàng và kho bạc.
2.2.6 Quan hệ hợp tác giữa cơ quan Hải quan và cộng đồng doanh nghiệp:
Hải quan Việt Nam thể hiện sâu sắc quan điểm coi doanh nghiệp là đối tác, là bạn đồng
hành trong quá trình phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng. Tuyên ngôn phục vụ
khách hàng ban hành theo quyết định số quyết định số 225/QĐ-TCHQ ngày 09/02/2011 là
phương châm hành động, ứng xử của cán bộ, công chức Hải quan trong thực hiện nhiệm vụ,
đồng thời nêu lên những cam kết thể hiện quyết tâm đạt mục tiêu, thực sự tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động thương mại và đem lại lợi ích cho cộng đồng – với phương châm hành động là
“Chuyên nghiệp - Minh bạch - Hiệu quả”.
2.2.7 Nâng cao kỹ thuật nghiệp vụ:
- Công tác phân loại hàng hóa và xác định xuất xứ hàng hóa:
- Về kiểm soát hoải quan:
- Về kiểm tra sau thông quan:
- Về tổ chức bộ máy, quản lý và phát triển nguồn nhân lực:
- Về hiện đại hóa cơ sở, trang thiết bị kỹ thuật:
2.3- Một số tồn tại, hạn chế, nguyên nhân
2.3.1- Tồn tại, hạn chế:
- Các tình huống phát sinh trong hoạt động thương mại quốc tế chưa được pháp luật điều
chỉnh đầy đủ nên còn nhiều “lỗ hổng” pháp lý dẫn đến tình trạng áp dụng văn bản pháp luật lung
túng, thiếu thống nhất, gây khó khăn cho cơ quan Hải quan lẫn doanh nghiệp.
- Cơ quan Hải quan giải quyết thủ tục Hải quan cho nhiều loại hàng hóa rất phong phú bị
điểu chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau, mỗi ngành mang một đặc trưng
riêng, yêu cầu điều chỉnh riêng phù hợp với tính chất và yêu cầu của ngành đó nên rất khó thực
hiện.
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện về cải cách thủ tục Hải quan tại một số
nơi còn chưa quyết liệt, một bộ phận cán bộ công chức Hải quan chưa được đào tạo nghiệp vụ
- Xây dựng kế hoạch thường xuyên rà soát các thủ tục hành chính và các thủ tục hành
chính trong lĩnh vực Hải quan, xem xét trên cơ sở đối chiếu các công ước, điều ước Việt Nam
tham gia ký kết hoặc công nhận với hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác
để đề nghị cắt giảm, bổ sung và sửa đổi.
- Tập trung đào tạo đội ngũ CBCC có trình độ pháp luật vững chắc, có kiến thức năng lực
thực tiễn, am hiểu các công ước, điều ước, thông lệ quốc tế để tham gia xây dựng văn bản pháp
luật
- Tiếp tục cải cách đơn giản hóa thủ tục Hải quan, tạo tiền đề để tham gia xây dựng luật
Hải quan mới thay thế luật Hải quan hiện hành.
- Tham gia sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực
Hải quan để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất với việc ban hành nghị định mới thay thế Nghị định
154/2005/NĐ-CP.
2.4.2- Về thủ tục Hải quan và chế độ quản lý Hải quan:
- Tổ chức thực hiện đúng các quy trình nghiệp vụ Hải quan trên cơ sở nghiên cứu các
chuẩn mực, kiến nghị của công ước Kyoto và thực tiễn công tác để đề xuất Tổng cục Hải quan
bổ sung, sửa đổi theo hướng đơn giãn, minh bạch, hài hòa, thống nhất.
- Chuyển nhanh phương thức thực hiện thủ tục Hải quan thủ công sang phương thức điện
tử
- Từng bước trang bị và áp dụng trang thiết bị hiện đại trong kiểm tra, giám sát Hải quan
ở các địa bàn trọng điểm.
- Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động doanh nghiệp thực hiện thủ tục Hải quan điện
tử.
- Duy trì và nâng cao chất lượng các kênh trao đổi, hỗ trợ cung cấp thông tin giữa cơ
quan Hải quan với cộng đồng doanh nghiệp.
- Tiếp tục áp dụng hệ thống quản lý chất lượng vào hệ thống quản lý Nhà nước về Hải
quan theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại Cục và các đơn vị thuộc và trực thuộc Cục.
2.4.3- Về quản lý thuế:
- Nâng cao trình độ năng lực quản lý thuế, đảm bảo công tác quản lý thuế công bằng,
minh bạch, khả thi, hiệu quả, hạn chế tối đa gian lận thuế, gian lận thương mại quốc tế.
- Tham gia xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về thuế và các quy trình
của lực lượng Hải quan càng to lớn và nặng nề hơn. Với vai trò là “người gác cửa nền kinh tế đất
nước”, Hải quan Việt Nam hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam về điều ước quốc tế
liên quan đến công tác Hải quan.
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về cải cách hành chính, ngành Hải quan xác định
mục tiêu phấn đấu cho công việc cải cách hiện đại hóa nói chung, cải cách hành chính mà trọng
tâm là cải cách thủ tục hành chính nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt những kết
quả khả quan. Theo đó một mặt Hải quan phải tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế và
các mối quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế phát triển, mặt khác lực lượng Hải quan phải kiên
quyết đấu tranh, ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại, buôn lậu qua biên giới, góp phần
bảo vệ lợi ích và quyền lợi người tiêu dung, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, bảo về
lợi ích và chủ quyền an ninh quốc gia.
Ở bất cứ quốc gia nào, thủ tục Hải quan, thủ tục Hải quan thuận lợi, nhanh chóng, công
chức Hải quan văn minh, lịch sự, nghiêm túc, thành thạo nghiệp vụ, ngại ngữ sẽ tạo ấn tượng tốt
và thu hút được nhiều khách nước ngoài đến tham quan, du lịch, đầu tư, kinh doanh thương mại
và làm ăn sinh sống, đem lại lợi ích cho quốc gia. Trải qua lịch sử gần 70 năm trưởng thành và
phát triển của Hải quan Việt Nam, thủ tục hành chính của Hải quan Việt Nam không những được
hoàn thiện, thay đổi cho phù hợp với xu thế chung của Hải quan các nước trên thế giới nhằm tạo
điều kiện tối đa cho thương mại phát triển.
Những thành công trong cải cách thủ tục hành chính cho thấy bước đi đúng hướng của
Hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới, mở cửa của nền kinh tế và cải cách thủ tục hành
chính.
Tuy nhiên trước tình hình hoạt động thương mại quốc tế có nhiều biến động và ngành Hải
quan được Chính phủ giao nhiệm vụ là đầu mối thực hiện cơ chế một cửa quốc gia và ASEAN
đòi hỏi ngành Hải quan phải tiếp tục cải cách mạnh mẽ, sâu rộng hơn nữa mới đáp ứng được yêu
cầu nhiệm vụ.
References
1. Luc De Wulf và José B. Sokol (2007), Kinh nghiệm hiện đại hoá Hải quan của một số
nước, NXB Thế giới.
2. Luc De Wulf và José B. Sokol (2007), Sổ tay hiện đại hoá Hải quan, NXB lý luận chính
thí điểm thực hiện Cơ chế Hải quan một cửa quốc gia
21. Convention establishing Customs Co-operation Council, Brussels 1981, p 43-58
22. Uncitral Model Law on Electronic Commerce
23. Customs Technicque Trainning, Taejon, Korea 2000
24. Website: http//www.customs.gov.vn/