ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================== PHAN THỊ MAI THÚY PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI TRONG BỐI CẢNH
TOÀN CẦU HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Phan Thị Mai Thúy
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI
VÀ TOÀN CẦU HÓA 15
1.1. Một số quan niệm về phát triển con ngƣời 15
1.2. Toàn cầu hóa, thời cơ và thách thức của toàn cầu hóa đối với phát triển
con ngƣời ở Việt Nam 27
1.2.1. Toàn cầu hóa và các đặc điểm của toàn cầu hóa 27
1.2.2. Những thời cơ và thách thức của toàn cầu hóa đối với phát triển con
người Việt Nam hiện nay 31
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 40
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI VIỆT
NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY 43
2.1. Thực trạng phát triển con ngƣời Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
hiện nay 43
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử tư tưởng triết học, với bản chất cách mạng và khoa học,
học thuyết Mác đã đặt ra cơ sở lý luận về bước chuyển của nhân loại sang một
kỉ nguyên mới - kỉ nguyên mà ở đó: “sự phát triển tự do của mỗi người là điều
kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[37 tr. 628]. Chính vì lẽ đó
mà học thuyết Mác đã được cả cộng đồng nhân loại tiến bộ thừa nhận là học
thuyết về con người, về sự nghiệp giải phóng con người.
Nhưng đến cuối thế kỷ XX, việc thừa nhận con người là nguồn lực vô
tận, là nhân tố quyết định, là mục tiêu tối thượng của sự tiến bộ xã hội mới
được các chuyên gia của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP)
quán triệt, lượng hóa và thiết kế một thước đo chung, nhằm đánh giá trình độ
phát triển con người ở các quốc gia thuộc Liên hợp quốc. Tuy nhiên, việc coi
con người là trung tâm của sự phát triển không phải quốc gia nào cũng làm
được điều này. Việc phát triển con người có thực hiện được hay không, đạt tới
mức độ nào, ngoài việc dựa trên sự phát triển về kinh tế, còn tùy thuộc vào
quan điểm, chính sách và chương trình hành động của từng quốc gia.
Lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam,
Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến sự nghiệp xây dựng và phát triển con
người Việt Nam trong tất cả các thời kỳ cách mạng. Đặc biệt, từ khi đổi mới
đến nay, bằng việc thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện chính sách mở
cửa hội nhập với khu vực và thế giới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh đã mở rộng không gian phát triển đầy triển vọng cho con người
Việt Nam. Các cơ hội và điều kiện cho việc phát triển toàn diện con người
Việt Nam ngày càng được xác lập, bảo đảm và mở rộng. Sự nghiệp xây dựng,
phát triển con người Việt Nam thời gian qua đã gặt hái được nhiều thành tựu 4
nổi bật được bạn bè thế giới ghi nhận. Nhưng bên cạnh những thành tựu đã
người trong lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại. Trên cơ sở luận giải
các quan điểm về con người của những nhà triết học tiêu biểu của các trường
phái, các nền triết học trong lịch sử, tác giả khẳng định triết học Mác -
Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung có mục đích cao nhất là
khắc phục sự tha hóa con người, giải phóng và phát triển con người. Lý luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người thể hiện tính nhân văn, nhân đạo,
khoa học và cách mạng triệt để.
“Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá” của Phạm Minh Hạc chủ biên [28]. Đây là một công trình khoa học thể
hiện sự nghiên cứu công phu của các tác giả về vấn đề phát triển con người
Việt Nam theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Cuốn sách được chia làm hai phần
với mười hai chương nội dung. Ở phần thứ nhất của cuốn sách, các tác giả
đã trình bày những cơ sở khoa học của chiến lược phát triển toàn diện con
người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ sở lý luận cho
chiến lược phát triển con người toàn diện ở Việt Nam chính là chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, kinh nghiệm của nước ngoài về
phát triển con người cũng là cơ sở quan trọng trong việc phát triển con người
Việt Nam. Đồng thời, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện hóa đất nước đã trở
thành cơ sở thực tiễn của chiến lược phát triển con người toàn diện ở Việt
Nam. Các tác giả cũng đã đưa ra mô hình nhân cách con người Việt Nam, đó
là mô hình gắn bó chặt chẽ giữa đức và tài trong con người. Trong phần thứ
hai, các tác giả đã đưa ra định hướng chiến lược và luận giải những giải pháp
cụ thể cho việc phát triển con người Việt Nam trên bốn phương diện cơ bản
là đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất. Đồng thời luận giải những giải pháp
thiết thực, hiệu quả về việc phát triển con người Việt Nam trong sự nghiệp
công nghiệp hóa. Vì vậy, cuốn sách là tài liệu quan trọng trong việc nghiên
cứu định hướng và giải pháp phát triển con người toàn diện ở Việt Nam. 6
7
và kinh tế thị trường, môi trường đô thị, văn hóa thẩm mỹ, nghệ thuật và
giáo dục là những nhân tố cho sự hình thành và phát triển các phẩm chất đó
của con người hiện đại.
“Con người và phát triển con người trong quan niệm của Mác và
Ăngghen” [53] do Hồ Sĩ Quý chủ biên. Cuốn sách gồm 2 phần. Phần
thứ nhất: Di sản kinh điển - những tư tưởng cơ bản về con người và phát
triển con người. Phần này trình bày những luận điểm về con người và
phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, tương
ứng với các quan điểm đó là các trích dẫn tư tưởng của C.Mác và
Ph.Ăngghen về chủ đề con người, về bản chất con người, về vấn đề
giải phóng con người. Phần thứ hai: Di sản kinh điển nhìn từ thời đại
ngày nay - ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận đối với nhận thức
và phát triển con người. Phần này gồm những bài viết của các tác giả,
trong đó phân tích, làm sáng tỏ quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen
về vấn đề con người và phát triển con người. Cuốn tiếp theo của ông phải
kể đến đó là cuốn: “Con người và phát triển con người” [54]. Trong đó tác
giả luận giải quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về việc nghiên cứu con
người là một khoa học. Tiếp đến làm rõ vấn đề khái niệm con người, bản
chất con người, con người trong quan hệ với giới tự nhiên và vấn đề phát
triển con người. Đồng thời khẳng định: “Nghiên cứu con người nói
chung và con người Việt Nam nói riêng, hiện đang đứng trước những nhu
cầu đặc biệt cấp thiết đặt ra từ sự phát triển của bản thân khoa học và từ sự
phát triển của đất nước trong tương quan chung với sự phát triển của khu
vực, của thế giới và của nhân loại” [54, tr.127]. Tiếp nữa là tác giả trình bày
một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu con người.
Trong phần này, nhiều hướng nghiên cứu con người đã được tác giả đưa ra,
như: nghiên cứu phát triển con người, nguồn lực con người, con người trong
quan hệ với văn hóa, với môi sinh, nhân cách con người, tiềm năng con
9
phát triển con người Việt Nam, tập trung vào hai nhóm giải pháp khắc phục
sự tha hóa kinh tế và tha hóa về chính trị, đẩy mạnh cuộc vận động chỉnh đốn
Đảng; xóa bỏ cơ chế xin-cho trong lĩnh vực ngân sách, tài chính và tổ chức,
kiểm tra; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực
của bộ máy Nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, trong sạch về phẩm chất, đạo đức, tận tụy với công
việc; thực hiện dân chủ hóa trên thực tế và nhóm giải pháp ngăn ngừa nguy
cơ tha hóa trong lĩnh vực đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay.
Luận án,“ Quan điểm của C.Mác về phát triển con người và sự vận dụng ở
Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Văn Sơn [57]. Ở đây, luận án luận giải quan
điểm của C.Mác về phát triển con người và sự vận dụng quan điểm này ở Việt
Nam trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn để trên cơ sở đó, đề xuất
phương hướng và giải pháp nhằm góp phần phát triển con người Việt Nam
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Phạm Thành Nghị: “Phát triển con người bền vững và những thách thức
về quản lý”, [49]. Mở đầu bài viết, tác giải khẳng định: “Cơ may tạo ra sự
phát triển con người bền vững gắn liền với sự quản lý của các chính phủ, các
chính sách và cơ hội tham gia của người dân”[49, tr. 21]. Điều đó được tác
giả luận giải trong bài viết, trước tiên, tác giả đi vào làm rõ khái niệm phát
triển con người bền vững, sau đó tác giả khẳng định cái cơ sở của phát triển
con người bền vững không chỉ ở nâng cao đời sống vật chất mà chính yếu là ở
nâng cao các chuẩn mực văn hóa của con người, giúp họ hoàn thiện hơn, phát
huy tài năng và tăng cường năng lực, để giúp con người nâng cao đời sống vật
chất và văn hóa, phát huy tài năng và năng lực thì Nhà nước có vai trò quan
trọng, Nhà nước tài trợ tạo cơ hội cho mọi người tiếp thu những kiến thức cơ
bản để có cơ hội phát triển lâu dài, đấy là trong giáo dục đào tạo, trong kinh tế
11
Phạm Thành Nghị ,“Phát triển nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức”
[48, tr. 20 – 25]. Là một quốc gia kém phát triển, Việt Nam có nguồn lao
động dồi dào, nhưng xét theo trình độ đào tạo thì chất lượng còn thấp. Bài
viết cho rằng trước những thách thức của toàn cầu hóa và yêu cầu hội nhập
quốc tế, cần phải xem xét những vấn đề trọng tâm trong phát triển nguồn nhân
lực hiện đại, để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong quá trình phát triển.
Phùng Danh Cường, “Phát triển con người ở Việt Nam hiện nay: Thực
trạng và giải pháp” [11]. Tác giả đã đi luận giải thực trạng phát triển con
người Việt Nam trong những năm gần đây. Bên cạnh những thành tựu đạt
được, còn một số hạn chế nhất định trên các bình diện: Chỉ số HDI, giáo dục
và đào tạo, công tác phát triển y tế - chăm sóc sức khỏe nhân dân và thành
tích trong xóa đói giảm nghèo và từ đó đưa ra giải pháp để phát triển con
người Việt Nam.
UNDP, Báo cáo Quốc gia về phát triển con người năm 2011: Dịch vụ xã
hội vì sự phát triển con người [13]. Từ những kết quả phân tích về phát triển
con người Việt Nam trong thập kỷ qua, Báo cáo đưa ra và phân tích bốn
thông điệp chính: Thứ nhất, tiến bộ trong chỉ số HDI của Việt Nam trong
những năm gần đây chủ yếu do tăng trưởng kinh tế mang lại; thứ hai, tăng
trưởng kinh tế đơn thuần không phải lúc nào cũng mang lại mức độ phát triển
con người cao hơn; thứ ba, mặc dù có nhiều tiến bộ song tốc độ tăng chậm
lại của chỉ số HDI thể hiện rõ ở cấp địa phương; thứ tư, việc chi trả và
cung cấp các dịch vụ xã hội hiện nay là thách thức đối với khát vọng và
mục tiêu phát triển con người của Việt Nam. Đồng thời, báo cáo còn đề xuất
và luận giải mười định hướng chính sách phát triển con người Việt Nam: 1/
Coi trọng con người hơn mục tiêu phát triển kinh tế; 2/ Các dịch vụ xã hội có
vai trò trong kìm chế bất bình đẳng ngày càng gia tăng; 3/ Cần một cách tiếp
cận mới về an sinh xã hội; 4/ Có một hệ thống lợi ích nhất quán hơn nhằm
13
+ Trình bày khái quát quan niệm về phát triển con người, về toàn cầu
hóa, từ đó rút ra khái niệm “phát triển con người” và những thời cơ, thách
thức của toàn cầu hóa với phát triển con người Việt Nam hiện nay.
+ Phân tích thực trạng phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hóa.
+ Đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh phát triển con người ở nước ta
trong bối cảnh toàn cầu hóa.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin, UNDP và quan điểm của Đảng ta về phát triển con người và xã hội.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh, đối chiếu, thống kê,…
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Phát triển con người Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Luận văn nghiên cứu thực trạng phát
triển con người Việt Nam từ sau đổi mới tới nay.
6. Đóng góp của luận văn
Về lý luận:
- Luận văn trình bày khái quát quan niệm về phát triển con người.
- Luận văn khái quát chung về thực trạng phát triển con người Việt
Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay trên ba lĩnh vực cơ bản đó là: thể
lực, trí lực và tâm lực.
Về thực tiễn:
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu phục vụ việc nghiên cứu, giảng
dạy và học tập về những vấn đề liên quan. Đồng thời, luận văn có thể dùng
sắc, quan trọng nhất là phát triển.
Trong lịch sử, lúc đầu người ta đồng nhất phát triển với tiến bộ, văn
minh xã hội. Vào thế kỷ XIX, phát triển được đồng nghĩa với tiến hóa xã hội.
Từ giữa thế kỷ XIX, quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ ở các nước
châu Âu, đem đến sự phát triển vượt bậc về kinh tế, khái niệm phát triển
chuyển dịch sang lĩnh vực kinh tế. Nhiều học giả xem phát triển chính là quá
trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa diễn ra ở thành thị. Những mâu thuẫn
trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc cho thấy sự bế tắc của
quan niệm phát triển thuần túy cơ giới. Trên cơ sở kế thừa quan niệm của các
nhà tư tưởng đi trước và dựa vào thành tựu khoa học ở thời đại mình, C. Mác
đã tìm ra quy luật phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội dựa trên phương
thức sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn nhất định
dẫn đến quan hệ sản xuất cũ trở nên lỗi thời, đòi hỏi phải được thay thế bằng
quan hệ sản xuất mới phù hợp hơn. Sự thay đổi quan hệ sản xuất đưa đến sự
thay thế của kiến trúc thượng tầng tương ứng. Sự tác động qua lại giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng tạo thành các quy luật khách quan chi phối sự vận động, phát triển của xã 16
hội loài người từ thấp đến cao. Mác nói về sự phát triển của một hình thái
kinh tế - xã hội nhất định, ông không dành khái niệm phát triển cho riêng lịch
sử con người. “Cái gọi là sự phát triển lịch sử nói chung, dựa trên tình trạng là
hình thái cuối cùng coi các hình thái đã qua là những giai đoạn để đi tới bản
thân nó” [39, tr.884].
Tuy nhiên, sự luận giải của học thuyết Mác về sự phát triển xã hội nhằm
mục đích cao nhất là “sự phát triển phong phú của bản chất con người, coi
như là mục đích tự thân” [41, tr.168]. Sự phát triển con người đã được các
ông đặt ra trực tiếp trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Sự phát
triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi
cho môi trường tự nhiên, xã hội và con người. Các quốc gia coi tăng trưởng
kinh tế là chìa khóa duy nhất sẽ đem lại phồn vinh, hạnh phúc cho con người.
Đến nửa sau thế kỷ XX, các nước châu Âu bắt đầu chú ý tới vấn đề tăng
trưởng kinh tế có tính đến việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của các tầng lớp, chú
ý đến đòi hỏi nhiều mặt của con người. Nhưng thực tế, các Nhà nước mới chỉ
chú trọng đến đáp ứng và cải thiện nhu cầu vật chất của con người. Con người
vẫn chỉ được xem như phương tiện của nền sản xuất mà chưa thực sự quan
tâm đến phát triển con người và tính ổn định bền vững cho xã hội.
Nhiều nước trên thế giới lấy thước đo thu nhập quốc dân để đánh giá
trình độ phát triển của kinh tế, xã hội. Công cụ GDP bình quân đầu người
được coi như là công cụ hữu hiệu mà các quốc gia vẫn sử dụng. Tuy nhiên,
công cụ này đã thể hiện nhiều hạn chế, nó mới chỉ chú ý đến góc độ của tăng
trưởng kinh tế của mỗi quốc gia, khía cạnh xã hội - nhân văn của phát triển xã
hội như sự công bằng, bình đẳng xã hội, đến giáo dục, y tế, sức khỏe cộng
đồng, Vì vậy, chưa đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, chưa hẳn đã
nâng cao đời sống văn hóa cho con người. Chỉ riêng sự tăng trưởng kinh tế
cũng không thể đảm bảo được yêu cầu cho sự phát triển công bằng, bình đẳng
xã hội. Chạy theo mục tiêu đó, nhiều quốc gia đã phải trả giá cho sự phát triển 18
của mình, đó là nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nhưng tệ nạn xã hội phát triển
tràn lan, xung đột xã hội thường xuyên nổ ra, đời sống văn hóa suy đồi…
Thực tế cho thấy, tất cả các loại vốn vật chất, vốn xã hội, vốn con người tuy
đóng vai trò then chốt cho phát triển, đều không phải là mục tiêu cuối cùng của
quá trình này. Cùng với sự thay đổi của thời đại, phát triển con người ngày càng
được lựa chọn và chú trọng. Amartrya Sen, một trong những người đi tiên phong
về lý thuyết phát triển con người đã viết: Sự phát triển có thể được coi là một quá
trình mở rộng các quyền tự do thực sự mà người dân được hưởng.
Đến cuối những năm 1980, đầu những năm 90 của thế kỷ XX ra đời
về cơ hội là điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con
người, trong đó, thu nhập là yếu tố rất quan trọng, là yếu tố đầu tiên. Tuy
nhiên, thu nhập mới chỉ là điều kiện đầu tiên cho sự tồn tại của con người;
ngoài yếu tố này, con người còn cần phải được tiếp cận đến các dịch vụ khác
của xã hội như: dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa… Phát triển vì con người phải
nhấn mạnh đến việc mở rộng không gian lựa chọn cho con người để mỗi
người có thể đạt được một cuộc sống tốt đẹp nhất và có ý nghĩa nhất.
Tăng cường năng lực lựa chọn của con người: Năng lực của con người
có thể hiểu là trình độ tri thức, sức khỏe, đạo đức, văn hóa… Con người có
năng lực mới có khả năng tham gia vào xã hội với tính cách như là người chủ
xã hội, tạo ra những cơ hội mới để con người tham gia vào xã hội một cách
chủ động. Năng lực của con người là điều kiện cần thiết và tất yếu để mỗi
người có thể tham gia vào xã hội, để tiếp cận với xã hội. Để tham gia vào các
hoạt động xã hội, con người cần có nhiều loại năng lực như: năng lực tham
gia, năng lực tổ chức, thực hiện các công việc và năng lực hưởng thụ các kết
quả lao động, và các kết quả khác trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống. Để
có các năng lực này thì đòi hỏi con người phải có thể lực, trí lực ở mức tối thiểu và
cần thiết. Vì vậy, các hoạt động chăm sóc con người về y tế, giáo dục, văn hóa… 20
có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành các năng lực cho con người, phải có
một chiến lược toàn diện về xây dựng và phát triển con người.
Như vậy, quan niệm về phát triển con người bao hàm các khía cạnh chủ yếu
sau đây:
Thứ nhất, mục tiêu của phát triển là vì con người, vì việc nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần một cách hiệu quả, bền vững chứ không phải là sự
gia tăng đơn thuần về mặt của cải vật chất. Ở đây, tăng trưởng kinh tế chỉ là
một trong những điều kiện cần, là một phương tiện cực kỳ quan trọng để phát
triển con người, song nó vẫn không phải là mục tiêu cuối cùng của sự phát
Theo đó, để đánh giá trình độ phát triển con người, UNDP sử dụng ba
chỉ số cơ bản (là tập hợp của hàng trăm chỉ số thành phần) đó là tuổi thọ, giáo
dục và mức sống, đó là những “chỉ số phát triển con người” (Human
Development Index- HDI).
HDI là một thước đo tổng quát về phát triển con người. Nó đo thành
tựu trung bình của một quốc gia theo ba tiêu chí sau:
1. Sức khỏe: Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, đo bằng tuổi thọ
trung bình.
2. Tri thức: Được đo bằng tỉ lệ số người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các
cấp giáo dục (tiểu học, trung học, đại học).
3. Thu nhập: Mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người.
Đặc biệt, trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới hiện
nay, thì phát triển con người là một yêu cầu cơ bản và lâu dài cho tất cả các
quốc gia và cả nhân loại nói chung. Quá trình hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi
phải có một mặt bằng chung về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…
Nếu không nâng cao trình độ về mọi mặt cho tất cả mọi người thì quá trình
hội nhập, toàn cầu hóa sẽ vì lợi ích của một nhóm người giàu có, sự hội nhập
sẽ không thể đảm bảo sự vững chắc trong một thế giới năng động như hiện 22
nay, sẽ không đảm bảo được sự tiến bộ chung trong quá trình lịch sử nhân
loại. Vì vậy, HDI đến nay được coi là bộ công cụ hữu hiệu nhất để đánh giá
trình độ phát triển con người của các quốc gia, để từ đó, các quốc gia tự đánh
giá trình độ phát triển của nước mình và xây dựng những chính sách, chiến
lược phát triển con người cho phù hợp với sự phát triển, tiến bộ chung của
nhân loại.
Từ các quan niệm trên đây, có thể hiểu, phát triển con người, một mặt
là lĩnh vực của phát triển nói chung, mặt khác là tiêu chí, là mục tiêu cao cả
của phát triển. Bản chất của sự phát triển con người là làm gia tăng giá trị của