Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC LAN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT GÓP
PHẦN NÂNG CAO NĂNG SUẤT LẠC VÙNG ĐỒI HUYỆN
CHƯƠNG MỸ, TỈNH HÀ TÂY LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số : 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐOÀN THỊ THANH NHÀN
HÀ NỘI – 2008
i
LỜI CAM ĐOAN
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Trung tâm NC & PT Đậu đỗ -
Viện CLT & CTP; phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp, phòng Tài nguyên
và môi trường huyện Chương Mỹ; Trung tâm khí tượng thủy văn Hà Đông đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ tận tình của gia đình,
người thân và bạn bè!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Lan
iii
MỤC LỤCLời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
1. Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
của các giống lạc 65
4.2.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc 66
4.3 Kết quả nghiên cứu biện pháp che phủ nilon và liều lượng N, P,
K thích hợp cho lạc 70
4.3.1 ảnh hưởng của các liều lượng phân bón (N, P, K) và biện pháp
che phủ nilon đến khả năng mọc mầm và thời gian qua các giai
đoạn sinh trưởng, phát triển của giống lạc L14 vụ xuân năm 2008 71
4.3.2 ảnh hưởng của các liều lượng phân bón (N, P, K) và biện pháp
che phủ nilon đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của
giống lạc L14 vụ xuân 2008 74
4.3.3 ảnh hưởng của các liều lượng phân bón (N, P, K) và biện pháp
che phủ nilon đến khả năng phân cành của giống lạc L14 vụ xuân
2008 77
v
4.3.4 ảnh hưởng của các liều lượng phân bón (N, P, K) và biện pháp
che phủ nilon đến chỉ số diện tích lá và khả năng tích luỹ chất
khô của giống lạc L14 vụ xuân 2008 78
4.3.5 ảnh hưởng của các liều lượng phân bón (N, P, K) và biện pháp
che phủ nilon đến sự hình thành nốt sần của giống lạc L14 vụ
xuân 2008 81
4.3.6 ảnh hưởng của các liều lượng phân bón (N, P, K) và biện pháp
che phủ nilon đến tình hình bệnh hại của giống lạc L14 vụ xuân
2008 84
4.3.7 ảnh hưởng của các liều lượng phân bón (N, P, K) và biện pháp
che phủ nilon đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
của giống lạc L14 vụ xuân 2008 85
4.3.8 Hiệu quả kinh tế của biện pháp che phủ nilon và bón phân cho
lạc L14 vụ xuân 2008 90
4.4 Đề xuất bổ sung quy trình trồng lạc vụ xuân cho vùng đồi huyện
STT Tên bảng Trang
2.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế
giới 6
2.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam giai đoạn
1997 - 2007 8
4.1. Diễn biến một số yếu tố khí hậu ở huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây 44
4.2. Kết quả theo dõi các yếu tố khí tượng từ tháng 2 - tháng 6 năm
2008 46
4.3. Diện tích, năng suất và sản lượng của một số cây trồng chính ở
huyện Chương Mỹ năm 2007 50
4.4. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc vùng đồi của huyện
Chương Mỹ từ năm 2003 - 2007 52
4.5. Khả năng mọc mầm và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng,
phát triển của các giống lạc thí nghiệm vụ xuân 2008 58
4.6. Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống lạc thí
nghiệm vụ xuân 2008 59
4.7. Khả năng phân cành của các giống lạc ở thời điểm thu hoạch vụ
xuân 2008 62
4.8. Chỉ số diện tích lá và khả năng tích luỹ chất khô của các giống
lạc ở các giai đoạn sinh trưởng vụ xuân 2008 62
DANH M
ỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
4.1. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống lạc 70
4.2. Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của giống lạc L14 76
4.3. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của giống lạc L14 90
1
1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lạc (Arachis hypogaea. L) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực
phẩm, cây họ đậu cải tạo đất tốt và là cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao.
Những năm gần đây, việc chuyển đổi cơ chế quản lý, sản xuất nông
nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, vấn đề lương thực về cơ bản đã
được giải quyết, từ đó người nông dân có nhiều điều kiện chủ động chuyển
sang những cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao mà trong đó cây lạc là một
trong những cây trồng mũi nhọn trong việc bố trí sản xuất và khai thác lợi thế
của vùng khí hậu nhiệt đới.
Với vị trí là cửa ngõ ra vào phía Tây Nam của tỉnh Hà Tây, có địa hình
bón và biện pháp che phủ nilon) nhằm nâng cao năng suất lạc vùng đồi, huyện
Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Trên cơ sở đó, góp phần hoàn thiện quy trình sản
xuất lạc vùng đồi của huyện.
1.2.2 Yêu cầu
- So sánh một số giống lạc để lựa chọn ra giống có năng suất cao, phù
hợp với vùng đất đồi góp phần bổ sung vào cơ cấu giống lạc của huyện
Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón vô cơ (N, P, K) và
biện pháp che phủ nilon đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc với
giống L14 tại vùng đồi của huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội của vùng đồi, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây làm cơ sở khoa học để
3
xây dựng các giải pháp kỹ thuật phù hợp cho sản xuất lạc của vùng.
- Xác định được 01-02 giống lạc có năng suất cao, chất lượng hạt tốt và
một số biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất lạc vùng đồi, góp
phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật phù hợp cho lạc của vùng đồi, huyện
Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Thông qua kết quả của đề tài khuyến cáo cho người nông dân trong
vùng có thể sử dụng các giống lạc mới cũng như áp dụng các biện pháp kỹ
thuật phù hợp (liều lượng phân bón N, P, K, che phủ nilon cho lạc ) sẽ góp
phần nâng cao năng suất, sản lượng lạc và hiệu quả sản xuất của vùng đồi,
huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Vùng lạc thuộc đất đồi, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.
- Tìm hiểu một số giống và liều lượng phân bón N:P:K phù hợp đất lạc
Những bằng chứng cổ nhất này đã khẳng định Nam Mỹ là cái “nôi” của
cây lạc và lạc được phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới trước và
cùng với thời gian khám phá ra châu Mỹ.
Krapovickas (1968) cho rằng, vùng Bolivian (Nam Bolovia - Tây Bắc
Achentina) là vùng nguyên sản của loài lạc trồng. Theo ông, vùng này có 5
trung tâm phát nguyên của lạc trồng, Gregory (1976) bổ sung thêm trung tâm
5
thứ 6. Đó là các vùng: Vùng Guarani (Paragoay, Parana); vùng Goias và
Minas Gerais (Tocantin, San, Franxisco); vùng Rondonia và Tây Bắc Mato
(Nam Amazon); vùng Bolovian (Tây Nam Amazon); vùng Peruvian (trên
Amazon và ven biển miền tây) và Đông Bắc Braxin (bổ sung của Gregory).
Những bằng chứng đều chứng minh cây lạc có nguồn gốc ở Nam Mỹ,
sau đó phổ biến ở châu Âu, tới vùng bờ biển châu Phi, châu Á (Trung Quốc,
Indonesia, Ấn Độ), tới quần đảo Thái Bình Dương và cuối cùng tới vùng
Đông Nam Hoa Kỳ.
Do đó, từ vùng nguyên sản ở Nam Mỹ, bằng nhiều con đường, lạc đã
được đưa đi khắp nơi trên thế giới và nó nhanh chóng thích ứng với các vùng
nhiệt đới, á nhiệt đới và các vùng có khí hậu ẩm như ở Việt Nam.
2.1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Cây lạc (Arachis Hypogaea L,) là một cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao
và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Cây lạc mặc dù có
nguồn gốc từ Nam Mỹ nhưng hiện nay được phân bố rộng trong phạm vi từ
40
o
vĩ Bắc đến 40
o
vĩ Nam.
Hiện nay, lạc được trồng ở hơn 100 nước và là cây trồng đứng thứ 2
sau cây đậu tương về diện tích trồng cũng như sản lượng trên thế giới.
06/07 07/08 05/06 06/07 07/08
Thế giới 21,76
21,04
21,62
1,52
1,54
1,54
33,09
32,47
33,23
Ấn Đé
6,86
5,91
6,40
0,92
0,91
1,23
1,23
1,25
1,52
1,52
1,55
Senegal 0,77
0,59
0,65
0,91
0,77
0,65
0,70
0,46
0,42
2,21
1,57
1,70
Việt Nam 0,27
0,26
0,26
1,80
1,77
1,77
0,49
0,46
0,46
Dự báo tháng 5 năm 2008
Nguồn: Production Estimates and Crop Assessment Div, Foreign Agricultural Service,
USDA
Năm 2008, diện tích trồng lạc của Trung Quốc là 4,6 triệu ha chiếm 21,28
% tổng diện tích trồng lạc của thế giới và là nước đứng thứ 2 sau Ấn Độ về
năm. Nếu như diện tích trồng lạc năm 1998 là 269,4 nghìn ha thì từ năm 1999
đến năm 2001, diện tích trồng lạc có xu hướng giảm, chỉ còn 241,4 nghìn ha
(năm 2001). Sau đó diện tích trồng lạc lại tăng lên và đạt cao nhất là 270,0
nghìn ha năm 2005. Nhưng đến năm 2007, diện tích trồng lạc của nước ta lại
8
giảm còn 260,0 nghìn ha.
- Về năng suất: Nhìn chung năng suất lạc ở Việt Nam còn ở mức thấp
so với các nước trồng lạc trên thế giới cũng như trong khu vực Đông Nam Á.
Tuy nhiên, năng suất lạc trong 10 năm trở lại đây (1997 - 2007) có chiều
hướng gia tăng và đạt 18,0 tạ/ha năm 2005, tăng 28,9% so với năm 1999.
- Về sản lượng: Từ năm 1997 đến năm 2007, sản lượng lạc ở nước ta
thấp nhất vào năm 1999 với 318,1 nghìn tấn và sau năm 1999 sản lượng lạc
tăng lên, đạt cao nhất vào năm 2005 với 490,0 nghìn tấn.
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam
giai đoạn 1997 - 2007
Năm Diện tích (1000 ha) Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000
tấn)
1997 253,5 13,9 351,3
1998 269,4 14,3 386,0
1999 247,6 12,8 318,1
2000 244,9 14,5 355,3
2001 241,4 14,6 352,8
2002 246,8 16,1 397,0
2003 250,0 16,6 417,5
2004 254,6 17,9 462,0
2005 270,0 18,0 490,0
2006 260,0 17,7 460,0
2007 260,0 17,7 460,0
(tạ/ha)
Sảnlượng
(1000 tấn)
1996 4,5 12,7 5,7
1997 4,5 13,3 6,0
1998 4,2 11,9 5,0
1999 4,4 12,3 5,4
2000 4,2 13,6 5,7
2001 4,0 16,0 6,4
2002 4,2 15,7 6,6
2003 4,5 15,6 7,0
2004 4,7 18,7 8,8
10
2005 5,0 19,6 9,8
2006 4,5 20,2 9,1
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Nhìn chung, trong vòng 10 năm trở lại đây, năng suất lạc bình quân của
Việt Nam đã được cải thiện, song vẫn ở mức thấp.
Ở Hà Tây, theo số liệu của tổng cục thống kê thì tình hình sản xuất lạc của
tỉnh trong những năm qua chưa ổn định cả về diện tích, năng suất và sản lượng.
Nhìn chung, năng suất lạc ở Hà Tây còn ở mức thấp đặc biệt từ năm
1996 đến năm 2000 năng suất lạc chỉ đạt từ 11,9 - 13,6 tạ/ha. Tuy nhiên, sau
năm 2000, năng suất lạc có xu hướng tăng lên và đạt tới 20,2 tạ/ha năm 2006,
tăng 37,1% so với năm 1996, tăng 41,1% so với năm 1998.
2.2 Tầm quan trọng và vị trí của cây lạc
2.2.1 Giá trị dinh dưỡng và vai trò của cây lạc đối với chăn nuôi
Đối với cây lạc thì bộ phận sử dụng chủ yếu là hạt.
Thành phần hoá học của hạt lạc như sau: Nước 8-10%, dầu thô (Lipit): 40 - 60
vật cộng sinh cố định đạm đó là Rhizobium vigna hình thành. Theo nhiều tác
giả, lượng N cố định của lạc có thể đạt 70 - 110 kg N/ha/vụ. Chính nhờ khả
năng cố định đạm này mà thành phần hoá tính của đất trồng sau khi thu hoạch
lạc được cải thiện rõ rệt, lượng đạm trong đất tăng và khu hệ vi sinh vật hảo
khí trong đất được tăng cường có lợi đối với các cây trồng sau, nhất là đối với
các loại cây trồng cần sử dụng nhiều N.
Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu của Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ đều cho
thấy trồng lạc liên tục 4-5 năm, năng suất lạc có thể giảm 12 - 60 %. Ở nước
ta (theo Ưng Định, Đặng Phú) liên canh lạc liên tục 4 năm, năng suất lạc giảm
20 - 38% [2]. Do vậy, đối với mỗi vùng sản xuất lạc việc chọn một chế độ
luân canh thích hợp là rất quan trọng.
12
Các cây trồng luân canh phổ biến ở vùng sản xuất lạc là: lúa nước, mía,
ngô… Ở vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ, do vụ hè trùng với mùa mưa,
địa hình thuận lợi cho cấy lúa mùa cho nên vùng sản xuất lạc thường trồng lạc
xuân luân canh với lúa mùa (2 vụ/năm) hoặc thêm cây vụ đông (ở vùng sản
xuất được 3 vụ/năm). Vùng không cấy được lúa thường luân canh lạc với ngô,
mía, bông… Tại Việt Nam, khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở các vùng
chuyên canh lạc phía Bắc, Ngô Đức Dương [13] đã cho rằng, lạc luân canh tốt
nhất với cây hoà thảo đặc biệt là cây lúa nước. Sau một năm luân canh lạc -
lúa, chế độ dinh dưỡng được cải thiện rõ như: tăng pH đất, tăng lượng chất
hữu cơ, đạm tổng số và hàm lượng lân dễ tiêu trong đất. Trong điều kiện vùng
đồi huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, sau vụ lạc xuân thường luân canh với lúa
mùa, ngô, rau hoặc đậu tương.
2.3 Yêu cầu của cây lạc đối với điều kiện ngoại cảnh
Các yếu tố khí hậu là nhân tố quyết định sự phân bố lạc trên thế giới,
Trong các yếu tố khí hậu thì nhiệt độ và chế độ nước ảnh hưởng lớn đến sinh
trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của lạc.
2.3.1 Nhiệt độ
sinh học cho thời kỳ nảy mầm là 12
o
C [2].
Fortanaier (1958) và De beer (1963) lại cho rằng, tốc độ tăng trưởng
của lạc mạnh nhất ở nhiệt độ trung bình ngày từ 20 - 30
0
C, nếu nhiệt độ thấp
dưới 18
0
C thì sự nảy mầm bị chậm lại và tỷ lệ mọc của lạc trên đồng ruộng bị
giảm, (Degeus I. G, 1998) [9].
Theo Vũ Công Hậu và cộng sự, nhiệt độ đất là một yếu tố quan trọng
có ảnh hưởng lớn đối với sự nảy mầm của hạt, ngoi lên mặt đất của cây con
và sinh trưởng ban đầu của cây. Nếu nhiệt độ đất thấp hơn 18
o
C, cây con mọc
chậm [17].
Trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, tích ôn tổng số yêu cầu 700 -
1000
o
C. Nhiệt độ trung bình tối thích trong thời kỳ này là 25
o
C. Nhiệt độ
không khí quá cao (30 - 35
o
C) rút ngắn thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng làm
giảm chất khô tích luỹ và giảm số hoa trên cây, do đó làm giảm số quả và
trọng lượng hạt của lạc [2].
Nhiệt độ ảnh hưởng lớn tới cường độ ra hoa và nó cũng là yếu tố chính
quyết định độ dài của thời gian hình thành và nở những hoa đầu tiên. Sinh
2.3.2 Ánh sáng
Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự sinh trưởng, phát triển của cây lạc thông
qua hai chỉ tiêu đó là cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng trong ngày.
Lạc là cây ngày ngắn song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu
và đối với nhiều trường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ [2]. Nhưng
khi trồng trong điều kiện ngày ngắn, cây lạc ra hoa chậm hơn và nở ít hoa hơn so
với khi trồng trong điều kiện ngày dài (Wynne và Emery, 1974) [54].
Theo Forestier (1957) thì việc ra hoa không phụ thuộc vào quang chu kỳ
nhưng phân hoá mầm hoa và tổng số hoa hình thành quả phụ thuộc rất nhiều vào
ánh sáng [36].
Ono và Otaki (1971) [46] quan sát thấy, 60% bức xạ mặt trời trong 60
ngày sau khi mọc là cần thiết cho cây lạc. Sinh trưởng và phát triển của các
cành sinh sản bị ức chế làm cho tổng số hoa giảm nếu cường độ ánh sáng
thấp. Cây lạc có phản ứng tích cực với cường độ ánh sáng mạnh (Pallmas và
Samish, 1974) [47].
Tuy nhiên, cường độ ánh sáng thấp trong giai đoạn sinh trưởng làm
tăng nhanh chiều cao cây nhưng giảm khối lượng lá và số hoa (Hang và MC
Cloud, 1976) [38]. Sự ra hoa rất nhạy cảm khi cường độ ánh sáng giảm và nếu
cường độ ánh sáng giảm trước thời kỳ ra hoa sẽ gây nên rụng hoa. Nếu cường
độ ánh sáng thấp ở thời kỳ ra tia, hình thành quả thì làm cho số lượng tia, quả
giảm đi một cách có ý nghĩa, đồng thời khối lượng quả cũng bị giảm theo
15
(Hudgens và Mc Cloud, 1974) [39].
Quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng.
Trong thời kỳ nở hoa, trong những ngày nắng, hoa nở sớm (6 - 8 giờ sáng), nở
tập trung và quá trình thụ phấn, thụ tinh cũng thuận lợi hơn so với những ngày
không có nắng [2].
2.3.3 Yêu cầu về nước
Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lạc.
nguy hiểm nhất, thứ đến là giai đoạn giữa ra hoa, đâm tia và quả mẩy [10].
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 90% tổng số diện tích trồng lạc phụ
thuộc vào nước trời. Vì vậy, tổng lượng mưa và lượng mưa phân bố trong
suốt chu kỳ sống của cây lạc là một trong những yếu tố khí hậu có ảnh hưởng
lớn đến năng suất lạc. Nhiều nghiên cứu cho rằng năng suất lạc khác nhau
giữa các năm ở một vùng sản xuất là do chế độ mưa quyết định [11].
Trên thực tế cho thấy, vùng lạc đồi huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây
được trồng trong vụ xuân từ tháng 2 đến tháng 6 trong năm. Nhìn chung có
điều kiện nhiệt, ẩm độ và ánh sáng thích hợp cho sự phát triển của cây lạc.
Tuy nhiên, vào thời gian sinh trưởng đầu kể từ khi gieo hạt, lạc thường gặp
nhiệt và ẩm độ thấp, ánh sáng yếu, làm lạc mọc chậm, tỷ lệ mọc mầm thấp.
Do đó, các biện pháp kỹ thuật làm tăng nhiệt, ẩm độ, ánh sáng ngay từ thời
gian đầu khi gieo, có ý nghĩa rất quan trọng để lạc có tỷ lệ mọc mầm cao đảm
bảo số cây trên đơn vị diện tích, cây sinh trưởng khoẻ ngay từ giai đoạn cây
con, thông qua đó ảnh hưởng thuận lợi cho các giai đoạn tiếp theo và năng
suất của lạc.
2.3.4 Yêu cầu đất đai của cây lạc
Do đặc tính sinh lý của cây lạc, cây lạc yêu cầu chặt chẽ về điều kiện lý
tính của đất. York và Codwell (1951) mô tả đất lý tưởng cho lạc là đất phải