Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn - Pdf 28


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


CHU THỊ HỒNG VÂN

BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG THƠ NGUYỄN DUY
VÀ ĐỒNG ĐỨC BỐN LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Hà Nội - 2014

2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Tôi xin cam đoan rằng đề tài Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy và
Đồng Đức Bốn là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi. Tất cả các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Mọi tài liệu tham khảo,
trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác. Các kết luận khoa học chưa
công bố ở bất kì công trình nghiên cứu nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014
Học viên Chu Thị Hồng Vân

4
LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc tới PGS. TS. Mai Hương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Ban giám hiệu, phòng
Đào tạo sau đại học, các quý thầy cô đã tận tình chỉ bảo và dạy dỗ, truyền đạt
kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, người thân,
bạn bè đã luôn bên cạnh khuyến khích, động viên giúp tôi vượt qua những
khó khăn để hoàn thành khóa học của mình.
Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014



6
Chƣơng 3: BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG THƠ NGUYỄN DUY, ĐỒNG
ĐỨC BỐN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN 83
3.1. Vận dụng sáng tạo thể thơ lục bát truyền thống 83
3.2. Khai thác và vận dụng hình ảnh của thơ truyền thống 87
3.3. Ngôn ngữ, giọng điệu 96
3.3.1. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn 96
3.3.2. Giọng điệu thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn 102
PHẦN KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

5
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do lựa chọn đề tài
1.1. Công cuộc đổi mới được khởi xướng vào năm 1986 là một sự kiện
trọng đại tạo nên những chuyển đổi cơ bản trong đời sống xã hội Việt Nam.
Trong không khí đổi mới, dân chủ, văn nghệ đã được “cởi trói”, văn nghệ sĩ
có thể “nói thẳng”, “nói thật” về nhiều vấn đề của đời sống xã hội và con
người. Theo đó, cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ cũng được giải phóng triệt
để hơn. Cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và giới văn nghệ sĩ
cả nước vào tháng 10 năm 1987 đã tác động rất lớn đến tinh thần của những
người cầm bút, nhất là ý thức tự “cởi trói” trong lĩnh vực sáng tạo. Điều đó
dẫn tới sự thay đổi sâu sắc về tư duy nghệ thuật giai đoạn này. Từ chỗ là
những nghệ sĩ ngợi ca đất nước và nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng
lãng mạn, giờ đây các nhà thơ chuyển từ “bè cao” sang “giọng trầm”. Cái
nhìn sử thi dần phai nhạt thay vào đó là cái nhìn mang đậm chất đời tư thế sự.
Đây là yếu tố hết sức quan trọng khiến cho nghệ thuật giai đoạn này thể hiện
tinh thần dân chủ hóa sâu sắc. Cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá

Bốn nói riêng. Các công trình, bài viết mới chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh
riêng biệt ở một tác giả hay cụm tác phẩm. Từ những lí do đó, người viết đã
lựa chọn nghiên cứu đề tài: Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy và Đồng
Đức Bốn. Từ đó, nhằm khẳng định một trong những nét độc đáo trong phong
cách sáng tạo và đóng góp của hai cây bút Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn góp
phần tạo nên diện mạo mới của thơ Việt Nam đương đại. Ở một phạm vi nhất
định, luận văn cũng góp phần vào việc tổng kết, đánh giá tiến trình vận động,
đổi mới của thơ đương đại Việt Nam. 7
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Lịch sử nghiên cứu chung về bản sắc dân tộc trong thơ Việt
Nam hiện đại
Qua tìm hiểu nghiên cứu, có thể thấy vấn đề bản sắc dân tộc không chỉ
đến nay mới được đem ra bàn bạc, mà ở mỗi thời đại khác nhau, quá trình này
diễn ra với mức độ và quy mô khác nhau. Chúng tôi xin được điểm qua một
số công trình, bài viết tiêu biểu để thấy được tính hệ thống trong vấn đề mình
đang nghiên cứu.
Tác giả Nguyễn Hữu Quýnh với bài Hai xu hướng thơ hiện nay đã chỉ
ra sự khác biệt giữa cái mới của những thế hệ cầm bút trên thi đàn Việt Nam
sau 1946. Tác giả bày tỏ thái độ trước những yêu cầu cách tân thơ hiện nay là:
Để có một nền thơ thuần hậu, nhân văn, trong sáng và đa dạng cần đối xử
công bằng với mọi nhà thơ. Đừng vì nhân danh đổi mới, hiện đại hay truyền
thống mà bên trọng bên khinh. Hãy để cho các khuynh hướng thơ được bình
đẳng tồn tại với nhau, đừng dạy dỗ, đừng áp đặt, đừng khắt khe và cũng đừng
ôm ấp chiều chuộng thái quá ai cả. Tự thơ nói lên tất cả. Tự bạn đọc bầu chọn
nhà thơ của họ. Tự cuộc sống lâu dài định danh cho thơ. Tóm lại cứ để cho
thơ phát triển tự nhiên vì nó là thơ. Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại nhìn nhận
một cách khái quát về xu hướng thơ hiện nay mà không đi vào nghiên cứu

ông. Để thấy rõ hơn quá trình thẩm bình đánh giá đó, luận văn chủ yếu đi
vào khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan tới bản sắc dân tộc trong
thơ Nguyễn Duy.
Ngay từ những sáng tác đầu tay, nhất là sau giải thưởng cuộc thi thơ
của tuần báo Văn nghệ 1973, Nguyễn Duy đã nhanh chóng thu hút được sự
mến mộ của đông đảo công chúng và gây được sự chú ý của các nhà nghiên
cứu, phê bình. Trước hết phải kể đến ý kiến của Hoài Thanh về thơ Nguyễn
Duy trong bài viết Đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy [48] :…“đọc thơ

9
Nguyễn Duy thấy anh thường hay cảm xúc với những chuyện lớn, chuyện nhỏ
quanh mình. Cái điều ở người khác có thể chỉ là chuyện thoảng qua thì ở anh
nó lắng sâu và dường như dừng lại”. Những nhận xét của Hoài Thanh đã
giúp chúng ta thấy được điểm riêng trong sáng tác của Nguyễn Duy. Bằng
cảm nhận tinh tế, sắc sảo, ông đã nhận ra vị quê mùa đằm thắm, chân chất
trong thơ Nguyễn Duy, “quen thuộc mà không nhàm”, là “khúc dân ca” vùng
“đồng bằng miền Bắc đã cùng anh đi vào giữa đỉnh Trường Sơn”. Chất thơ đó
“nhẹ nhàng hiền hậu”, “rất Việt Nam mà chúng ta vẫn giữ nguyên trong thử
lửa”. Bài viết đã đề cập đến tư duy thơ của Nguyễn Duy, đó là sự kết hợp của
cảm xúc, tình thơ với ý thơ và sự suy ngẫm.
Nhà phê bình Hà Minh Đức trong bài Về một số cây bút trẻ gần đây
trong quân đội [20] đã viết về triết lí dân gian trong thơ Nguyễn Duy: “Thơ
Nguyễn Duy mang nhiều màu sắc dân gian. Cách suy nghĩ và cảm xúc trên
trực tiếp hay gián tiếp đều nằm trong mạch suy nghĩ quen thuộc của dân gian
và tự nhiên là anh phải tìm đến một lối phô diễn, một giọng điệu thơ thích
hợp”, “anh chú ý nhiều đến thể lục bát, đến sự mềm mại, nhịp nhàng của các
làn điệu dân ca”. Cũng bàn về thơ lục bát, Lê Quang Trang nhận ra đây là thế
mạnh của Nguyễn Duy “anh vốn là người sở trường về sử dụng thơ lục bát –
một thể thơ có phần tĩnh và biến hóa không nhiều” [49].
Năm 1984, khi tập thơ Ánh trăng đoạt giải thưởng của Hội nhà văn

trào…”. Chính giọng điệu trữ tình là yếu tố chủ đạo tạo nên bản sắc dân tộc
độc đáo trong thơ Nguyễn Duy, đặc biệt từ sau năm 1975.
Năm 1987, Nguyễn Quang Sáng trong bài viết Đi tìm tiềm lực trong
thơ Nguyễn Duy [45] cũng đã nhận định: “Nguyễn Duy vốn có ưu thế và trội
hẳn lên trong thể thơ lục bát, loại thơ ngỡ như là dễ làm, ai cũng làm được,
nhưng để đạt tới hay thì khó thay, nếu không nói là khó nhất. Thơ lục bát của
Nguyễn Duy không rơi vào tính trạng quen tay, nó có sự biến đổi, chuyển

11
động trong câu chữ”. Thơ lục bát Nguyễn Duy “đượm tính dân tộc và nhuần
nhuyễn ngôn ngữ dân gian. Lời thơ đơn sơ, gần với khẩu ngữ. Tư duy thơ thì
hiện đại, hình thức thơ thì phảng phất hương vị cổ điển phương Đông…”.
Tác giả Đỗ Ngọc Thạch đi sâu vào hình ảnh Người vợ trong thơ
Nguyễn Duy [50] và thấy rõ “hồn quê” có sức “lay động tận sâu thẳm tâm
linh… đưa ta trở về với bản ngã, với những gì con người nhất”.
Vũ Văn Sỹ trong bài viết Nguyễn Duy – Người thương mến đến tận
cùng chân thật [47] đánh giá: “Cái đáng quý nhất trong thơ Nguyễn Duy là
anh viết về đất nước, về nhân dân, về đồng đội, về những người thân và về
chính mình bằng tấm lòng “thương mến đến tận cùng chân thật” ”. Tác giả
thấy được sự chân thành hết mực của tâm hồn thơ được thể hiện trong thơ lục
bát của Nguyễn Duy đồng thời khẳng định tài năng của ông ở thể loại này.
Phạm Thu Yến nghiên cứu về đặc điểm thơ Nguyễn Duy mà chủ yếu là
trên thể thơ lục bát đã đi sâu vào những biểu hiện trong mối quan hệ giữa ca
dao và thơ hiện đại, cụ thể là tiếng vọng của ca dao trong thơ lục bát Nguyễn
Duy: “Đọc thơ Nguyễn Duy, ta như được gặp một thế giới ca dao sinh động,
phập phồng làm nền cho tiếng đàn độc huyền đầy sáng tạo của hồn thơ thi sĩ”.
Tác giả cũng khẳng định “thể thơ lục bát – thể thơ đặc trưng của dân tộc được
Nguyễn Duy sử dụng nhuần nhụy, giúp tác giả chuyển tải một cách nhẹ
nhàng trong sáng những suy nghĩ và tình cảm sâu sắc của con người. Có lẽ,
những bài thành công nhất của Nguyễn Duy là những bài làm theo thể lục

Bài Tre Việt Nam [53] đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu
văn học. GS. Lê Trí Viễn đã chỉ ra phẩm chất con người Việt Nam thông qua
hình ảnh cây tre, đồng thời thấy được giọng điệu quen thuộc của ca dao dân
gian trong bài thơ: “Người ta gặp ở đây vừa âm hưởng của ca dao – dân ca
ngọt ngào thân mật, vừa vang vọng của thơ ca bác học lắng sâu vào trí tuệ.
Cách tân linh hoạt nhưng lại nhuần nhuyễn cả xưa lẫn nay, cả truyền thống
lẫn hiện đại”. Cũng về bài thơ này, Chu Huy khẳng định “Tre Việt Nam là

13
một trong những bài thơ hay của Nguyễn Duy. Bài thơ dào dạt cảm hứng cấu
tứ sâu sắc, độc đáo kết tinh từ những hình ảnh cuộc sống dân dã đời thường
mà ai đã đọc một lần thì nhớ mãi” [26].
Trần Hòa Bình trong Bình văn ấn tượng với “giai điệu thư thái lâng
lâng” của bài thơ cất lên từ nhịp thơ lục bát thân quen trong bài Tiếng hát mùa
gặt của Nguyễn Duy. Nguyễn Thị Bông lại mang cảm giác xốn xang khi phát
hiện ra Điểm gặp nhau thú vị của Tú Xương với Nguyễn Duy [4] qua hai bài
thơ Thương vợ và Vợ ốm: “hai thi nhân của hai thời đại, một thì ngang
ngạnh… một thì trầm lắng… dịu dàng đằm thắm… lại có những điểm gặp
nhau tuyệt vời”.
Ngoài những bài viết mang tính chất nghiên cứu, phê bình phân tích,
bình giảng về thơ Nguyễn Duy còn có một số khóa luận, luận văn thạc sĩ chọn
thơ Nguyễn Duy làm đề tài nghiên cứu.
2.2.2. Các công trình nghiên cứu về tác giả Đồng Đức Bốn
Cho đến nay, các bài viết về nhà thơ Đồng Đức Bốn chủ yếu tập trung
vào thơ lục bát và xoay quanh một số khía cạnh như: tài năng bẩm sinh của
nhà thơ, nét độc đáo, chất thơ mộc mạc, cá tính nghệ sĩ, giọng điệu hay chất
dân gian. Có thể kể tới một số bài viết tiêu biểu: Đồng Đức Bốn vị cứu tinh
của thơ lục bát (Nguyễn Huy Thiệp), Đồng Đức Bốn – kẻ mượn bút của trời
(Đỗ Minh Tuấn), Múa võ trong không gian hẹp (Lê Quang Trang), Đồng Đức
Bốn – phiêu du vào lục bát (Nguyễn Đăng Điệp), Những câu thơ tình tang

Đỗ Minh Tuấn trong bài Đồng Đức Bốn – Kẻ mượn bút của trời nhận
xét: “Sự xuất hiện của Đồng Đức Bốn đã đem lại cho thơ lục bát, thơ truyền
thống một niềm tự tin đáng kể”, “thơ Bốn vụt lên với sự sáng trong giản dị mà
không kém phần sâu sắc, mới lạ và ấn tượng như mang cả hồn thiêng của tổ
tiên trong mỗi lời đối thoại, mỗi tiếng nhủ thầm”. Còn trong bài viết Trời đưa
anh đến cõi thơ, Đỗ Minh Tuấn lại chỉ ra niềm kiêu hãnh, biết ơn của Đồng

15
Đức Bốn với thơ lục bát: “cái tình cảm của Bốn với thơ lục bát nhìn bề ngoài
giống như tình cảm của người nông dân với con trâu”.
Nguyễn Đăng Điệp cũng đánh giá rất cao thơ lục bát Đồng Đức Bốn:
“Từ lục bát của ca dao, Nguyễn Du đã tạo nên một đột biến: “Khi Nguyễn Du
viết Kiều đất nước hóa thành văn” (Chế Lan Viên). Thể thơ dân tộc này hiện
hình một cách tài hoa qua “khối tình lớn – khối tình con” (Tản Đà) rồi chia
thành hai ngả trong Thơ mới: Cái chân quê trong sáu – tám của Nguyễn Bính
và cái hàm súc cổ điển trong thơ Huy Cận. Hiện giờ, ngoài cái “thượng thừa”
của Bùi Giáng, lục bát sống trong hồn Nguyễn Duy, rồi Đồng Đức Bốn…
Làm được lục bát hóa ra là việc khó khăn… Là một thể loại ai cũng quen mặt,
ai cũng thuộc tên, nếu không có cái mới, lập tức kẻ làm thơ sẽ bị đuổi khỏi
chiếu. May thay, Đồng Đức Bốn đã trụ lại được”. Rõ ràng Đồng Đức Bốn
được đánh giá là một trong những tên tuổi sáng giá nhất trong làng thơ lục bát
Việt Nam. Ở phần cuối bài viết, tác giả còn nhấn mạnh, Đồng Đức Bốn rồi
cuối cùng cũng trở về với ca dao, với tình đời dù cay đắng nhưng vẫn ngọt
ngào. Cái chất dân gian trong thơ Đồng Đức Bốn vẫn là cầu nối anh với thế
hệ độc giả bây giờ. Dù có thế nào đi chăng nữa thì khuynh hướng sáng tác của
Đồng Đức Bốn vẫn là trở về với cội nguồn.
Trong phần đầu của bài viết Những câu thơ tình tang quê mùa, Đoàn
Hương đề cập đến chất dân ca, ca dao trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn. Bài
viết đã có những phân tích khá kĩ về chất quê trong thơ Đồng Đức Bốn –
mạch nguồn cảm hứng chủ đạo của nhà thơ. Đọc thơ lục bát của Đ ồng

được đánh giá là nhà thơ xuất sắc của dòng thơ lục bát Việt Nam đương đại.
Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn khẳng định lại một lần nữa thể thơ lục bát ưu
thế của thơ Việt. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến cho rằng, thơ lục bát của
Đồng Đức Bốn còn gai góc, thô mộc, còn có vẻ gì chất phác, ngô nghê. Nhìn

17
chung, Đồng Đức Bốn xứng đáng được coi là người tiếp nối dòng chảy dân
gian trong thơ ca Việt Nam và có những đóng góp không nhỏ trên thi đàn.
Tóm lại, qua lịch sử tìm hiểu nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy và Đồng
Đức Bốn, chúng tôi thấy trong một số bài viết về thơ của hai tác giả ít nhiều
đã đề cập đến vấn đề bản sắc dân tộc trong thơ của từng cây bút. Tuy nhiên,
qua khảo sát, có thể thấy những bài viết này mới chỉ đề cập đến một số khía
cạnh hoặc một vài yếu tố dân gian trong thơ của từng tác giả riêng biệt, chưa
đề cập một cách trực tiếp, chưa khảo sát vấn đề một cách hệ thống, toàn diện.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy
và Đồng Đức Bốn nhằm đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về
bản sắc dân tộc trong thơ của hai cây bút đặc sắc này, từ đó góp phần nhận
diện, khẳng định một hướng tìm tòi, đổi mới thành công của thơ đương đại
Việt Nam.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, người viết sử dụng các pháp nghiên cứu chủ
yếu như:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp thống kê, phân loại
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu bản sắc dân tộc trong sáng tác của hai
tác giả Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn. Phạm vi khảo sát là các tập thơ chính
của Nguyễn Duy và toàn bộ thơ Đồng Đức Bốn.

6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm 3 chương:

19
- Chương 1: Về khái niệm bản sắc dân tộc và hành trình sáng tạo
của Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn
- Chương 2: Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức
Bốn nhìn từ góc độ nội dung cảm hứng
- Chương 3: Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức
Bốn nhìn từ góc độ nghệ thuật thể hiện 20
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: VỀ KHÁI NIỆM BẢN SẮC DÂN TỘC VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TẠO CỦA NGUYỄN DUY, ĐỒNG ĐỨC BỐN


sự miêu tả của các nhà văn về đối tượng.
Tóm lại: “Việc nghiên cứu truyền thống văn hóa cũng tức là nghiên cứu
tính dân tộc, bản sắc dân tộc. Bởi vì tính dân tộc của văn học không chỉ là một
phạm trù tư tưởng xã hội và nghệ thuật mà còn là một phạm trù văn hóa, là
kết tinh của văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học nghệ thuật” [3, tr. 6-7].
Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc là vấn
đề văn hóa, đừng tìm vấn đề dân tộc ở chỗ khác” [22, tr. 155]. Sau này, nhà
nghiên cứu Hồ Sĩ Vịnh cũng tiếp tục khẳng định: “Nói đến văn hóa là nói đến
dân tộc. Văn hóa là gương mặt của dân tộc. Một dân tộc đánh mất truyền
thống văn hóa (…) thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [54, tr. 6].
Khái niệm “dân tộc” ở tiếng Việt hiện đại có hai nghĩa chính: 1) “dân
tộc – quốc gia”, tức là một cộng đồng xã hội người, được tạo nên do quá trình
hình thành tính cộng đồng về lãnh thổ, về quan hệ kinh tế, về ngôn ngữ văn
học, về một số đặc điểm văn hóa và tính cách; 2) các cộng đồng chủng tộc
người – bộ lạc, bộ tộc, sắc tộc… nằm trong và hợp thành dân tộc – quốc gia.
Văn học, nghệ thuật là một trong những phương diện hoạt động về tinh thần
của cộng đồng dân tộc trong quá trình lịch sử, gắn bó với đời sống lịch sử của
dân tộc. Nó là một bộ phận của lịch sử dân tộc. Tính dân tộc có mặt ổn định
nếu nhìn nó trong sự tương quan giữa các dân tộc với nhau. Đọc một bài thơ
Việt Nam và một bài thơ Trung Quốc, người ta vẫn phân biệt được bài thơ
này với bài thơ kia. Bài thơ Việt Nam vẫn có cái gì Việt Nam có thể trong tứ
thơ, trong giai điệu… Những cái đó cho phép người nghiên cứu rút ra tính
dân tộc trong thơ. Nhưng nói rằng tính dân tộc có mặt ổn định không có nghĩa
là tính dân tộc là cố định nhất thành bất biến. Bài viết “Tính dân tộc trong văn

22
học hiện nay”, trích từ cuốn “Tìm hiểu bản sắc dân tộc trong thơ Chủ tịch Hồ
Chí Minh” [36] giải thích: “Dân tộc là một cộng đồng người hình thành trong
quá trình lịch sử. Các dân tộc không phải là bao giờ cũng có, nó ra đời trong
một giai đoạn tiến hóa lịch sử nhất định và khi đã hình thành dân tộc rồi thì

Cùng chung quan điểm trên, cuốn Từ điển thuật ngữ văn học giải thích
một cách cụ thể hơn: Tính dân tộc thể hiện ở mọi yếu tố từ nội dung cho đến
hình thức của sáng tác văn học. Về nội dung, dễ dàng nhận thấy trước hết,
tính dân tộc biểu hiện trong sự phản ánh “màu sắc” dân tộc của thiên nhiên,
của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. Đọc sáng tác của một dân tộc, ta
như sống cuộc sống của dân tộc đó với những đặc điểm của thế giới riêng.
Tuy nhiên, tính dân tộc của văn học không chỉ biểu hiện ở những vật thể,
đường nét, màu sắc có thể nắm bắt được. Nội dung căn bản của tính dân tộc là
ở tinh thần dân tộc, thể hiện ở tính cách dân tộc và cái nhìn dân tộc đối với
cuộc đời. Đó là những yếu tố tương đối bền vững được hình thành và phát
triển trong những hoàn cảnh địa lí và con đường phát triển lịch sử riêng của
dân tộc, là một phẩm chất chỉnh thể biểu hiện trong một phức hợp liên kết các
phẩm chất nhất định.
Tính dân tộc còn biểu hiện ở hình thức văn học. Mỗi nền văn học dân
tộc có hệ thống thể loại truyền thống, có các phương tiện miêu tả, biểu hiện
riêng, nhất là có ngôn ngữ dân tộc thể hiện bản sắc riêng trong tư duy và tâm
hồn dân tộc mình.
Tính dân tộc còn thể hiện ở quá trình phát triển lịch sử độc đáo của văn
học cùng các đặc sắc do quá trình lịch sử ấy mang lại. Ví dụ, có thể nhận thấy
sự khác biệt về văn học dân tộc giữa chủ nghĩa hiện thực Nga và chủ nghĩa
hiện thực Pháp thế kỉ XIX.
Gớt đã từng khẳng định một nghệ sĩ chỉ có thể được coi là một nhà văn
mẫu mực của dân tộc nếu tác phẩm của anh ta “thấm nhuần tinh thần dân
tộc”. Nói như vậy, một tác phẩm đạt đến đỉnh cao, là đại diện của nền văn học

Trích đoạn Quê hương đất nước trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn Về những người thân trong gia đình Về những chàng trai nơi thôn dã Về những cô gái quê, cô thôn nữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status