ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ ĐIỆP ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT,
HỮU THỈNH, NGUYỄN ĐỨC MẬU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM HÀ NỘI – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ ĐIỆP ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT,
Người viết Nguyễn Thị Điệp
ii
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU i
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
2.1. Phạm Tiến Duật 4
2.2. Hữu Thỉnh 7
2.3. Nguyễn Đức Mậu 8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
3.1. Đối tượng nghiên cứu 10
3.2. Phạm vi nghiên cứu 10
4. Mục đích nghiên cứu 11
5. Phương pháp nghiên cứu 11
2.3.3. Dũng cảm chiến đấu, ý chí quật cường 67
2.3.4. Tình đồng đội 69
2.3.5. Tình yêu đôi lứa 71
2.4. Cái nhìn về chiến tranh sau chiến tranh 74
CHƢƠNG 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRONG
THƠ PHẠM TIẾN DUẬT, HỮU THỈNH, NGUYỄN ĐỨC MẬU. 81
3.1. Thể thơ. 81
3.1.1. Thể thơ tự do. 81
3.1.2. Thơ lục bát 86
3.1.3. Trường ca 90
3.2. Biểu tượng 94
3.2.1. Khái niệm biểu tượng 94
3.2.2. Một số biểu tượng tiêu biểu trong thơ Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh,
Nguyễn Đức Mậu 95
3.2.2.1. Biểu tượng ngọn lửa, ngọn đèn 95 iv
3.2.2.2. Con đường 98
3.2.2.3. Cỏ 102
3.2.2.4. Cây súng 105
3.2.2.5. Cánh rừng 107
3.2.2.6. Máu 109
3.3. Ngôn ngữ 111
3.3.1. Ngôn ngữ gần với lời nói thường ngày, giàu chất hiện thực đời sống 112
3.3.2. Ngôn ngữ giàu chất trí tuệ, chính luận 116
3.4. Phương thức chuyển nghĩa và sáng tạo hình ảnh thơ 118
PHẦN KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
viết, khẳng định được hướng đi lên, đã “truyền lửa” cho thế hệ sau. 2
Lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ là
một đội ngũ đông đảo, đa phần trong số họ là những người vừa cầm súng
đánh giặc vừa làm thơ. Có thể kể đến rất nhiều gương mặt tiêu biểu cho thế hệ
các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ nói riêng, cho thơ kháng chiến chống Mỹ nói
chung như: Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Nguyễn
Khoa Điềm, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm… Và sẽ thiếu sót
lớn nếu không nói đến Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu - là
những người lính, nhà thơ đã gắn bó sâu nặng với tuyến đường Trường Sơn
lịch sử, cũng là một trong những chiến trường ác liệt của đất nước ta thời kỳ
chống Mỹ. Các anh sinh ra là để làm thơ và trở thành đỉnh cao của thơ ca thời
kỳ này.
Từ mỗi góc nhìn, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu đã
cung cấp cho người đọc nhiều góc độ khác nhau về cuộc chiến tranh, đó là
niềm vui và nỗi đau, số phận con người trong và sau cuộc chiến, chất anh
hùng ca… Đặc biệt ở giai đoạn hiện nay, khi chiến tranh đã lùi xa mấy mươi
năm vẫn có không ít tác phẩm hay viết về chiến tranh, điều đó đã chứng minh
đề tài về chiến tranh, về người lính vẫn mãi có sức lay động lòng người, đánh
thức lương tri con người và niềm khát khao một cuộc sống hòa bình. Phạm
Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu thành công ở nhiều đề tài khác
nhau, trong các đề tài ấy chiến tranh là một ám ảnh đối với các anh.
Đã có nhiều công trình, những bài nghiên cứu về thơ của Phạm Tiến
Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu nhưng phần lớn chỉ dừng lại ở việc giới
thiệu, đánh giá từng tập thơ hay những nét chính trong những phong cách
nghệ thuật… Xét đến cùng thì đề tài chiến tranh nói chung và trong thơ trẻ
thời kỳ chống Mỹ nói riêng vẫn luôn là nỗi ám ảnh đầy nhức nhối, những dư
âm của cuộc chiến tranh vừa qua vẫn là nguồn cảm hứng to lớn cho những
cách sắc nét, sinh động. Mỗi trang thơ thấm đấm chất anh hùng ca như một
dòng sông hào hùng chảy xiết cùng năm tháng chiến đấu của dân tộc thời kỳ
chống Mỹ cứu nước. Qua khảo sát, thống kê chúng tôi đã tìm thấy nhiều bài 4
viết liên quan tới đề tài. Nhìn vào những bài viết này, chúng tôi có thể khẳng
định là cho đến nay những công trình, nghiên cứu, tìm hiểu về các nhà thơ
Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu đều thống nhất, đánh giá thơ
các anh là những vần thơ viết về chiến tranh, về thế hệ những người lính, về
Tổ quốc… thời kỳ kháng chiến chống Mỹ chân thực nhất, trong số phận của
họ có số phận dân tộc.
2.1. Phạm Tiến Duật
Phạm Tiến Duật là nhà thơ của chiến trường, trong vòng khói lửa. Thơ
anh in đậm dấu ấn của cuộc chiến tranh, những vần thơ sử thi của một thời.
Phạm Tiến Duật cũng có công giải tỏa cái khô khan, gò bó của thơ và thay
vào đó là cách nói vui, nửa thực nửa hư, duyên dáng, nụ cười hóm hỉnh góp
phần phản ánh sự đa dạng của đời sống trong chiến tranh, nhất là lớp trẻ trong
chiến đấu. Đã có rất nhiều công trình, những bài nghiên cứu có tính chất khái
lược về thơ Phạm Tiến Duật. Tiêu biểu là các tác giả Đỗ Trung Lai, Lưu
Khánh Thơ, Nguyễn Văn Long, Hà Minh Đức, Vũ Quần Phương, Nguyễn
Văn Hạnh, Nguyễn Ngọc Thiện, Trần Đăng Suyền, Đỗ Chu… Điểm lại một
số bài viết, bài nghiên cứu, phê bình của các nhà nghiên cứu văn học về một
chặng đường thơ Phạm Tiến Duật, chúng tôi nhận thấy các bài viết đều thống
nhất trong việc khẳng định tầm vóc, tài năng và những đóng góp lớn lao của
Phạm Tiến Duật cho thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca thời kháng chiến.
Phạm Tiến Duật có thơ đăng báo từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX,
nhưng thơ anh lúc này vẫn còn lẫn trong thơ nhiều người. Phải đến cuộc thi
thơ do báo Văn nghệ tổ chức vào năm 1969 - 1970, anh mới thực sự ghi được
tên tuổi của mình vào làng thơ Việt Nam. Chùm thơ đoạt giải nhất của anh
nhan đề Một chặng đƣờng thơ Phạm Tiến Duật (Tạp chí Văn học, số 4, 1986)
đã đánh giá, tổng kết giai đoạn sáng tác trong chiến tranh của Phạm Tiến Duật.
Nhà văn đã khẳng định vai trò của thực tiễn chiến tranh đối với sáng tác của
Phạm Tiến Duật. 6
Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam viết: “Dưới bầu
trời sinh tử của chiến tranh, Phạm Tiến Duật đã làm một cuộc tự trải nghiệm,
tự khám phá khắc nghiệt nhất và đã vươn lên làm một cuộc đột phá điển hình
nhất, đưa thơ chống Mỹ lên đến đỉnh cao… thơ ca mang đến cho bạn đọc
niềm vui lớn như những tin thắng trận từ tiền tuyến lớn. Độc đáo và vụt sáng,
đầy sức lay động và ấm áp ngay cả trong những lúc cay nghiệt nhất của chiến
tranh, đó là vẻ đẹp của thơ Phạm Tiến Duật.” [24, tr.11]
Theo GS Nguyễn Văn Hạnh thì thơ Phạm Tiến Duật “không thiên về
“tự biểu hiện”, về kỷ niệm, như thường thấy trong thơ các bạn trẻ, mà chú ý
quan sát, suy nghĩ, “ghi chép” những người và việc xung quanh, phát hiện ra
những khía cạnh bất ngờ, “lý thú”, “có cái nhìn riêng, giọng nói riêng” và
“anh thành công nhất khi viết về những con người tham gia trực tiếp cuộc
chiến đấu.” (Báo Văn nghệ số 363, 25-9-1970).
Trong Lí luận văn học, GS Trần Đình Sử cho rằng thơ của Phạm Tiến
Duật cũng đầy “mê hoặc” hấp dẫn, chứa đựng những điều sâu xa.
Phạm Xuân Nguyên trong bài viết Chiến tranh nhìn từ nhiều phía cho
rằng: “Phạm Tiến Duật nổi lên trong dàn thơ chống Mỹ với những bài thơ nói
cái hiện thực trần trụi của chiến tranh, cái ngang tàng hiên ngang của người
lính.” [30, tr.2]
Tất cả các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đều đã đánh giá,
khẳng định những đặc sắc và đóng góp của thơ Phạm Tiến Duật với thơ ca
thời chống Mỹ cũng như thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung. Có thể nói
đường Trường Sơn chống Mỹ là ý chí Hồ Chí Minh, Chủ nghĩa anh hùng
xích, về mây, suối, dốc, thác Trường Sơn… Từ “cái nôi nghệ thuật” dữ dội,
khốc liệt và thơ mộng là Trường Sơn ấy, hồn thơ Hữu Thỉnh tìm đến với
những nguồn cảm hứng lớn về Tổ quốc, Nhân dân, về thế hệ những người
cầm súng thời chống Mỹ.” [40] 8
Những bài thơ của Hữu Thỉnh “sẽ còn sống mãi với lịch sử của cuộc
kháng chiến chống Mỹ như là trang thơ hào hùng nhất, bi tráng nhất của toàn
bộ thơ ca Việt Nam.” [35]
Từ trong cội nguồn dân tộc, hành trình thơ Hữu Thỉnh là hành trình đi
tìm “mẫu số chung của sự đồng cảm”. Trước đây anh đã từng viết thật xúc
động về chiến tranh, về lòng quả cảm và đức hy sinh của dân tộc Việt Nam.
Sau này, anh vẫn trăn trở vui buồn cùng số phận con người, khắc khoải lo âu
trước sự “mất mùa nhân nghĩa”. Thơ anh có sự kết hợp giữa phẩm chất dân tộc
và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lý và độ xúc cảm tràn trào, giữa sự hiền hòa
lắng đọng và mãnh liệt sục sôi, giữa khả năng viết những tác phẩm trường ca dài
và thơ trữ tình ngắn. Anh là một trong những gương mặt tiêu biểu, xuất sắc của
nền thơ chống Mỹ đã khẳng định vị trí và bản lĩnh sáng tạo của mình qua hai
chặng đường lớn: Thơ ca những năm chống Mỹ cứu nước và thơ ca đương đại
Việt Nam.
2.3. Nguyễn Đức Mậu
Đi qua cuộc chiến tranh chống Mỹ và là người lính của Sư đoàn 312,
nhà thơ mang áo lính Nguyễn Đức Mậu đã có mặt ở những cánh rừng Lào, ở
vùng đất khét mùi đạn bom của Quảng Trị… Sự khốc liệt dữ dội và mất mát
khó kể xiết của chiến tranh không dập tắt được những giai điệu mạnh mẽ
trong tâm hồn anh, ngược lại nó đã hừng lên và bốc cháy rừng rực từ hiện
thực bi tráng của cảnh tượng, sự lựa chọn kỹ càng chi tiết, vừa anh hùng vừa
lãng mạn, vừa thật vừa ảo, vừa mộc mạc, vừa lấp lánh mà tất cả những cái đó
được thể hiện trên cái nền cảm xúc mạnh mẽ và chân thật của người cầm bút.
thịt với cuộc sống chiến đấu được đông đảo bạn đọc (nhất là lính) mến yêu.”
[22, tr.60].
Người lính hi sinh đã hóa thân vào non nước để sống tiếp một cuộc
sống khác, xanh hơn, đằm dịu hơn và huyền ảo hơn. Theo dấu chân người
lính, Nguyễn Đức Mậu đã có nhiều trang viết nóng hổi hơi thở cuộc sống
chiến trường. Trong đó người chiến sĩ là hình ảnh trung tâm. Nhà thơ Nguyễn 10
Đức Mậu tuy đã nổi tiếng nhưng anh luôn là người khiêm nhường, chịu khó
đọc, chịu khó nghe và ham viết. Tuy các bài viết chưa bao quát hết được sự
nghiệp thơ của Nguyễn Đức Mậu nhưng những ý kiến của những người đi
trước đã là những gợi ý quý báu và định hướng cho chúng tôi trong khi thực
hiện bản luận văn của mình một cách có hệ thống và sâu hơn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Do luận văn nghiên cứu về ba tác giả nên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát
một số tập thơ tiêu biểu thể hiện rõ đề tài chiến tranh của từng tác giả. Cụ
thể như sau:
3.1.1. Tác giả Phạm Tiến Duật luận văn khảo sát những tác phẩm in trong cuốn
Phạm Tiến Duật toàn tập (Đỗ Trung Lai chủ biên, NXB Hội nhà văn,
2009).
3.1.2. Tác giả Hữu Thỉnh luận văn tập trung khảo sát ở tập Thơ Hữu Thỉnh
(NXB Hội nhà văn, Hà Nội 1998).
3.1.3. Tác giả Nguyễn Đức Mậu chúng tôi tập trung khảo sát qua bốn tập thơ:
1. Cánh rừng nhiều đom đóm bay (NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998).
2. Từ trong lòng cuộc chiến (NXB Văn hóa thông tin, 2010).
3. Hoa đỏ nguồn sông (NXB Tác phẩm mới Hội nhà văn Việt Nam, 1987).
4. Mở bàn tay gặp núi (NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008)
3.2. Phạm vi nghiên cứu
cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp so sánh – đối chiếu
Phương pháp cấu trúc – hệ thống 12
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn đưa ra những nhận định về Đề tài chiến tranh trong thơ
Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu (từ 1965 đến nay). Từ đó
khẳng định rõ hơn những đóng góp to lớn của các anh đối với thơ kháng chiến
chống Mỹ và sự vận động của thơ hiện đại Việt Nam.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung
chính của luận văn được triển khai gồm ba chương:
Chương 1: Đề tài chiến tranh trong thơ chống Mỹ và sự hình thành đội
ngũ nhà thơ trẻ chống Mỹ
Chương 2: Cái nhìn chiến tranh trong thơ Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh,
Nguyễn Đức Mậu
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện đề tài chiến tranh trong thơ Phạm Tiến
Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu 13
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRONG THƠ CHỐNG
MỸ VÀ SỰ HÌNH THÀNH ĐỘI NGŨ NHÀ THƠ TRẺ
CHỐNG MỸ
Bên cạnh thế hệ tiền chiến, là lớp nhà thơ sung sức cầm súng lên
đường. Nguyễn Khoa Điềm nói lên sức mạnh của dân tộc đang được nhân lên
trong những tháng năm đặc biệt:
Trong thời gian không gian gian lao
Ta điềm tĩnh nhân sức mình vô hạn
Qua cuộc chiến đấu sẽ càng bộc lộ sức mạnh kỳ diệu của Nhân dân.
Một dân tộc đã đi đầu giành độc lập giữa trùng vây của thực dân đế quốc, một
dân tộc đã đánh tan đội quân viễn chinh thiện chiến của thực dân Pháp ở Điện
Biên Phủ làm chấn động địa cầu, nhất định sẽ giành thắng lợi trong cuộc
chiến đấu mới. Một Việt Nam được bạn bè cảm phục, chia sẻ, ủng hộ. Các
nhà thơ Việt Nam đã ghi lại được hình tượng Việt Nam trong thơ chống Mỹ.
Các nhà thơ có dịp suy nghĩ về nhân dân và Tổ quốc mình. Chế Lan Viên
nhận xét về ba năm thơ chống Mỹ: “Vạn sự khởi đầu nan. Trong một cuộc
chiến tranh dữ dội, thơ dễ lâm vào một trong ba tình trạng sau này không còn
thơ nữa. Khi đại bác gầm thì chim họa mi tắt tiếng. Có thơ nhưng đây là tiếng
thét thất thanh của những khẩu hiệu có vần, cả ba trường hợp đó là dấu hiệu
của thần kinh suy nhược. Vượt lên ba nguy cơ đó thơ miền Bắc tồn tại phát
triển, tinh thần sảng khoái, da thịt hồng hào. Ba năm qua chúng ta đã xây nên
một nền thơ chống Mỹ hẳn hoi với những thành tựu về mặt tác phẩm của nó
với buổi đầu hoàn chỉnh về mặt lý luận của nó.”
Không phải là một ước mong mà là một thực tế. Trong cuộc chiến đấu
gian lao của Nhân dân ta có bạn bè gần gũi chia sẻ, như Mađơlen Righo – nữ
phóng viên Pháp, Moonika – nhà văn nữ Ba Lan đều có mặt ở chiến trường
Việt Nam, Giorit Iven đem ống kính vào vùng lửa đạn. Đimitrova - nhà thơ 15
nữ Bungari nhiều lần sang Việt Nam và sáng tác tập thơ Vây giữa tình yêu.
Nhiều nhà văn, nhà báo so sánh Việt Nam như cây tre, cứng rắn và có sức bật,
Việt Nam là bông hoa ngát hương, Việt Nam là hồn tôi…
kháng chiến chống Mỹ của cả dân tộc và sẽ còn tiếp tục phát triển. Những vấn
đề về cuộc chiến, những sự kiện chính trị, quân sự, không khí chiến tranh, mặt trận,
con người, hi sinh, mất mát, tổn thất… ý chí chiến đấu của cả dân tộc đã được thơ
chiến tranh cách mạng ghi lại sống động hơn bao giờ hết. Qua những phác họa chân
thực của thơ thời kỳ này đã giúp cho chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc chiến
mà dân tộc ta đã đi qua và giành được thắng lợi vẻ vang, hào hùng.
1.2. Thế hệ các nhà thơ trẻ chống Mỹ
Văn học Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước (1965-1975) có một vị trí
quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc. Đây là thời kỳ văn học phát triển rực rỡ
trên nhiều thể loại để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình: Làm cuốn “Biên
niên văn học” về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc. Trong sự phát triển
đó, thơ chống Mỹ, nhất là thơ của các nhà thơ trẻ thời kỳ này đã gây được sự chú
ý đặc biệt, nhanh chóng trưởng thành, đạt được nhiều thành tựu xuất sắc. Người
ta sẽ không thể hình dung một cách đầy đủ diện mạo và đóng góp to lớn của nền
thơ chống Mỹ nếu thiếu vắng mảng thơ của các cây bút trẻ xuất hiện thời kỳ này.
Thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ là một hiện tượng rất đáng chú ý của văn học hiện đại
Việt Nam, đánh dấu sự xuất hiện, trưởng thành của một thế hệ nhà thơ và bước
phát triển mới của nền thơ ca chiến tranh và cách mạng.
1.2.1. Sự xuất hiện của thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước
Từ tháng 8 năm 1964, khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh ra
miền Bắc, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước sang
một giai đoạn mới gay go, căng thẳng và vô cùng ác liệt. Phản ánh kịp thời và
động viên chiến đấu, sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một trong những
nhiệm vụ hàng đầu của nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng trong thời
kỳ chống Mỹ. Đó không chỉ là đòi hỏi cả thời đại mà còn là sự thôi thúc bên
trong của chính các nhà thơ. Nhanh nhạy và kịp thời, nền thơ hiện đại nóng
bỏng tính thời sự, hừng hực tinh thần chiến đấu của chúng ta đã “nhập cuộc” 17
18
sống mãnh liệt không gì tàn phá nổi, trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh,
một thế hệ trẻ thời kỳ chống Mỹ đã vượt lên tự khẳng định mình, vừa tiếp nối
truyền thống của các thế hệ trước, vừa có sáng tạo độc đáo làm nên những nét
riêng của cả một giai đoạn thơ ca.
1.2.2. Các chặng đường thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước
Nhìn tổng quát, thơ trẻ chống Mỹ cứu nước là một dòng chảy liên tục,
nhưng mỗi bước phát triển mang dấu ấn phong cách riêng và có thể chia làm
ba chặng đường:
1.2.2.1. Chặng đường thứ nhất: từ 1964 đến 1968
Ở chặng đường đầu tiên này, đội ngũ những nhà thơ trẻ bước đầu được
khẳng định với sự xuất hiện của những cây bút như Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu
Quang Vũ, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Dương Hương Ly, Phạm Ngọc Cảnh, Vũ
Quần Phương, Lữ Huy Nguyên, Cảnh Trà, Vương Trọng Những nhà thơ trẻ này,
lúc đầu được tập hợp và giới thiệu trong tập thơ Sức mới, (1965, NXB Văn học, Hà
Nội). Nhà thơ Chế Lan Viên viết tựa cho tập thơ đã biểu dương “Điều đáng yêu
nhất của tập thơ này là nó nồng ấm cái hơi thở của cuộc sống, của chủ nghĩa xã hội
trên miền Bắc nước ta”. Nhìn chung, thơ của các nhà thơ trẻ chặng đường này vừa
trẻ trung tươi tắn, vừa bồng bột sôi nổi. Các tác giả đều chọn lọc chất liệu cuộc sống
theo hướng thi vị hoá. Cảm xúc trong thơ họ vừa mang đậm màu sắc lý tưởng, ít
nhiều còn vương dấu vết của sách vở nhà trường. Những mô típ quen thuộc trong
thơ chặng đường này thường là những buổi chia tay, những đêm hành quân, những
dự cảm vào cuộc vv thể hiện khát vọng ra trận của tuổi trẻ thời đại chống Mỹ.
Thơ của những nhà thơ trẻ chặng đường này rưng rưng cảm xúc, thấm đậm chất trữ
tình, chứa chan chất men say nồng của tuổi trẻ. Họ nói tới khao khát của thế hệ trẻ
được cầm súng trực tiếp chiến đấu bằng một cảm xúc chân thành, trong sáng nhất:
Ôi ta thèm được cầm khẩu súng
Đi giữa đoàn quân cùng với bạn bè
Nằm chờ giặc trên quê hương anh dũng
thản tự tin của một dân tộc gan góc, bất khuất, kiên cường. Nhìn chung, các
tác giả thơ trẻ chặng đường này đều có khuynh hướng đi tìm chất thơ trong
mảng đời sống trong trẻo của chiến tranh. Nhưng thơ chặng đường này đã tạo
tiền đề hết sức quan trọng cho sự phát triển của thơ trẻ chống Mỹ ở những
chặng đường sau.