MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Phạm Tiến Duật (1942 - 2007) khởi đầu sự nghiệp sáng tác bằng những bài
thơ viết trên tuyến đường mòn vận tải Trường Sơn 559, con đường huyền thoại
trong cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc. Và cũng từ đó đời lính và đời thơ gần
như song hành nhau, hiện thực là chất liệu viết nên thơ còn thơ luôn là nguồn sức
mạnh tinh thần giúp ông có thêm ý chí chiến đấu. Phải khẳng định rằng với những
bài thơ sôi nổi, trẻ trung hừng hực, có chút “tinh nghịch” nhưng cũng rất sâu sắc
Phạm Tiến Duật đã thể hiện sự “sáng tạo của thơ trữ tình Việt Nam
t
r
ê
n
hành trình
đ
i
tì
m cái
đẹp
từ trong các sự kiện và in đậm chất sử thi
c
ủa một thế kỷ đầy
b
iến
động
” [13, tr 56]. Thơ ông
làm
chúng ta như sống
lại
không khí của những năm tháng
hào hùng, gian
Là một sinh viên ngành Văn học, rất đỗi yêu thơ Phạm Tiến Duật, và đặc biệt
là những bài thơ viết về người lính, đề tài khóa luận “Hình tượng người lính trong
thơ Phạm Tiến Duật” sẽ là cơ hội để tôi có điều kiện tìm hiểu sâu hơn và nghiên
cứu có hệ thống hơn về những vấn đề mà mình đã hết sức đam mê.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phạm Tiến Duật làm thơ từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX, nhưng phải
đến khi đoạt giải nhất trong cuộc
t
h
i
thơ do báo Văn nghệ tổ chức vào năm 1969
-1970, ông mới thực sự ghi được tên tuổi của mình vào làng
t
h
ơ
Việt Nam. Bắt đầu
từ đây, nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học đã quan tâm đánh
g
iá
t
h
ơ
ông.
Một trong những bài viết đầu tiên về thơ
P
hạm
T
iến Duật là Giữa chiến
1
quầng
l
ửa.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu (trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số
7,
1972) có
bài Người viết trẻ giữa cánh rừng già cho rằng: "Sự xuất hiện của Phạm Tiến Duật
đã làm
xôn
xao đời sống thơ ca vốn có. Thơ Phạm Tiến Duật đã cổ vũ cho cuộc chiến
đấu theo cách riêng của mình
v
à
đã đón nhận được sự quan tâm đặc biệt từ nhiều
ph
ía
"
Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Ngọc Thiện
v
ới
bài viết Chỗ mạnh và chỗ
yếu trong thơ Phạm Tiến Duật (in trên Tạp chí Văn học, số 4, 1974) đã khẳng
đ
ị
nh
:
"hồn thơ Phạm Tiến Duật phóng khoáng, rộng mở, cái đẹp của cuộc sống chiến đấu đi
vào thơ ông tự nhiên
v
à
Nam (trong Tạp chí Văn học, số 6, 1979)
đ
ã
chỉ ra sự kế thừa những kinh nghiệm của
thơ ca dân gian trong thơ Phạm Tiến Duật,
đ
iều đó khiến cho thơ Phạm Tiến Duật
"đầy rẫy những chi tiết đời sống đánh Mỹ chính xác, cụ thể như
h
iệ
n
v
ật
trong bảo
tà
ng.
". Năm năm sau (1985), Vũ Quần Phương phát triển bài viết thành bài nghiên
2
cứu
tác
giả Phạm Tiến Duật trong cuốn Nhà thơ Việt Nam hiện đại (Nxb Khoa học
Xã hội, Hà
Nộ
i, 1985), xem Phạm Tiến Duật là một nhà thơ trẻ tiêu biểu của nền thơ
trữ tình cách
mạ
ng.
Năm 1986, Đỗ Trung Lai cũng có một bài viết rất công phu với nhan đề Nhà thơ
Việt Nam hiện đại (Nxb Khoa học Xã hội, Hà
phạm I, 2002). Tác giả công trình đã
g
iới
thiệu tiểu sử, con người nhà thơ. Ông cho
rằng "vùng thẩm Mỹ" của thơ Phạm
T
iến Duật là rừng
T
r
ườ
ng
Sơn. Tác giả đặc
biệt quan tâm đến phong cách thơ Phạm Tiến Duật là tính chất trẻ trung, giọng thơ
ng
a
ng
tàng, sự xô bồ, rậm rạp mà khái quát của chi tiết, ngôn ngữ
s
inh hoạt ùa vào
trong thơ. Cũng như nhiều
nh
à
nghiên cứu khác, tác giả Trần Đăng Suyền vẫn mong
đợi một sự đổi mới của nhà thơ Phạm Tiến Duật để
t
h
ơ
ông có thể đến được, hoà nhập
với cuộc sống
mới
M
a
i, Mai Hương,
Hồ Phương,
Ho
à
ng
Kim Ngọc đăng tải trên các báo và tạp chí. Phạm Tiến Duật
cũng từng được nhắc đến và giới
t
h
iệ
u
t
rong
các công trình tiểu luận và nghiên cứu
như Dọc đường văn học (Nxb Văn học, 1996); Nhà
v
ăn
Việt
Nam thế kỉ XX, tập III
(Nxb Hội nhà văn, 2000); Từ điển tác giả văn học Việt Nam thế kỉ XX
(Nxb
Hộ
i
nhà
văn, 2003). Hầu hết các cuốn sách đều tập trung phân tích, nghiên cứu những giá trị
trung khảo sát phân tích về hình tượng lính từ chân dung đến bản chất. Qua phân tích,
chúng tôi sẽ rút ra nhận xét cụ thể đi đến khẳng định về một thành công của Phạm Tiến
Duật trong phương diện sáng tạo hình tượng nghệ thuật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài này tập trung nghiên cứu về hình tượng người lính của nhà thơ Phạm Tiến
Duật. Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi
khảo sát chủ yếu ở các tập thơ:
- Vầng trăng và quầng lửa (1970)
- Thơ một chặng đường (1971)
- Ở hai đầu núi (1981)
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai vấn đề nghiên cứu chúng tôi đã vấn dụng, kết hợp rất
nhiều phương pháp khác nhau. Tuy nhiên một số phương pháp sau được sử dụng thường
xuyên như:
- Phương pháp hệ thống
4
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp liệt kê
- Phương pháp so sánh
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung khóa luận được triển khai thành 2 chương,
cụ thể như sau:
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÍ LUẬN
1.1. Hình tượng văn học
1.2. Thơ Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
1.2.1. Sơ lược về một số hình tượng trong thơ
1.2.2. Hình tượng người lính trong thơ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ
Chương 2. HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT, TỪ CHÂN
DUNG ĐẾN BẢN CHẤT
2.1.….Từ chân dung…
chiều nay thu lại trong không gian hai chiều của hội hoạ, như một mái chèo trên hai
thước chiếu sân khấu mà tác giả đã vẫy vùng trước đại dương”[6, tr 143].
Như vậy, từ những khẳng định về hình tượng nghệ thuật và hình tượng văn học
của các nhà nghiên cứu trên chúng tôi thống nhất quan điểm hình tượng thơ chính là:
“bức tranh sinh động và tương đối hoàn chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ
6
thống các đơn vị ngôn ngữ vần điệu với trí tưởng tượng sáng tạo và cách đánh giá của
nhà nghệ sĩ” [4, tr 44]. Trí tưởng tượng cho phép các nghệ sĩ từ cái nhìn hiện thực có thể
vươn tới những cái gì cao đẹp, sinh động hơn cái vốn có của cuộc sống hiện thực.
…Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)
Đó là những hình ảnh rất thực của cuộc sống người dân Việt Nam trong vòng
kiểm soát của quân thù nhưng bằng cảm quan nghệ thuật, bằng nhận thức của một tâm
hồn yêu nước thiết tha, Nguyễn Đình Thi đã nâng nó lên thành những hình tượng sống
động: hình tượng đất nước Việt Nam trong nô lệ đau thương và tang tóc.
Tóm lại, từ những phân tích trên có thể hiểu hình tượng thơ “chính là mối quan hệ
giữa các bộ phận của câu thơ, của đoạn thơ trong cách tổ chức những câu thơ, đoạn thơ
để phản ánh đối tượng với những rung động tình cảm và cách đánh giá của nhà nghệ sĩ
theo cách riêng của họ. Xem xét mối quan hệ đó phải đặc biệt chú ý đến khả năng phát
hiện, khả năng sáng tạo của người làm thơ trong việc tìm tòi những kiểu cấu trúc mới
trên con đường phản ánh hiện thực. Đặc biệt cần chú ý khả năng tiềm tàng và khả năng
hiện thực của ngôn ngữ” [4, 114]
1.2. Thơ Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
1.2.1. Sơ lược về một số hình tượng trong thơ kháng Mỹ
Thơ kháng Mỹ thực sự là một kho tàng chứa đựng rất nhiều hình tượng, ngoài hình
tượng điển hình là hình tượng người lính còn có các hình tượng khác, đó có thể là hình
tượng người phụ nữ, hình tượng nhân dân, hình tượng đất nước…
Với hình tượng Tổ quốc, các nhà thơ đã mải miết, say mê để viết ra những vần thơ
đi vào lòng người, để độc giả phải thốt lên “đất nước bao giờ đẹp thế này chăng”.
sinh tử với vận mệnh của dân tộc. Trong thơ chống Mỹ, Trường Sơn là chủ nghĩa anh
hùng cách mạng, là ý chí kiên cường bất khuất, là nghị lực can trường.
Bên cạnh đất nước là hình tượng nhân dân, đó cũng là một đề tài để các nhà thơ
khai thác với nguồn cảm hứng không bao giờ cạn. Trong văn học chống Mỹ
nó
i
chung và thơ ca nói riêng, nhân vật anh hùng đã trở thành nhân
v
ật
số đông.
8
Trong Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm đã từng viết
:
Có biết bao người con gái, con
t
ra
i
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa
t
uổ
i
Họ đã sống và chết
Giản dị và
b
ì
nh
tâm
Không ai nhớ mặt đặt
tê
n
Hữu, đấy là tinh thần bất khuất, kiên trung. Con người ý chí khí phách đạp mọi trở ngại
để vươn đến đạo lý truyền thống, đến với các giá trị vĩnh cửu và thiêng liêng:
Sức đâu như ngọn sóng trào
Má già đứng dậy ngó vào thằng Tây,
Má thét lớn: Tụi bây đồ chó
Cướp nước tao, cắt cổ dân tao.
9
(Bà má Hậu Giang - Tố Hữu).
Hình ảnh O du kích nhỏ đã làm nên dáng đứng, tầm vóc, sức mạnh của dân tộc:
O du kích nhỏ giương cao súng
Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu
Ra thế to gan hơn béo bụng
Anh hùng đâu cứ phải mày râu”
(Tấm ảnh – Tố Hữu)
Biểu tượng cao đẹp, vĩ đại, hào hùng nhất, đấy là hình ảnh chị Lý, người con gái
anh hùng Việt Nam. Bằng một cảm quan lãng mạn cách mạng, một tấm lòng tôn kính,
xót thương vô hạn, tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh người con gái Việt Nam bất
khuất, kiên trung:
Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung
Không giết được em người con gái anh hùng,
Ôi trái tim em, trái tim vĩ đại,
Còn một giọt máu tươi còn đập mãi,
Không phải cho em, cho lẽ phải trên đời,
Cho quê hương em. Cho cả loài người”
(Người con gái Việt Nam).
Tính chất sử thi, siêu nhiên qua cách cảm nhận và thể hiện của tác giả càng làm
tăng thêm ý chí bất khuất, vẻ đẹp kỳ vĩ, thiêng liêng và huyền bí của người con gái Việt
Nam anh hùng.
Quan phân tích có thể thấy, thơ Việt Nam trong kháng Mĩ đã xây dựng nên biết bao
hình tượng đẹp. Tuy nhiên trong cuộc trường chinh cứu nước, hình tượng được các nhà
chiến đấu bằng một cảm xúc
c
h
â
n
thành, trong sáng
nh
ất:
Ôi ta thèm được cầm khẩu
súng
Đi giữa đoàn quân cùng với bạn bè
Nằm chờ giặc
t
r
ê
n
quê hương anh dũng Ta
cay nồng mùi lá rụng bờ
t
r
e
.
(Gửi Bến Tre - Lê Anh
Xu
â
n)
Những người lính luôn hành quân với một niềm vui háo hức,
h
ăm
hở, đầy
ẻ
o
Ngọt ngào như nước dừa
xiê
m
Yêu dáng em đi qua cầu tre lắt
lẻ
o
Dịu dàng như những nàng
tiê
n.
Đ
ời
sống
thực của người lính được thể hiện chân thực trong thơ Phạm
Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu,
Ho
à
ng
Nhuận Cầm Chưa bao giờ hình ảnh thế
hệ trẻ sống, chiến đấu giữa chiến trường lại được thơ tập trung
kh
ắc
hoạ đạt được
tính chân thực cao như thơ trẻ chống Mỹ. Đó là những người lính lái xe, chiến sỹ
công
b
i
góc bảo tàng tươi sống" về Trường Sơn (Đỗ Trung Lai) trong
những năm tháng chống
Mỹ.
Hơn ai hết, những người lính
t
h
ờ
i kỳ chống Mỹ cũng là những người thấm
t
h
ía
sự hi sinh gian khổ tột cùng của đời sống chiến tranh. Đây là kỷ niệm ngày
sinh nhật của người lính
t
r
ẻ
qu
a
những vần thơ đầy suy tư của Thanh
T
h
ả
o
:
Buổi sáng ấy tôi bước vào tuổi
25
Ở đường dây 559 - trạm
73
Ngày sinh nhật bắt đầu bằng cơn
tiết hơn căn bệnh đặc trưng của chiến trường- bệnh sốt rét. Chỉ nhìn
nh
ữ
ng
"dấu chân
qua trảng cỏ", Thanh Thảo rưng rưng cảm động, bùi ngùi hình dung ra những người
đồng độ
i
của mình: "Những người sốt rét đang cơn - Dấu chân bấm xuống đường trơn
có nhoè?". Hữu Thỉnh
t
rong
trường ca “Đường tới thành phố” nhiều lần nói đến "cơn
sốt rét rừng run bắn". Trong thơ Nguyễn Đức
M
ậ
u,
că
n
bệnh sốt rét cứ trở đi trở lại.
Nó bám riết
t
uổ
i thanh xuân của người lính: "Nơi thuốc súng trộn vào áo
lí
nh
- Cơn
sốt rét rừng
đ
k
ê
u
:
Vào mặt trận lúc mùa ve đang
kê
u
Dẫu hòn bi lăn hết vòng tuổi
nhỏ
Trong những ba lô kia ai bảo là không
c
ó
Một hai ba giọng hát chú ve
ki
m?
(Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu - Hoàng Nhuận Cầm)
Và trong lửa đạn khốc liệt, những người lính ấy vẫn hướng tới cuộc sống thanh
bình, hướng tới những điều bình dị nhất của tuổi trẻ:
- Vừa tiu nghỉu tiếng bom
rung
Đã nghe nhỏng nhảnh chim rừng tán
nhau
(Tiếng chim sau trận B52 - Nguyễn
Duy)
- Giữa một vùng lửa cháy bom rơi
Tất cả
l
ộ
nguyên hình trần trụi
Cây xấu hổ với màu
h
ơ
của Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy người đọc sẽ thấy rất rõ
điều này. Hình ảnh
ng
ười
lính qua thơ của các nhà thơ trẻ không chỉ là những con
người bình tĩnh, can trường, dũng cảm mà còn
là
những con người có đời sống tinh
thần, đời sống nội tâm phong phú. Đời sống nội tâm ấy được thể hiện
qu
a
những tình
cảm, suy nghĩ về tình đồng đội, tình cảm với quê hương, với người mẹ và những
người
t
h
â
n
thiết ở hậu phương. Có thể nói rằng, bằng chính máu thịt của tâm hồn
mình, các nhà thơ trẻ thời kỳ
c
hống
Mỹ đã dựng lên một cách cụ thể và sinh động
bức chân dung tinh thần của cả một thế hệ trẻ cầm súng:
"
cả
thế hệ dàn hàng - gánh
đất nước trên vai" (Bằng
CHƯƠNG 2
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT - TỪ
CHÂN DUNG ĐẾN BẢN CHẤT
Phạm Tiến Duật đến với đề tài người lính
b
ằ
ng
s
ự
t
r
ải
nghiệm của người trong
cuộc. Do đó, những cảm nhận của ông về người
lí
nh
vừa gần gũi, vừa chân thực, vừa sâu
sắc. Ông viết về người chiến sỹ như viết về bản thân mình. Nếu
a
nh
bộ
đội trong thơ
Tố Hữu mang sức mạnh thần thoại, có khả năng lay trời chuyển
đ
ất:
Anh đi xuôi ngược tung
hoành
động cao đẹp mà còn là con người của đời thường với đời sống
nộ
i tâm
phong phú. Hình tượng người
lí
nh
là
hình tượng trung tâm trong thơ kháng chiến của
Phạm
T
iến Duật (kể cả những tác phẩm viết sau
1975)
nó
i riêng và thơ trẻ chống Mỹ
nói chung. Có thể nói rằng, Phạm Tiến Duật đã góp một tiếng thơ
c
h
â
n
t
h
ực
,
sâu sắc
trong việc hoàn thiện bức chân dung về người chiến sỹ trong chiến
t
r
ng,
nơi khốc liệt của chiến tranh, bom rơi, đạn nổ nhưng họ
hiểu vì sao họ
ph
ải
chiến đấu. Đất nước này còn đến mai sau phụ thuộc vào chính thế
hệ những người cầm súng ấy. Vì
t
h
ế
,
họ
chấp nhận sự mất mát, hy
s
inh. Hy sinh tuổi
thanh xuân, hy
s
inh cả tính mạng của mình, nhưng họ
b
iết
sự hy sinh
c
ủ
a
mình không
vô ích
:
Mười năm sống xa phố, xa
l
n
quê yên ả" để được thắp đèn
"chơi trăng ngoài thềm". Nhưng để thực hiện được ước mơ chân chính
v
à
g
iả
n
dị ấy,
các thế hệ người Việt Nam đã phải đánh đổi bằng máu và nước mắt, bằng hạnh phúc
c
ủ
a
m
ỗ
i
cá nhân. Những gian khổ, hy sinh mà họ phải chịu đựng là có thật, hiện hữu
từng ngày, từng
g
iờ
.
Trong thơ Phạm Tiến Duật, anh bộ đội đã trở thành những con người lý tưởng của
thời đại. Họ đại
d
iện cho giai cấp, cho cộng đồng, trực tiếp làm nhiệm vụ mà sứ mệnh
lịch sử dân tộc đã trao vào tay
họ.
Chân dung anh bộ đội luôn hiện diện ngời sáng, nổi
hình ảnh anh bộ đội lái xe, những
ng
ười
lính công binh, những anh pháo thủ, người
lính coi kho, trên tuyến đường Trường Sơn gây ấn tượng
t
h
ật
đặc
b
iệt
.
2.1…Từ chân dung…
2.1.1. Là những con người vô cùng anh dũng
Thơ Phạm tiến Duật viết nhiều về người lính, bản
thân nhà thơ là người trong
cuộc nên ông viết về mình, viết về đồng đội chân thực, hồn nhiên hơn ai
h
ết
.
Giữa bom
réo, bom rơi, chiến trường ngổn ngang cây đổ, giữa tiếng gầm gào của đại bác, trên
những
c
on
đường "Bụi mù trời mùa hanh, nước trắng khe mùa
l
ũ
" (Gửi em cô thanh
niên xung phong) những đoàn
ữ
ng
người chiến sỹ ấy đó cũng là chuyện bình thường thật vì nó diễn
ra hàng ngày, hàng giờ. Gian lao nối
tiế
p
gian lao, nguy hiểm chồng chất nguy hiểm,
nhưng họ vẫn vượt qua. Họ có thể rất khác nhau về tính nết, cá
tí
nh
nhưng họ có một
điểm rất chung: cùng chung mục đích, cùng chung lý tưởng. Những điểm chung ấy
đ
ã
giúp họ vượt qua được những giới hạn đời thường để họ trở thành một khối đoàn kết, trở
thành sức mạnh
vô
song.
Ý chí và nhận thức của họ được chuyển hoá vào những hành động cụ
t
h
ể:
Bỗng nhiên bên rừng bom nổ
Chiếc
xe
bùng cháy bất ngờ
Chúng tôi lao vào
dập
lửa
hông
kính là một bài thơ tiêu
biểu. Ông đã đưa một mảng hiện thực của đời sống chiến trường vào trong
t
h
ơ
,
một
thứ hiện thực trần trụi, nóng bỏng hơi thở cuộc sống và dường như không cần một
c
hú
t
dụng công nghệ thuật
n
à
o
:
Không có kính không phải vì xe không có
kí
nh
Bom giật, bom rung kính vỡ đi
rồ
i
.
(Bài thơ về tiểu đội xe không
kí
nh)
Không chỉ không có kính, xe không có mui, thùng xe có xước Tất cả đều thiếu
hụt, mất
mát
r
ậ
n
:
Ung dung buồng lái ta
ngồ
i
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn
t
hẳng.
(Bài thơ về tiểu đội xe không
kí
nh)
Những người lính lái xe hoàn toàn chủ động trước hoàn cảnh, dù khó khăn đến
thế nào họ
c
ũng
có thể vượt qua. Chân dung người chiến sỹ lái xe Trường Sơn trở nên
vừa lớn lao, vừa gần gũi. Họ
h
iể
u
những khó khăn nơi chiến trường là lẽ đương nhiên.
Là người trong cuộc, nhà thơ viết về cái khổ không
ph
ải
để kể khổ mà
nó
i đến như một
lẽ thường tình. Xe không có kính thì "Bụi phun tóc trắng như
ữ
ng
c
h
iếc
xe
không kính. Chiến tranh có thể tàn phá đời sống vật chất nhưng làm sao phá được "lòng
dân ta
y
ê
u
nước thương nhà" (Đất nước - Nguyễn Đình Thi). Tinh thần lạc quan, bình
tĩnh, tự tin, nêu cao tinh thần
t
r
ác
h
nhiệm, gan góc trên đường ra tiền tuyến là đặc điểm
nổi bật ở những người chiến sỹ lái xe này. Thêm
m
ộ
t
nét
đẹp nữa ở anh bộ đội lái xe là
tình đồng đội, gắn bó. Những khoảng thời gian ngắn ngủi được tụ
họp
t
r
biết bao những những người lính khác vẫn ngày đêm đối diện với quân
thù. Đó là những người lính
c
ông
binh, lính pháo thủ, lính thông tin và lính coi kho. Như
một nhà nhiếp ảnh tài ba, Phạm Tiến Duật đã ghi
lại
chân dung của họ một cách sinh
động. Trong thơ Phạm Tiến Duật, những con
ng
ườ
i ấy thật đáng yêu.
Ông
không chỉ có
tài trong việc quan sát những biểu hiện bên ngoài, mà quan trọng hơn là những
d
iễn
biến
v
ề
tâm trạng. Đây là bức tranh về những người chiến sỹ trước lúc vào trận
đ
á
nh
:
Rơi từ mây những cánh bướm
đ
e
n;
Cậu chiến sỹ bên tôi ngồi xuống, đứng
P
hạm Tiến Duật tô điểm qua cái nhìn lãng mạn hoá
mà
b
ì
nh
dị và chân thực như nó đã và đang diễn
r
a
.
Trên con đường Trường Sơn ấy, hình tượng người lính công binh trong thơ Phạm
Tiến Duật
c
ũng
t
h
ật
đặc
s
ắc:
Những đồng chí công binh lầm
lì
Mùi bộc phá trộn vào trong tiếng
há
t
Trên áo giáp lấm đầy đất
c
á
mưa bi sắt"
nhưng họ vẫn vượt lên bằng tinh thần "tiếng hát át tiếng bom". Ở họ có một niềm tin
mãnh
liệt
khiến
ng
ười
đọc
ph
ải
cảm
phụ
c:
Hun hút đường khuya rì rầm rì rầm
Tiếng mạch
đấ
t
hai miền hoà làm một
Và vầng trăng, vầng trăng
đấ
t
nước
Mọc qua quầng lửa mọc lên
c
ao.
(Vầng trăng và những quầng
l
ửa)
nh
:
Bom giật liên hồi
Lỗ
t
a
i
c
hả
y
máu
Xông lên
phá
đư
ờ
ng
Mặc cho áo
c
há
y
.
(Ngãng thân
yê
u)
Về bài thơ này, Phạm
T
iến Duật cho biết: "Hiếm thấy có nơi nào đến mấy chục
người tật
ở
vẻ đẹp giản dị, hồn nhiên trong hình tượng, ở cảm xúc chân thành của
người viết, nhất là khi viết về anh
bộ
độ
i
.
2.1.2. Là những con người với khát vọng sống và tình yêu thiết tha
Phạm Tiến Duật viết không ngừng nghỉ với đề tài người lính, ông khai thác tất cả
các khía cạnh, từ chân dung đến tâm hồn, lúc họ đang chiến đấu và cả lúc họ tạm nghỉ
ngơi,ông từng vẽ một bức tranh dân gian về người lính về một buổi chiều trong hầm
đại bác. Trong
t
h
ơ
ca viết về anh bộ đội ít có bức tranh nào sinh động đến
t
h
ế:
Lại buồn cười mấy cậu công binh
Thích vỏ
đạn,
suốt trưa ngồi ngắm,
Thương mấy anh thông
ti
n
lận đận
Xin phao bơi đưa máy qua
sông.
nh
tượng
người lính coi kho trên tuyến đường Trường Sơn, chỉ có điều, dù là lính gì đi chăng nữa
thì hình ảnh của họ trong thơ Phạm Tiến Duật cũng làm ám ảnh người
đọ
c:
Đồng chí coi kho
ơi
Mười năm sống xa phố, xa làng
Tám năm
ở
trong núi trong hang
Tất cả riêng
c
hung
Dành cho miền Nam tất
c
ả
(Tiếng cười của đồng chí coi
k
ho)
Đây chỉ là một trong muôn vàn người lính coi kho trên tuyến đường Trường
Sơn. Sự hy
s
i
nh
thầm lặng của họ đã góp phần không nhỏ vào sự thắng lợi của cuộc
chiến tranh cứu quốc vĩ đại. Họ
góp
các
anh rung động, thương
cảm nhất chính là những em bé mồ côi. Ở bất kỳ nơi nào trên thế gian này,
t
rong
chiến
tranh, nạn nhân tội nghiệp nhất vẫn là những em bé. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, nhà thơ
Nguyễn
Đ
ì
nh
Chiểu
đ
ã
ghi lại điều
đ
ó:
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ
c
hạ
y
22
Mất ổ đàn chim dáo dác
ba
y
(Chạy
Tây)
Trong thơ Phạm Tiến Duật, chiến tranh cũng đẩy các em đến tình cảnh bơ vơ,
không cha,
các
em
phải chịu đựng. Hàng ngàn trẻ em Tây Nguyên mồ côi đã được bộ
đội cõng về nuôi nấng, dạy dỗ.
Mộ
t
mái ấm tình thương được dựng lên che chở các
em:
Đường về hậu phương xa thật là
x
a
Thôi ở lại đây, ống tay các anh cắt ra tha hồ
mặ
c
Lá cây lợp thành nhà, gỗ kê thành bàn
họ
c
Lính quân đoàn thay nhau làm thầy giáo giảng
bà
i
.
(Gửi các em bé ở trường văn hoá Tây Nguyên
ngà
y
t
rư
ớc
)
Khung cảnh đơn sơ nhưng tấm lòng rộng mở, nồng ấm, các
i
Bom đạn đã coi thường kể gì no
đó
i
Chỉ mong các em mau lớn thành
ngư
ời
.
(Gửi các em bé trường văn hoá Tây Nguyên
ngà
y trước)
Chất lãng mạn cũng là một điểm
đặc
nổ
i bật trong hình tượng
ng
ười
lính đã được
Phạm
T
iến Duật thể hiện. Đó là những tâm hồn giàu cảm xúc, đầy ắp nhớ thương.
Nh
ữ
ng
vùng
làng giữa rừng Trường Sơn không khỏi làm họ xúc động, một tiếng mèo
23
kêu mà "sôi lòng sôi dạ",
t
uổ
i trẻ với tình yêu
đôi lứa, với những niềm hạnh phúc giản
d
ị.
Mang
trong mình trái tim đầy cảm xúc, hình
tượng người lính trở thành một trong những hình tượng đẹp
nh
ất
trong thơ kháng chiến
của Phạm Tiến
Du
ật
.
Có thể nói rằng, Phạm
T
iến Duật đã đem đến cho thơ ca Việt Nam một góc nhìn
mới mẻ về người lính. Khi nói về anh hùng, người ta thường
nó
i tới khoảng cách sử thi
giữa nhân vật được ngợi ca và tác
giả.
Tác giả thường lùi xa để chiêm ngưỡng đối
tượng miêu tả của mình. Nhưng hình tượng người lính của Phạm Tiến Duật
v
ĩ
đại trong
chính sự bình dị của đời sống chiến đấu thường nhật. Sự gian khổ, khốc liệt, hi sinh
là con
gái. Chất nữ
tí
nh
của họ làm xao xuyến bao
ng
ười:
Em là cô bộ đội lái
xe
Giặc nhằm bắn bốn bề lửa cháy
Cái buồng lái
l
à
buồng con gái
Vẫn cành hoa mềm mại cài
ngang.
24
(Niềm tin có
t
hậ
t
)
Đoàn thanh niên xung phong phá đá sửa
đư
ờ
ng
Dẫu hố bom kề bên còn bay mùi
k
h
ét
m
Một cô gái không nhìn rõ
mặ
t
Đại đội thanh niên đi lấp hố
bom
Áo em hình như trắng
nhấ
t
.
(Gửi em cô thanh niên xung
phong)
Gửi em cô thanh niên xung phong có thể xem là bản tình ca, bản anh hùng ca
tuyệt vời nhất
c
ủ
a
Phạm Tiến Duật viết về "những người con gái ở rừng". Bài thơ trải
dài trong cảm xúc miên man,
t
rong
hành trình đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: "có lẽ
nào anh lại mê em, một cô gái không nhìn rõ
mặt
".
Đúng
là chiến tranh - một bối cảnh
khác thường, nó khiến cho những điều không thể đều trở thành có
t
n)
Cái miệng em ngoa cho bạn cười
g
i
òn
Giọng Hà tĩnh nghe buồn cười đáo
đ
ể
.
25