TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
*************
NGUYỄN THU HIỀN
HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ HÌNH TƢỢNG
NGƢỜI CHIẾN SĨ TRONG TIỂU THUYẾT
TUỔI THƠ DỮ DỘI CỦA PHÙNG QUÁN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi
HÀ NỘI – 2016
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
*************
NGUYỄN THU HIỀN
HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ HÌNH TƢỢNG
NGƢỜI CHIẾN SĨ TRONG TIỂU THUYẾT
TUỔI THƠ DỮ DỘI CỦA PHÙNG QUÁN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. TRẦN THỊ MINH
Nguyễn Thu Hiền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 6
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
6. Cấu trúc của khóa luận .................................................................................. 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
Chương 1 ........................................................................................................... 7
HIỆN THỰC CHIẾN TRANH TRONG TUỔI THƠ DỮ DỘI ........................ 7
1.1. Phùng Quán và tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội............................................... 7
1.1.1. Tiểu sử và sự nghiệp ............................................................................... 7
1.1.2. Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội - một hiện tượng văn học thiếu nhi thời
kì đổi mới ........................................................................................................ 11
1.2. Hiện thực những năm tháng chiến tranh ác liệt trên mảnh đất cố đô
13
1.2.1. Huế - những ngày đầu kháng chiến ................................................... 13
1.2.1.1. Xứ Huế mộng mơ, yên bình trong thời chiến .................................. 13
1.2.1.2. Xứ Huế bị tàn phá đau thương ........................................................ 18
1.2.1.3. Chiến tranh và sự thử thách ............................................................ 22
1.2.2. Những phát hiện mới về đời sống kháng chiến ................................ 29
1.2.2.1. Đời sống kháng chiến gian khổ “nếm mật nằm gai”...................... 29
1.2.2.2. Vẻ đẹp của đời sống kháng chiến .................................................... 37
Chương 2 ......................................................................................................... 44
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI CHIẾN SĨ TRONG TUỔI THƠ DỮ DỘI .............. 44
mảng văn học viết về đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam nói chung và
văn học thiếu nhi nói riêng. Nhắc đến Phùng Quán, chúng ta không thể không
kể đến tiểu thuyết lớn nhất của ông: Tuổi thơ dữ dội. Tác phẩm được viết
trong thời kỳ gian nan, cực nhọc nhất của Phùng Quán, viết trong kí ức, trong
nỗi day dứt buồn đau, bởi thế, tác phẩm này như lời bộc bạch chân thành của
nhà văn.
Tuổi thơ dữ dội là cái nhìn đầy cảm phục của tác giả trước sự chiến đấu,
dũng cảm quên mình của đội Vệ Quốc Đoàn con nít, là một thứ tình cảm đầy
1
xót xa ẩn sau cái nhìn ấy. Xót xa về mất mát, xót xa về sự hi sinh của tuổi thơ.
Sự hi sinh nào cũng là đau đớn, nhưng sự hi sinh của tuổi thơ càng đau đớn đến
bội phần. Tuổi thơ dữ dội là một tác phẩm xuất sắc, có ý nghĩa lớn đối với nền
văn học Việt Nam, đặc biệt khi tập trung khắc họa hình ảnh đội thiếu niên trinh
sát Trần Cao Vân trong bức tranh toàn cảnh Huế - Thừa Thiên những ngày
kháng chiến ác liệt. Thế giới nhân vật trẻ thơ hết sức phong phú, mỗi nhân vật
lại mang một cá tính, đặc điểm riêng không thể lẫn, mang theo những ham
muốn phi thường, mang theo tư tưởng mà nhà văn gửi gắm, đã gặp những tình
huống đầy éo le làm chúng thêm gắn kết. Những tháng năm hùng tráng ẩn sau
đó là bao sự thật đau thương đầy nghiệt ngã. Cả một thế hệ trẻ thơ hi sinh tuổi
thơ của mình cho Huế trở về mộng mơ, cho “đất nước đứng lên”. Chính điều
này làm nên giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc nhưng không kém phần mới
mẻ cho tác phẩm trong nền văn học đương đại Việt Nam.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Hiện
thực chiến tranh và hình tượng người chiến sĩ trong tiểu thuyết “Tuổi thơ
dữ dội” của Phùng Quán. Thực hiện đề tài này, người viết hi vọng sẽ đóng
góp một góc nhìn mới về tác phẩm xuất sắc này. Qua đó, có cái nhìn toàn diện
hơn về hiện thực chiến tranh được tái hiện trong văn học, đồng thời, khẳng
Trong chuyên luận Truyện viết cho thiếu nhi sau 1975, nhà nghiên cứu
Lã Thị Bắc Lý dành nhiều trang đánh giá về Tuổi thơ dữ dội trên cả phương
diện nội dung và nghệ thuật, coi đây như minh chứng về những đổi mới của
truyện viết cho thiếu nhi sau 1975. Nhà nghiên cứu cho rằng: “Tác giả có cái
nhìn cảm phục trước sự chiến đấu dũng cảm quên mình của đội Vệ Quốc
Đoàn con nít, nhưng trong chiều sâu của cái nhìn ấy có sự xót xa về mất mát,
hi sinh, đau đớn gấp bội phần. Hình ảnh đội thiếu niên trinh sát Trung đoàn
Trần Cao Vân được lồng trong bức tranh toàn cảnh những ngày Huế - Thừa
Thiên kháng chiến. Những nhân vật nhỏ tuổi ở đây với những ham muốn phi
thường đã gặp nhiều tình huống éo le, bị thúc đẩy, dồn nén, gắn bó với
3
nhau… Đời sống lịch sử được cảm nhận qua cuộc kháng chiến hết sức hùng
tráng nhưng cũng đầy nghiệt ngã. Cả một thế hệ trẻ thơ đã hi sinh tuổi thơ của
mình cho đất nước đứng lên” [Xem 16].
Nhà văn Nguyễn Khắc Phê trong bài Sự thật ngòi bút Phùng Quán nhấn
mạnh: “Ngay cả trong những tác phẩm nổi tiếng như Vượt Côn Đảo và Tuổi
thơ dữ dội, mặc dù tiểu thuyết là một thể loại văn học cho phép nhà văn thỏa
sức tưởng tượng và hư cấu, Phùng Quán vẫn tận dụng tối đa nhân vật, những
chi tiết có thật ngoài đời” [Xem 19].
Nhà văn Việt Linh viết: “Tôi đọc Tuổi thơ dữ dội và những năm đầu
thập kỷ 60, từ khi tác phẩm còn là những trang tư liệu của Phùng Quán. Suốt
nghìn trang sách, khắc sâu vào trong lòng tôi hai chữ trung hiếu. Một nỗi đau
xé lòng khi ta nhắc đến lời trăng trối cuối cùng của Mừng, nhân vật trong
truyện, trước lúc em đi vào cõi vĩnh hằng” [Xem 13].
Nhà thơ, nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo nhận định: Tuổi thơ dữ dội không
phải là một câu chuyện cổ tích, mà là một câu chuyện có thật ở chốn trần
gian, ở đó những con người tuổi nhỏ đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống
pha lê chiếu sáng lòng độc giả cũng đến dữ dội” [Xem 10].
Qua những nhận xét khái quát trên, có thể thấy rằng tác phẩm Tuổi thơ dữ
dội đã được đón nhận, đánh giá như một hiện tượng văn học, được đánh giá cao
cả về nội dung và giá trị nghệ thuật. Tuy nhiên, cho đến nay gần như chưa có
công trình nào đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ toàn diện và độc lập hiện thực
chiến tranh những ngày đầu kháng chiến trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của
Phùng Quán. Nhưng những ý kiến đó là một điểm tựa, những gợi ý bổ ích mang
tính chất định hướng cho chúng tôi trong quá trình hình thành khóa luận.
3. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu bức tranh hiện thực thành phố Huế và hình tượng người
chiến sĩ những năm kháng chiến chống Pháp trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội
của Phùng Quán.
5
- Có được cái nhìn phong phú, toàn cảnh về hiện thực thành phố Huế nói
riêng cũng như hiện thực xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đương thời nói
chung và vẻ đẹp anh dũng của một thế hệ trẻ thơ trong chiến tranh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện thực chiến tranh và hình tượng người
chiến sĩ trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán.
- Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán do
Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2006.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học
- Phương pháp so sánh văn học
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung
Nếu như câu chuyện Phùng Quán trở thành chiến sĩ tự nhiên như qui luật
thì chuyện ông trở thành một nhà văn thật ly kì. Ông đến với nghề cầm bút
không phải từ sách vở, từ lý luận, từ vốn kiến thức thu thập được từ qua
trường lớp mà từ chính thực tế cuộc sống của nhân dân lao động và từ chính
7
bản thân mình, từ con đường tự học mà nên. Cuộc đời của Phùng Quán không
phải là những trang sách màu hồng và cũng chẳng hề nên thơ như những áng
văn thơ, cuộc đời chẳng vẽ cho ông một con đường bằng phẳng, tuổi thơ dữ
dội qua đi, Phùng Quán bước vào tuổi trưởng thành đầy cực nhọc, gian nan và
cay đắng. Nhắc đến Phùng Quán, khó ai có thể quên được sự nghiệt ngã sau vụ
Nhân văn - Giai phẩm khiến ông phải “treo bút” suốt ba mươi năm ròng, ba
mươi năm trời chịu bao cay đắng, gian khổ, ba mươi năm sống trong cảnh “cá
trộm, cơm chịu, văn chui” với hàng loạt các tác phẩm lấy bằng nhiều bút danh
khác nhau, nhưng trước sau, ông vẫn là một nhà văn tâm huyết với đời, là một
kiện tướng không biết mệt mỏi trong việc giữ gìn nhân cách của người cầm bút.
Cuộc sống nặng nhọc, trầm uất cứ như thế cho đến thời kỳ đổi mới,
Phùng Quán mới được viết văn, làm thơ dưới cái tên đích thực của mình. Ông
là nhà văn để lại nhiều dấu ấn khó phai trong lịch sử văn học Cách mạng Việt
Nam từ nửa sau thế kỷ XX. Dù phải vượt qua vô vàn tai ương đau khổ suốt ba
mươi năm, thế nhưng, ông không hề thù oán hay trách móc bất cứ một ai, vẫn
cặm cụi viết, “viết ngay, viết thẳng từ dòng đấu đến dòng cuối”, luôn xưng
tụng đất nước, xưng tụng nhân dân, cách mạng, xưng tụng tình yêu bằng
những tác phẩm văn chương cuốn hút, thiết tha và nhân bản. Phùng Quán đã
để lại trong lòng bạn bè, đồng nghiệp một nhân cách cao cả, một lòng tin yêu
đồng đội và nhân văn sâu sắc, một tấm gương lao động hết mình,… với gần
trăm tác phẩm thơ, trường ca, tiểu thuyết, truyện tranh,… được nhiều thế hệ
bạn đọc mến mộ. Từ sau cuộc sống trầm uất, nặng nhọc, khi được phục hồi hội
thơ như: Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1954), Tôi tự hào chế độ nước tôi
(1955), Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi (1955), Chống tham ô lãng phí (1956)
- bài thơ bộc lộ rõ nét tính cách và nhân cách tác giả, Lời mẹ dặn (1957),...
Phùng Quán không chỉ viết bằng mực mà ông còn viết bằng chính bằng máu
thịt của mình. Nhưng bi kịch thay, hai tác phẩm thơ Lời mẹ dặn và Chống
tham ô lãng phí đã đẩy ông tới bước ngoặt đau thương của cuộc đời, bị kết là
9
Nhân văn - Giai phẩm, là làm phản, bị tước quyền xuất bản tác phẩm.
Ba mươi năm bị treo bút nhưng không ngày nào ông không sáng tác.
Trong thời gian này, Phùng Quán còn viết cả truyện tranh. Những câu chuyện
từ thực tế cuộc sống được ông mang vào trong văn, trong thơ. Là một người
viết truyện đa năng, Phùng Quán viết khoảng 60 truyện tranh cho thiếu nhi ở
tất cả các đề tài. Với đề tài chiến đấu nơi biên giới xa xôi, nổi lên các tác
phẩm: Vàng A Sìn kể chuyện đánh giặc, Tên thám báo và hai em bé,… Với đề
tài chống Pháp có: Thiên tình sử Điện Biên, Tiếng đàn trong đêm khuya, Dòng
sông mất tích,… Đề tài lịch sử có: Tiếng chuông Thiên Mụ, Người cầm cờ lệnh
vua Quang Trung,… Truyện cổ tích bằng thơ có: Chàng Ná, Bốn anh em tài
giỏi,… Nhiều tác phẩm của ông được dịch ra tiếng Nga, Trung Quốc,…
Ngoài ra, Phùng Quán còn có nhiều tác phẩm khác viết về nghệ thuật
sáng tác và diễn tấu, nhiều bài báo cảm động in trên các báo Văn nghệ, Người
Hà Nội, Tiền Phong,… Ông còn vô cùng thành công ở thể loại truyện ngắn
với nhiều tác phẩm được giải thưởng trong và ngoài nước dưới nhiều bút danh
khác nhau như: Con cò vàng trong cổ tích, Cuộc đời một đôi dép cao su,
Thạch Sanh cháu Bác Hồ, Dũng sỹ chép còm, Người du kích hói đầu, Tiếng
đàn trong rừng thẳm,…
Với thể loại văn xuôi, Phùng Quán đã để lại những áng văn bất hủ cho
đời. Văn xuôi Phùng Quán là những trang văn được chắt ra từ mồ hôi, nước
cũng chính là tác phẩm văn xuôi thành công nhất của Phùng Quán, thể hiện rõ
nhất năng lực văn chương và con người ông. Tác phẩm là kết quả gần 20 năm
lao động miệt mài từ khi được khởi thảo bên bờ Hồ Tây năm 1968 đến lúc
hoàn thành trong lều cỏ giữa hồ Tịnh Tâm năm 1986. Tuổi thơ dữ dội được
xuất bản năm 1988 đã nhanh chóng đạt được nhiều thành công vang dội: được
nhận giải thưởng Văn học thiếu nhi của Hội nhà văn Việt Nam và hai năm sau
đó, cuốn sách được chuyển thể thành phim.
Tác phẩm xây dựng thành công bức tranh hoành tráng về cuộc kháng
11
chiến trường kỳ của dân tộc, là một hồi ký tự truyện kể lại quá trình tham gia
kháng chiến chống Pháp giành độc lập của những người lính trinh sát tuổi
mười ba. Đó cũng chính là một phần đời của tác giả. Phùng Quán đã dồn tất
cả tinh thần vào sáng tác ở khắp mọi nơi, viết trong hồi tưởng, trong hoài
niệm, trong nỗi day dứt, niềm thương yêu, kiêu hãnh với tất cả tâm sức và bút
lực của một nhà văn.
Tuổi thơ dữ dội ra đời là một trong ba dự định lớn nhất suốt cuộc đời vất vả,
khó nhọc của Phùng Quán. Tác phẩm là một trong những thành công lớn nhất của
Phùng Quán và là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết cho thiếu nhi về đề tài
kháng chiến trong thời kỳ đổi mới, là cuốn sách đầu tiên công khai bằng tên của
mình sau ba mươi năm viết chui. Tác giả đã khẳng định một cách chính xác, vững
vàng tên tuổi của mình trên văn đàn văn học Việt Nam đương thời.
Từ đề tài đã trở nên quen thuộc trong văn xuôi Việt Nam, đến lượt
Phùng Quán, cũng từ chính đề tài chiến tranh ấy, ông đã xác lập một cái nhìn
hoàn toàn mới về hiện thực lịch sử, thể hiện sự tôn trọng, niềm tự hào dân tộc,
tinh thần đấu tranh về lịch sử oai hùng của dân tộc một cách hoàn toàn độc
đáo. Chiến tranh không chỉ được khai thác ở phương diện hào hùng với tinh
thần đề cao chủ nghĩa anh hùng Cách mạng mà còn được nhìn nhận ở cả
động của thời cuộc, vẫn mang lại giá trị lịch sử, có ý nghĩa to lớn đối với các
thế hệ độc giả.
1.2. Hiện thực những năm tháng chiến tranh ác liệt trên mảnh đất cố đô
1.2.1. Huế - những ngày đầu kháng chiến
1.2.1.1. Xứ Huế mộng mơ, yên bình trong thời chiến
Xứ Huế mộng mơ là nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng tâm hồn nhà văn
Phùng Quán. Chính vì lẽ đó, trong hoài niệm của ông luôn in đậm hình ảnh
quê hương trong những ngày đầu kháng chiến. Một miền quê đã đi vào thơ ca
với vẻ đẹp của sông Hương, núi Ngự. Một miền quê đã khắc ghi dấu ấn của
bao thời đại huy hoàng với những thành quách, lăng tẩm,… Và Huế cứ mộng
mơ, yên bình như thế.
13
Bước vào chiến tranh, vẻ đẹp của Huế những ngày đầu kháng chiến vẫn
làm xao xuyến lòng người, khiến bao tâm hồn thêm say, thêm mê, thêm yêu
Huế. Nhắc đến Huế, ta chẳng thể nào quên được vẻ đẹp dịu dàng, nên thơ,
ngọt ngào của dòng sông Hương - người con gái thướt tha uốn quanh bao
bọc Huế, người mẹ hiền tường tận từng ngóc ngách của trái tim con mình.
Mặc dù chiến tranh bao trùm nhưng dòng sông vẫn luôn dịu hiền, vẫn ôm trọn
vào lòng mình những thiên thần bé nhỏ mỗi lần ghé thăm. Đó là khi những
cậu bé ngây thơ của đội Vệ Quốc Đoàn con nít đùn đẩy nhau, có phần nhút
nhát vốn có của trẻ thơ, thi nhau thử lòng gan dạ của mình bằng cách nhảy từ
trên cầu xuống dòng sông Hương đang nũng nịu. Để đến khi một chú bé dũng
cảm nhảy xuống, mặt sông xanh biếc, lăn tăn sóng, đón lấy nó, nhẹ nhàng,
thân thuộc chứ không ầm ĩ như đón những anh mới tập nhảy [23, 17]. Trong
những ngày đầu kháng chiến, bom rơi, đạn nổ vẫn là thưa hơn, bớt những
tiếng nghe xé lòng người ta hơn, Huế vẫn còn được mộng mơ, yên bình
nhiều hơn.
yên bình, mộng mơ này. Dường như Huế chẳng để sự xấu xa, bẩn thỉu của
bọn xâm lăng nhuốm màu, chẳng để bầu trời mùa đông ẩm ướt, ngổn ngang
những đám mây chì đen bẩn mãi ngự trị, trời Huế chợt hửng nắng. Cái màu
nắng hiện ra sau những cơn mưa rào rả rích, thối đất thối cát, mới trông rực
rỡ làm sao! [23, 115]. Huế vẫn cứ lan tỏa vẻ đẹp của mình bất chấp mọi sự
ngăn cản: trời Huế mỗi lúc một thêm quang quẻ như có một cái chổi khổng lồ
vô hình đang ra sức quét dọn. Da trời xanh thao thiết, cao vời vợi hiện ra
cùng với màu nắng mới trong ve… Điều kì lạ hơn hết là cái màu nắng mới
rực rỡ ấy lại làm cho đầu óc con người bỗng trở nên sáng suốt, tươi vui, táo
bạo, tự tin gấp bội phần. Và làm cho lòng người bừng tỉnh náo nức, muốn lập
nên những kì tích thật vang dội. Những chiến công thật lẫy lừng… [23, 116].
Huế như đang mang vẻ đẹp vốn có của mình vượt lên sự tàn bạo của thế lực
xấu xa để tiếp thêm sức mạnh, thêm động lực chiến đấu cho những chiến sĩ
15
thiếu niên, quyết tâm gạt sạch quân thù ra khỏi miền đất cố đô, ra khỏi bờ cõi
của Tổ quốc Việt Nam.
Sự mộng mơ, yên bình hiếm hoi và vô cùng quí giá của Huế trong những
ngày tháng chiến đấu đó chính là tiếng đàn, tiếng nhạc. Mỗi tiếng đàn của
nhạc sĩ tí hon Quỳnh sơn ca ngân lên như là sự quyến rũ của Huế đối với con
người ta. Những giai điệu dịu dàng, mơ màng, uyển chuyển như dòng sông
Hương êm đềm trôi dưới ánh trăng làm xao xuyến bao tâm hồn, làm dịu đi
tiếng bom đạn réo rắt, xua tan mọi khó khăn, vất vả trong đời sống chiến đấu.
Huế không chỉ mộng mơ với vẻ đẹp của dòng sông Hương mà Huế còn
vô cùng cuốn hút ở bao vẻ đẹp khác. Phùng Quán đã khéo léo mang những
cảnh vật, những nét thiên nhiên thơ mộng đa dạng của xứ Huế vào trong
những trang văn, làm cho người đọc như có cảm giác đang được đặt chân lên
chính miền đất yên bình ấy. Xa cố đô, theo chân những chiến sĩ Vệ Quốc
phải kiếm thêm cho Mừng vài bộ quần áo để thay đổi. Đợi cho đến khi được
ban Quân nhu Mặt trận cấp phát còn lâu. Với lại phải sửa soạn cho Mừng cái
ba lô…” [23, 34]. Những chiến sĩ tí hon chẳng hề đắn đo, hành động như bản
ngã của một người con xứ Huế, một người lính Cụ Hồ thực thụ ùn ùn mang
đến cho Mừng nào áo, nào quần, nào thắt lưng, bao đạn và bao đò vật linh
tinh khác. Cuộc sống đậm tình người, chan chứa tình yêu thương ấy khiến
người ta cảm động đến rơi nước mắt. Giữa lúc khó khăn, lửa đạn quân thù có
thể ập tới bất cứ lúc nào, khi người ta phải gom góp, chắt bóp, nhặt lượm mọi
thứ có thể tích trữ được thì những chiến sĩ tí hon này lại chẳng hề đắn đo, sẵn
sàng cho bạn tất cả nhưng gì tốt nhất mà mình có để bạn đầy đủ từ hành trang
đến tinh thần sẵn sàng chiến đấu.
Cuộc sống quân nghiêm với tinh thần kỉ luật cao trong doanh trại đã rèn
rũa, tôi luyện những cậu bé nhỏ tuổi ấy trở thành những người con Huế đích
thực, trở nên cứng cáp hơn, trưởng thành hơn. Dù vậy, cái bản chất vốn có,
cái hồn nhiên, ngây thơ của lứa tuổi vốn dĩ các em được hưởng thì vẫn chẳng
17
nào lớn được. Vẫn là đam mê thú vui trẻ con nhưng xem xiếc, chơi chọi dế,
những trò chơi, thú vui của trẻ nhỏ. Những ngày đầu kháng chiến, xứ Huế yên
bình như thế, ngập tràn trong sự hồn nhiên, ngây thơ, trong những trò chơi và
suy nghĩ thơ dại của những chiến sĩ tí hon. Những giây phút hiếm hoi càng
khiến người ta nuối tiếc Huế thời không bom đạn.
Không cần những gì nguy nga, tráng lệ, Phùng Quán đã vô cùng tinh thế
và khéo léo khi vẽ nên bức tranh những ngày đầu kháng chiến nơi xứ Huế
thân thương bằng những hình ảnh rất bình dị trong cuộc sống hàng ngày ở
doanh trại của đội thiếu niên trinh sát Trần Cao Vân. Nó hồn nhiên, yên bình,
mộng mơ khiến độc giả thêm yêu và trân trọng từng giây, từng phút của cuộc
đời mình hơn.
ran… chúng chui ra hết khỏi những hang ổ bấy lâu nay ẩn náu, liên tiếp mở
những trận phản kích điên cuồng vào những đơn vị quân số ít ỏi của quân ta.
Pháo hiệu xanh đỏ bắn lên tới tấp từ bốn phía, như những làn roi bầm tím
quất lên bầu trời thành phố u ám mây chì [23, 183]. Bọn giặc cướp nước lộ rõ
nguyên hình là những con ác thú đội lốt người, chúng điên cuồng bắn phá,
chống trả quân ta. Trong thời điểm này thế giặc mạnh như lũ tràn, các làng
xã ven đường số một: An Hòa, Hiền Sĩ, Phú Ốc, Phò Trạch,… lần lượt lọt vào
tay chúng. Cuộc kháng chiến tỉnh Thừa Thiên bước vào thời kỳ khó khăn,
gian khổ, đen tối nhất [23, 125]. Phùng Quán đã miêu tả rất rõ những diễn
biến của cuộc chiến với những đợt tấn công ồ ạt, sự tàn phá của giặc như một
nỗi ám ảnh với người dân mảnh đất này. Huế bị tàn phá một cách đau thương,
làm mỗi trái tim con người như bị rỉ máu, xót xa cho cảnh tượng hoang tàn,
đổ nát nơi đây.
Mảnh đất nhỏ bé hình chữ S này đã yên bình được bao lâu? Cũng chỉ vài
chục năm tiếng súng. Những kí ức kinh hoàng vẫn còn nguyên đó từ những
bảo tàng chứng tích, những thước phim tư liệu, những tấm ảnh mỗi lần nhìn
vào đó ta không khỏi bàng hoàng và ghê sợ và cả trong những cuốn sách mà
19