1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN THỊ THU HÀ
VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM CỦA
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Qua nghiên cứu trƣờng hợp tại Trƣờng Trung học phổ thông
Thƣờng Tín, huyện Thƣờng Tín và trƣờng Trung học phổ thông Yên Hòa,
Cầu Giấy, Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
3
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 8
2.1. Ý nghĩa khoa học 8
2.2. Ý nghĩa thực tiễn 8
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 8
3.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 13
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15
4.1. Mục đích nghiên cứu 15
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 15
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 16
5.1. Đối tượng nghiên cứu 16
5.2. Khách thể nghiên cứu 16
5.3. Phạm vi nghiên cứu 16
6. Câu hỏi, giả thuyết, khung phân tích và phương pháp nghiên cứu 16
6.1. Câu hỏi nghiên cứu 16
6.2. Giả thuyết nghiên cứu 17
6.3. Khung phân tích 18
6.4. Phương pháp nghiên cứu 19
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 22
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 22
1.1.1 Các khái niệm công cụ 22
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1. Kết luận 90
2. Khuyến nghị 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 99
5
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Mức độ “nắm rõ” các thông tin về học tập của con theo nghề nghiệp
của bố mẹ 44
Bảng 2.2: Mức độ bố mẹ quan tâm, hỗ trợ việc học của con 45
Bảng 2.3: Mức độ quan tâm đến việc học tập của con theo trình độ học vấn của
bố mẹ 46
Bảng 2.4: Hình thức khen ngợi khi con đạt kết quả học tập tốt theo mức sống
hộ gia đình 48
Bảng 2.5: Đối tượng được học sinh THPT tâm sự về lo lắng, khó khăn trong
học tập theo nghề nghiệp của bố mẹ 54
Bảng 2.6: Hình thức chia sẻ khó khăn về học tập của học sinh THPT với người
thân 55
Bảng 2.7: Vai trò hỗ trợ của người thân đối với những khó khăn trong học tập
của học sinh THPT 57
Bảng 2.8: Vai trò của gia đình đối với khó khăn trong học tập của học sinh
THPT 59
Bảng 2.9: Các lý do học sinh THPT không chia sẻ khó khăn trong học tập với
gia đình 60
Bảng 2.10: Lý do không chia sẻ khó khăn về học tập với gia đình theo địa bàn
sinh sống 62
Bảng 2.11: Đối tượng biết bạn thân của học sinh THPT theo địa bàn sinh sống
65
Bảng 2.12: Đối tượng được học sinh THPT tâm sự khi gặp khó khăn trong mối
66
Biểu 2.10. Đối tượng được học sinh THPT hỏi ý kiến kết bạn theo địa bàn sinh
sống 67
Biểu 2.12. Vai trò hỗ trợ của gia đình đối với khó khăn trong quan hệ bạn bè
của học sinh THPT 74
Biểu 2.13. Đối tượng biết học sinh THPT đang có người yêu 80
Biểu 2.14: Đối tượng biết học sinh THPT đang có người yêu theo địa bàn sinh
sống 81
Biểu 2.15: Đối tượng được học sinh THPT chia sẻ mối quan hệ yêu đương 83
Biểu 2.16: Đối tượng được học sinh THPT tâm sự về chuyện yêu đương theo
địa bàn 84
Biểu 2.17: Vai trò hỗ trợ của gia đình đối với quan hệ yêu đương của học sinh
THPT 86
Biểu 2.18. Lý do học sinh THPT không chia sẻ chuyện yêu đương với gia đình
88
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình và đặc biệt là các bậc cha mẹ đóng vai trò vô cùng quan trọng
đối với sự hình thành và phát triển toàn diện của con cái. Mặc dù vậy, không
phải lúc nào, ở đâu, gia đình và cha mẹ cũng nhận thức và thực hiện tốt được
các chức năng này. Trong bối cảnh hiện nay, việc thực hiện các chức năng của
gia đình đối với con cái chịu sự tác động khá lớn bởi nhiều yếu tố bên ngoài.
Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái đứng trước khá nhiều thách thức. Do bận
rộn với hoạt động kinh tế để mưu sinh, nhiều cha mẹ không có thời gian hoặc
dành rất ít thời gian để quan tâm đến những vấn đề của con. Một số người quá
chú trọng đến việc chu cấp đầy đủ vật chất cho con mà không để ý đến những
tâm tư, tình cảm của chúng. Giữa cha mẹ và con cái ngày càng tồn tại khoảng
cách vô hình. Nhiều đứa con cảm thấy cô đơn ngay giữa ngôi nhà của mình vì
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Dựa trên kết quả nghiên cứu, ta có thể đánh giá được gia đình hiện nay
đang đóng vai trò như thế nào đối với đời sống tình cảm của học sinh trung học
phổ thông, sự gắn kết giữa cha mẹ và con cái trong trường hợp này diễn ra như
thế nào. Kết quả nghiên cứu là tài liệu có giá trị tham khảo cho giảng dạy xã
hội học gia đình, xã hội học giáo dục, cũng như các bậc cha mẹ, các nhà giáo
dục đưa ra biện pháp cải thiện tình hình thực tế.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Các chức năng của gia đình là một trong những chủ đề thu hút được sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học. Trong đó, chức năng giáo dục
nhận được sự chú ý từ các nghiên cứu hơn cả. Tác giả Nguyễn Linh Khiếu đề
cập đến mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay[20]. Tác giả cho
rằng, quan niệm giáo dục của gia đình chưa thoát khỏi quan niệm truyền thống
là gia giáo nhưng trong giai đoạn hiện nay, việc giáo dục con cái nên hướng tới
xây dựng con người phát triển toàn diện, thống nhất giữa mặt tự nhiên và xã
hội trong bản thân mỗi con người. Ngoài ra, ông nhấn mạnh đến vấn đề giáo
dục giới tính và giáo dục tình dục cho thế hệ trẻ trong gia đình vẫn còn ít được
quan tâm [20]. Theo Nguyễn Linh Khiếu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên là một bộ phận của giáo dục gia đình nhưng ít được đề cập đến [20,
tr.443]. Bởi vì, nhiều người vẫn có quan niệm giáo dục sức khỏe sinh sản vị
9
thành niên là “vẽ đường cho hươu chạy”. Nghiên cứu của Nghiêm Sỹ Liêm
“Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay” đã đưa
ra thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục gia đình đối với thế hệ
trẻ hiện nay. Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất những phương
hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của gia đình đối với trẻ em [23].
Nghiên cứu của Đoàn Thị Thanh Huyền tìm hiểu khía cạnh giáo dục đạo đức
cho con cái trong các gia đình nông thôn hiện nay. Tác giả đề cập đến thực
nghề nghiệp ổn định, cuộc sống gia đình hạnh phúc, tư cách đạo đức tốt, sức
khỏe tốt, có địa vị xã hội… [31]. Tuy nhiên, ở một nghiên cứu khác do Viện
Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện, ứng xử của cha mẹ khi con cái mắc lỗi
thường mang tính tiêu cực hơn là tích cực. Cha mẹ thường không kiềm chế
được cảm xúc cá nhân nên có những ứng xử không phù hợp như quát tháo và
đánh đòn, thậm chí là đuổi con ra khỏi nhà. Không có nhiều người ứng xử tích
cực như lắng nghe, tìm hiểu nguyên nhân, khuyên nhủ, động viên con bằng
những lời nói nhẹ nhàng, tình cảm hoặc sử dụng hình thức kỷ luật hợp lý với
những khuyết điểm của con cái [29]. Trần Thị Kim Anh đã làm rõ vị trí, vai trò
của cha mẹ trong việc giáo dục trẻ em trong các lĩnh vực giáo dục đạo đức, tri
thức, định hướng nghề nghiệp và giới tính [2]. Cũng cùng chủ đề vai trò của
gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ em, nghiên cứu của Tăng Thị
Tuyết Trinh đã làm sáng tỏ nội dung giáo dục đạo đức, phương pháp giáo dục
đạo đức, những nhân tố tác động đến việc cha, mẹ giáo dục đạo đức cho con
cái cũng như đưa ra một số giải pháp khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục đạo đức cho trẻ em trong giai đoạn hiện nay [42]. Tác giả Trần Thị
Hồng Chuyên cũng tìm hiểu về vai trò giáo dục con cái của cha mẹ nhưng tập
trung vào khía cạnh phòng tránh tệ nạn ma túy. Nghiên cứu này đã mô tả thực
trạng giáo dục con cái phòng tránh tệ nạn ma túy của các bậc cha mẹ tại một xã
thuộc huyện Mộc Châu, Sơn La. Đồng thời, nghiên cứu quan tâm đến nội dung,
cách thức và thời điểm cha mẹ giáo dục con cái phòng tránh tệ nạn ma túy cũng
như các nhân tố tác động và thuận lợi, khó khăn của việc này [6].
Nói chung, chức năng giáo dục của gia đình đã thu hút được sự quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Các nghiên cứu khác nhau đã khẳng định được
vai trò quan trọng của gia đình đối với việc hình thành và xây dựng nhân cách
thế hệ trẻ. Nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, những nhân tố ảnh
hưởng… được nhiều tác giả tập trung làm rõ. Tuy nhiên, chức năng tâm lý –
11
tình cảm của gia đình đối với các thành viên, đặc biệt là con cái vẫn chưa được
12
của Nguyễn Ánh Hồng chỉ ra, cha mẹ học sinh đã dành sự quan tâm nhiều đến
đạo đức, lối sống, kết quả học tập, sức khỏe và định hướng nghề nghiệp tương
lai của các em. Tuy nhiên, những mối quan hệ trong đời sống tình cảm của học
sinh, sự tham gia của các em vào các hoạt động xã hội thì chưa được cha mẹ
quan tâm đúng mức [14]. Cũng tương tự như nghiên cứu của Đặng Bích Thủy,
nhóm tác giả Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh và Hà Thị Minh Khương
xem xét sự quan tâm của bố mẹ đối với con cái ở hai khía cạnh: việc học tập và
quan hệ bạn bè của con. Việc quan tâm đến học tập của con được xem xét từ
các chỉ báo: cha mẹ tham gia quyết định chọn trường lớp, thời gian học ở nhà,
và việc học thêm của trẻ; mức độ cha mẹ biết thời gian học ở trường, thời gian
học tập ở nhà và kết quả học tập của trẻ. Về quan hệ bạn bè của con, nghiên
cứu chú ý đến hiểu biết các quan hệ bạn bè của con như: biết bạn thân, biết nơi
con thường đến. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng tìm hiểu quan hệ cha mẹ với
con cái trong đời sống tình cảm, công việc gia đình, xử lý khi con cái mắc lỗi
và suy nghĩ của con về mối quan hệ với cha mẹ [2]. Trong đời sống tình cảm
của con cái, nghiên cứu tập trung làm rõ người được con cái lựa chọn để tâm sự
khi có chuyện buồn. Có thể thấy, chỉ báo này chưa đủ để nói lên toàn bộ đời
sống tình cảm của con cái. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, khá nhiều người
được con cái để tâm sự khi có chuyện buồn, trong đó cha mẹ ở vị trí khác nhau.
Tuy nhiên, đối tượng đầu tiên mà con cái tìm đến để tâm sự khi buồn là bạn bè,
rồi đến mẹ và đến những người thân khác trong gia đình, cuối cùng mới là
người cha [2]. Các tác giả cũng đã tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến mối
quan hệ cha mẹ - con cái. Đó là trình độ học vấn, nghề nghiệp của cha mẹ; địa
bàn sinh sống, mức sống, quy mô hộ gia đình [2]. Các kết quả nghiên cứu cho
thấy, cha mẹ càng học vấn cao thì tỷ lệ con cái tâm sự với cả cha lẫn mẹ cao
hơn. Mức sống gia đình càng cao, cha mẹ càng có xu hướng tham gia nhiều
hơn vào việc quyết định bạn bè của con. Bên cạnh việc học tập và mối quan hệ
bạn bè, quan hệ yêu đương đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống tình cảm
thần của vị thành niên (Jami F. Young, Kathuy Berenson, Patricia Cohen và
Jesenia Garcia, 2005). Quan hệ cha mẹ và con cái vị thành niên mang tính gắn
kết cao là một yếu tố ảnh hưởng tích cực tới thành tích học tập của vị thành
niên (Hair et all, 2002). Sự tham gia, quan tâm của cha mẹ đối với việc học tập
của con cái khiến cho kết quả học tập của vị thành niên (14 – 18 tuổi) cũng cao
hơn (Herman, Dornbusch, Herron và Herting, 1997. Dẫn theo Moore et al,
14
2002). Tỷ lệ bỏ học ở trẻ bước vào giai đoạn đầu của lứa tuổi vị thành niên
giảm đáng kể khi cha mẹ quan tâm tới việc học tập của chúng (Garnier và
Stein, 1998. Dẫn theo Hair et al). Một trong những hành vi lệch chuẩn như bỏ
học, phạm pháp, bạo lực hay tội phạm của vị thành niên bắt nguồn từ sự lệch
lạc của mối quan hệ gia đình, đặc biệt mối quan hệ giữa người bố và vị thành
niên (Hair et al, 2002). Sự quan tâm của người cha khiến vị thành niên ít tham
gia vào các hành vi bạo lực (Blum và Rinehart, 1997; Resnick et al, 1997. Dẫn
theo Hair et al, 2002), sự gần gũi của người mẹ giảm tỷ lệ vị thành niên có
những hành vi lệch chuẩn hơn (Bahr, Marcos, và Li, 1998. Dẫn theo Moor et
al, 2004). Cha mẹ và con cái có mức độ gắn kết cao, hoặc cha mẹ hiểu biết và
thường xuyên chia sẻ các mối quan tâm, lo lắng và biết về tình hình của con cái
tuổi vị thành niên sẽ làm giảm nguy cơ con cái có các hành vi lệch chuẩn, các
hành vi bạo lực, bỏ học sớm, sử dụng các chất gây nghiện (Moore K.A & Zaff
J. 2002, Garcia DC, & Hasson DJ. 2004. Dẫn theo Ikramullah E.et al, 2009).
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự khác nhau trong cách thực hành
vai trò cha mẹ có ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của sự phát triển về nhận
thức, xã hội, thể chất và tình cảm. Sự khác biệt trong các phong cách cha mẹ sẽ
dẫn tới các kết quả khác nhau như thành tựu về học thuật, lòng tự trọng, hành
vi lệch chuẩn, tự chủ, sự trưởng thành về tình cảm và khả năng lãnh đạo…
Những người có thực hành cha mẹ hạn chế có thể làm cho vị thành niên trải
nghiệm các vấn đề phức tạp, thực hành cha mẹ tốt dẫn đến vị thành niên điều
chỉnh tốt và thành công. Theo Diana Baumrind, các kiểu thực hành cha mẹ
Đưa ra các biện pháp cụ thể nâng cao vai trò của gia đình đối với đời
sống tình cảm của học sinh trung học phổ thông
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa và thao tác hóa các khái niệm, lý thuyết sử dụng trong
nghiên cứu
Tìm hiểu vai trò của gia đình đối với đời sống tình cảm của học sinh
trung học phổ thông
Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của gia đình trong đời
sống tình cảm của học sinh trung học phổ thông.
Đề xuất một số giải pháp tăng cường vai trò của gia đình đối với đời
sống tình cảm của học sinh trung học phổ thông
16
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của gia đình đối với đời sống tình cảm của học sinh trung học phổ
thông
5.2. Khách thể nghiên cứu
Học sinh Trung học phổ thông được chọn là khách thể trung tâm của
nghiên cứu này do học sinh trung học phổ thông nằm trong giai đoạn
muộn của tuổi vị thành niên, có đầy đủ những đặc trưng tâm sinh lý của
lứa tuổi
Bố/mẹ có con học Trung học phổ thông
Ông/ bà có cháu học Trung học phổ thông
Anh/chị/em của học sinh Trung học phổ thông
5.3. Phạm vi nghiên cứu
5.3.1 Phạm vi nội dung
Do điều kiện thời gian và khả năng tiếp cận, đề tài chỉ đi sâu tìm hiểu một
số vấn đề trong đời sống tình cảm của học sinh Trung học phổ thông xoay
quanh: việc học hành, mối quan hệ tình bạn, tình yêu.
Đặc điểm của gia đình
(địa bàn sinh sống, loại
hình, mức sống)
Đặc điểm của bố mẹ
(trình độ học vấn, nghề
nghiệp) Vai trò của gia đình đối với tình cảm liên quan việc học
tập, bạn bè và tình yêu của học sinh trung học phổ thông
Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội
19
6.4. Phương pháp nghiên cứu
6.4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
6.4.1.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp bao gồm các
Cơ cấu mẫu của đề tài cụ thể như sau:
Trường học: (đơn vị: %)
- Đại diện cho địa bàn nông thôn: Trường Trung học phổ thông Thường
Tín, huyện Thường Tín: 150 (chiếm 50%)
- Đại diện cho địa bàn thành thị: Trường Trung học phổ thông Yên Hòa,
quận Cầu Giấy: 150 (chiếm 50%)
- Trong đề tài này, chúng tôi tìm hiểu sự khác biệt của những nội dung
nghiên cứu giữa địa bàn nông thôn và thành thị thông qua sự so sánh giữa hai
trường THPT nói trên.
Giới tính: (đơn vị: %)
- Học sinh nam: 139 (chiếm 46,3%)
- Học sinh nữ: 161 (chiếm 53,7%)
Khối lớp: (đơn vị: %)
- Học sinh lớp 10: 100 (chiếm 33,3%)
- Học sinh lớp 11: 100 (chiếm 33,3%)
- Học sinh lớp 12: 100 (chiếm 33,3%)
21 22
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1.1 Khái niệm gia đình
Có thể thấy, “gia đình” là một trong những phạm trù xuất hiện sớm nhất
trong lịch sử nhân loại. Từ “gia đình” có lẽ được sử dụng nhiều nhất trong ngôn ngữ
quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có ngân sách chung” (dẫn theo Nguyễn Linh
Khiếu, 2003:33). Cục Điều tra dân số Mỹ cung cấp khái niệm gia đình là “hai hoặc
hơn hai người, bao gồm chủ hộ, có quan hệ với nhau bởi huyết thống, hôn nhân
hoặc quan hệ với nhau bởi huyết thống, hôn nhân hoặc quan hệ con nuôi (nghĩa
dưỡng) và những người sống cùng với nhau như một hộ gia đình”
(http://www.midtermpapers.com/1833.htm). Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết
thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ
với nhau theo quy định của Luật này. Như vậy, có thể rút ra một số tiêu chí xác định
gia đình: là một nhóm người (có từ hai người trở lên), có quan hệ với nhau bởi hôn
nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn
nhân, cùng chung sống và có ngân sách chung. Luận văn này sử dụng định nghĩa
gia đình: “Gia đình là một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết
thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân,
cùng chung sống, có ngân sách chung”.[48]. Trong đó, luận văn chú ý đến các khía
cạnh của gia đình như: mối quan hệ huyết thống hoặc nghĩa dưỡng, cùng chung
sống.
Xét theo số thế hệ trong gia đình, chúng ta có thể phân loại các gia đình
thành: Gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng và gia đình gốc. Gia đình hạt nhân chỉ
bao gồm 2 thế hệ: Cha mẹ và thế hệ con cái. Trong hình thái này, gia đình bao gồm
ít nhất 3 trục quan hệ cơ bản: Quan hệ vợ chồng; Quan hệ cha mẹ - con cái. Nếu gia
đình có từ 2 con trở lên, thì thêm trục quan hệ giữa con cái với nhau tức là quan hệ
anh chị em (dẫn theo Mai Huy Bích, 2010). Trong gia đình hạt nhân có hai biến thể,
một là gia đình đầy đủ, trong đó có đủ cả hai vợ chồng với con cái chưa kết hôn của
24
họ. Một biến thể khác là gia đình không đầy đủ, cũng bao gồm hai thế hệ (cha mẹ
và con cái chưa kết hôn) nhưng trong thế hệ thứ nhất (tức thế hệ cha mẹ) không đủ
hai người của cặp vợ chồng, mà chỉ có một người (hoặc mẹ hoặc cha) do nhiều
nguyên nhân khác nhau (ly hôn, góa, không hoặc chưa kết hôn mà có con…). Trong
Việt Phương, Trịnh Huy Hoá) nói đến vai trò tức là nhấn mạnh vào những kì vọng
xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích sự vận
hành của những kì vọng ấy. Có hai cách tiếp cận khác nhau trong lí thuyết vai trò:
Theo cách tiếp cận thứ nhất là phát triển nhân học xã hội, Ralph Linton giải
thích cấu trúc về các vai trò trong hệ thống xã hội. Ở đây, vai trò trở thành các
nhóm quyền lợi và nghĩa vụ quy chuẩn được thiết chế hoá nghiêm ngặt.
Nội dung cách tiếp cận thứ nhất bao gồm:
Cách giải thích cấu trúc về vai trò, xác định một vị thế trong xã hội, ví dụ :
Vai trò của một giáo viên và sau đó cố gắng mô tả một quyền lợi và trách nhiệm
chuẩn mực gắn với một kiểu loại lí tưởng của vị trí này.
Những kì vọng xã hội ấy cấu thành vai trò. Bất cứ ai cũng giữ một vị thế
(như làm cha mẹ, làm giáo viên). Nó tạo nên một hệ các vị thế, mỗi một vị thế chứa
đựng một vai trò riêng của nó.
Mỗi một vai trò lại gắn với một nhóm đối tác khác nhau và mỗi nhóm đó lại
có một hệ các kỳ vọng riêng của họ. Ví dụ: Một giáo viên có thể có các đối tác vai
trò là sinh viên, đồng nghiệp, trưởng khoa, người quản lí và phụ huynh, mỗi người
trong số họ sẽ có những kỳ vọng tương đối khác nhau về hành xử của giáo viên.
Tổng những kỳ vọng của những đối tác này gọi là hệ vai trò.
Theo cách tiếp cận thứ hai là tiếp cận tâm lí học xã hội, các tác giả tập trung
vào các quy trình chủ động tạo dựng, tiếp nhận và đóng vai trò. Đây là một phần
của truyền thống tương tác biểu trưng và kịch trường trong đó truyền thống kịch
trường phân tích đời sống xã hội thông qua phép ẩn dụ nghệ thuật sân khấu.