Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa - Pdf 28

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với cuộc cách mạng KH&CN hiện đại, mỗi bớc tiến của đời sống
xã hội ngày càng cho thấy trí tuệ là tài nguyên quí giá nhất trong mọi tài
nguyên, nhất là khi nhân loại đang nhìn lại thế kỷ 20 và bớc vào thế kỷ 21.
Trí thức là một nguồn nhân lực quan trọng để xây dựng và phát triển đất nớc.
Đúng nh lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Trí thức là vốn liếng quí báu của
dân tộc"
(1)
và nhận định của nguyên Tổng bí th Đỗ Mời: "Trí thức là đại diện
cho trí tuệ của dân tộc"
(2)
.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã và đang khẳng định vai trò quan
trọng của tầng lớp trí thức. Ngày nay, trí thức Việt Nam có cơ cấu đa dạng và
phong phú; đang từng bớc trởng thành, tăng về số lợng, nâng cao về trình độ
chuyên môn và nghiệp vụ. Tuy vậy, đội ngũ này có tỷ lệ trên dân số còn thấp,
cơ cấu và phân bố cha cân đối, còn nhiều bất hợp lý; chất lợng cha cao, còn
thiếu nhiều cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi. Số đông cán bộ có trình độ cao
đều đã lớn tuổi, đang có nguy cơ hẫng hụt thế hệ...
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực và bồi dỡng nhân tài. Giáo dục ĐH và SĐH là một bộ phận rất
quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam. Giáo viên giữ vai trò
quyết định trong việc bảo đảm chất lợng giáo dục và đào tạo. Thế nhng, hiện
nay, trong các trờng ĐH đội ngũ GV vừa thiếu và vừa yếu, tỷ lệ GV có trình
độ SĐH còn thấp và trong những năm trớc mắt sẽ có tình trạng thiếu ngời
thay thế cho các cán bộ có trình độ cao sắp nghỉ hu.
Trí thức KH Mác-Lênin có ở hầu hết các trờng ĐH với số lợng khá lớn.
Đội ngũ này có nhiệm vụ giảng dạy các môn KH Mác-Lênin, t tởng Hồ Chí
Minh và thực hành công tác chính trị-xã hội cho SV; thực hiện NCKH và các
công tác khác trong các trờng ĐH.

+ Những công trình có tính chất định hớng cho sự nghiên cứu về trí thức
trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nớc nh: "Trí thức Việt Nam trong sự
nghiệp đổi mới xây dựng đất nớc" của Đỗ Mời, Nxb Chính trị quốc gia, năm
1995; "Trí thức và công tác trí thức của Đảng" của Nguyễn Đình Tứ và
Phạm Tất Dong, Tạp chí Cộng sản, số 12, năm 1996; "Chủ nghĩa xã hội và trí
(
3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 159.
17 18
thức" của Nguyễn Duy Thông, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Trọng Chuẩn, Nxb Sự
thật, năm 1984; "Quan điểm và chính sách của V.I. Lênin đối với trí thức
trong cách mạng xã hội chủ nghĩa" của Trịnh Quốc Tuấn, Tạp chí Nghiên
cứu lý luận, số 4, năm 1995 v.v.
+ Những công trình nghiên cứu nói lên vai trò, vị trí, đặc điểm, động lực
sáng tạo của trí thức trong đời sống-xã hội, nh: "Vị trí, vai trò của tầng lớp
trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Phan
Việt Dũng, luận án PTS triết học, Hà Nội-1988; "Về nội dung phạm trù trí
thức" của Nguyễn Thanh Tuấn, Tạp chí Triết học, số 2 (6.1991); "Động lực
của trí thức trong lao động sáng tạo ở nớc ta hiện nay" của Phan Thanh
Khôi, luận án PTS triết học, Hà Nội-1992; "Vai trò giới trí thức trong sự
nghiệp đổi mới" của Hà Học Trạc, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, số 1, năm
1994 v.v.
+ Những công trình nghiên cứu ở tầm vĩ mô về thực trạng, xu hớng,
những vấn đề đặt ra, giải pháp cho đội ngũ trí thức nớc ta nh: "Luận cứ khoa
học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực lao động sáng tạo của giới
trí thức và sinh viên" là đề tài KH cấp nhà nớc, mã số KX04-06 do GS Phạm
Tất Dong chủ biên, năm 1994 v.v.
+ Những công trình NCKH ít nhiều có đề cập đến đội ngũ trí thức KH
Mác-Lênin trong các trờng ĐH, có: "Kỷ yếu hội nghị đào tạo đại học các
năm 1993, 1995, 1998" của Bộ Giáo dục và Đào tạo; "Lịch sử Đại học và
Trung học chuyên nghiệp Việt Nam" do Lê Văn Giạng chủ biên, Viện

ĐH và SĐH phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc theo
định hớng XHCN.
Nhiệm vụ của luận án tập trung giải quyết các vấn đề sau đây:
+ Làm rõ các khái niệm công cụ và tính đặc thù của đội ngũ trí thức KH
Mác-Lênin trong các trờng ĐH.
17 18
+ Làm rõ quá trình hình thành của đội ngũ này trong các trờng ĐH.
+ Chỉ ra đợc thực trạng, xu hớng phát triển; đặc trng và tính quy luật của
việc phát triển và phát huy đội ngũ này.
+ Kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ trí thức KH
Mác-Lênin ở các trờng ĐH trong thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đội ngũ trí thức KH Mác-Lênin trong các trờng ĐH ở nớc ta hình thành
và phát triển hàng chục năm nay, chủ yếu trực tiếp giảng dạy các môn KH
Mác-Lênin cho SV. Tuy vậy, có một số ngời làm việc ở các
lĩnh vực khác của nhà trờng. Vì thế, đề tài này có phạm vi nghiên cứu
nh sau:
+ Chủ yếu là nghiên cứu đội ngũ trí thức KH Mác-Lênin đang trực tiếp
giảng dạy trong các trờng ĐH (trừ các trờng ĐH thuộc lực lợng vũ trang) ở n-
ớc ta hiện nay. Song cũng có đề cập ở một mức độ hợp lý đến những trí thức
KH Mác-Lênin làm việc ở các lĩnh vực khác trong các trờng ĐH.
+ Về thời gian, chủ yếu đề cập đến giai đoạn nớc ta bớc vào sự nghiệp
đổi mới (1986) đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn:
+ Luận án đợc thực hiện trên cơ sở lý luận của nghĩa Mác-Lênin, t tởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta.
+ Luận án còn kế thừa hợp lý những thành tựu nghiên cứu lý luận của
các ngành KH xã hội và nhân văn liên quan đến vấn đề cần giải quyết cho
mục đích luận án.

Luận án gồm: Mở đầu; ba chơng (6 tiết); kết luận; danh mục công trình
của tác giả; tài liệu tham khảo.
17 18
nội dung cơ bản của luận án
Chơng 1
Đội ngũ trí thức Khoa học Mác-Lênin
trong các trờng Đại học-Một bộ phận quan trọng
của trí thức ngành giáo dục và đào tạo
1.1 Trí thức và trí thức khoa học Mác-Lênin trong các trờng đại học
1.1.1 Trí thức
Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt chuyên lao động trí óc phức tạp,
có trình độ học vấn, chuyên môn sâu, đại diện cho đỉnh cao của trí tuệ đơng
thời mà xã hội đạt đợc. Trí thức là những ngời sáng tạo, phổ biến và vận dụng
tri thức vào đời sống xã hội, thúc đẩy nhanh sự phát triển văn hóa và tiến bộ
xã hội. Trí thức có chức năng sáng tạo, chức năng phê phán, chức năng đào
tạo cán bộ, đào tạo trí thức mới và chức năng xã hội. Trí thức hoạt động trên
nhiều lĩnh vực khác nhau, nh kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hóa, giáo
dục, KH, văn học nghệ thuật v.v. Trí thức càng phát triển thì cơ cấu trí thức
càng biến đổi đa dạng và phong phú.
1.1.2 Trí thức khoa học Mác-Lênin
Trớc hết, chúng ta phải làm rõ các khái niệm: "Chủ nghĩa Mác-Lênin",
"lý luận Mác-Lênin" và "khoa học Mác-Lênin".
"Chủ nghĩa Mác-lênin" là thuật ngữ chỉ học thuyết cách mạng của Mác
và Lênin, đồng thời nhấn mạnh sự kế tục và đóng góp sáng tạo của Lênin vào
chủ nghĩa Mác. Đó là một hệ thống có căn cứ KH của các quan điểm triết
học, kinh tế, chính trị-xã hội...; là học thuyết về nhận thức và cải tạo thế giới,
về những qui luật phát triển của tự nhiên, xã hội và t duy con ngời, về những
con đờng cách mạng lật đổ chế độ bóc lột và xây dựng CNCS; là hệ t tởng
của giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là các đảng cộng sản.
Ph.Ăng-ghen cũng đã xác nhận: "Nếu không có Mác thì lý luận thật khó

4) C.Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 428.
17 18
ở các trờng đại học và chuyên nghiệp phải là những ngời tiêu biểu cho lớp trí
thức xã hội chủ nghĩa"
(5)
.
Hiện nay, KH Mác-Lênin đợc đa vào giảng dạy, học tập và nghiên cứu
trong các trờng ĐH nớc ta, mà đề tài này đề cập bao gồm 5 môn: Triết học
Mác-Lênin, Kinh tế học chính trị Mác-Lênin, CNXH KH, Lịch sử Đảng cộng
sản Việt Nam và T tởng Hồ Chí Minh. Tơng ứng là: GV Triết học Mác-
Lênin, GV Kinh tế chính trị Mác-Lênin, GV CNXH KH, GV Lịch sử Đảng
cộng sản Việt Nam và GV T tởng Hồ Chí Minh. Đội ngũ này chúng tôi gọi
chung là đội ngũ GVKH Mác-Lênin.
Trí thức KH Mác-Lênin trong các trờng ĐH là một bộ phận của trí
thức KH Mác-Lênin, đồng thời là một bộ phận của trí thức trong các trờng
ĐH. Họ giảng dạy, NCKH và công tác khác trong các trờng ĐH.
Đội ngũ trí thức KH Mác-Lênin trong các trờng ĐH là tập hợp những
ngời trí thức KH Mác-Lênin ở các trờng ĐH, đợc tổ chức thành lực lợng hoạt
động theo mục đích của các trờng ĐH đề ra.
Xây dựng đội ngũ trí thức KH Mác-Lênin trong các trờng ĐH là quá
trình làm cho đội ngũ này trở thành lực lợng đủ mạnh theo một phơng hớng
nhất định, để đội ngũ đó hoàn thành tốt công việc đợc giao trong các trờng
ĐH.
Nh vậy, trong các trờng ĐH, "Trí thức KH Mác-Lênin" chính là "GVKH
Mác-Lênin", "Đội ngũ trí thức KH Mác-Lênin" chính là "Đội ngũ GVKH
Mác-Lênin", "Xây dựng đội ngũ trí thức KH Mác-Lênin" chính là "Xây dựng
đội ngũ GVKH Mác-Lênin" (từ đây về sau, các mệnh đề tơng đơng trên đợc
dùng nh nhau).
Ngoài những phẩm chất chung của trí thức Việt Nam, nh: Giàu lòng yêu
nớc, gắn bó với sự nghiệp giữ gìn nền độc lập và thống nhất đất nớc; có tâm

GVKH Mác-Lênin ở những trờng ĐH đợc Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép
còn trực tiếp đào tạo cán bộ lý luận Mác-Lênin từ trình độ ĐH trở lên cho đất
nớc. SV tốt nghiệp các chuyên ngành KH Mác-Lênin ra trờng làm việc ở các
17 18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status