`
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NÔNG HỒNG HẠNH ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI LOẠI HÌNH
SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÂY HÀNG NĂM TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN TẤT CẢNH
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
Tôi xin trân trọng cám ơn UBND huyện Hòa An, tập thể phòng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn huyện, phòng Thống kê, phòng Tài nguyên và
Môi trường huyện Hòa An, đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài trên
địa bàn.
Tôi xin cám ơn đến gia đình, người thân, các cán bộ đồng nghiệp và
bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện
đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả Nông Hồng Hạnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng i
1.6 Khái niệm loại hình sử dụng đất 16
1.7 Thay đổi loại hình sử dụng đất và nguyên nhân của sự thay đổi đó 18
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.3.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử
dụng đất huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng . 23
2.3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất của huyện Hòa An 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 24
2.4.2 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 24
2.4.3 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất 24
2.4.4 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 25
3.4.2 Hiệu quả xã hội trước và sau sự thay đổi các loại hình sử dụng
đất trồng cây hàng năm trên địa bàn huyện Hòa An. 67
3.4.3 Hiệu quả môi trường trước và sau sự thay đổi các loại hình sử
dụng đất trồng cây hàng năm trên địa bàn huyện Hòa An. 74
3.4.4 Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi các loại hình sử dụng đất trên
địa bàn huyện Hòa An 78
3.4.5 Một số khó khăn gặp phải sau khi thay đổi loại hình sử dụng đất 80
3.5 Đề xuất các loại hình sử dụng đất thích hợp và giải pháp thực hiện 81
3.5.1 Đề xuất các loại hình sử dụng đất thích hợp cho huyện Hòa An 81
3.5.2 Đề xuất các giải pháp thực hiện 83
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 88
1 Kết luận 88
2 Đề nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 92Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
2.1 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất 25
3.1 Tổng hợp các loại đất chính của huyện Hòa An 30
3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Huyện Hoà An so với toàn tỉnh
Cao Bằng. 34
3.3 Các loại hình sử dụng đất hàng năm chính của huyện giai đoạn
2000-2005 46
3.4 Các loại hình sử dụng đất hàng năm chính của huyện giai đoạn
2005-2013 51
3.5 Sự thay đổi các loại hình sử dụng đất hàng năm chính của huyện trong
2 giai đoạn nghiên cứu 55
3.6 Sự thay đổi diện tích các loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm ở
tiểu vùng 1 56
3.7 Sự thay đổi diện tích các loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm ở
tiểu vùng 2 56
3.8 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính 58
3.9 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính của tiểu vùng 2 58
3.10 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính 59
3.11 Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chính 60
3.12 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính 60
3.13 Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chính 62
3.14 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính 63
3.15 Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chính 64
3.16 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính 65
3.17 Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chính 65
3.18 Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất trước khi thay đổi 68
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ưu ái ban
tặng cho con người. Nó có một vai trò và vị trí vô cùng quan trọng trong sự tồn tại
và phát triển của loài người, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh và quốc phòng.
Trong thời kỳ kinh tế phát triển mạnh, do sự gia tăng dân số nhanh, nhu cầu
phát triển ngày càng nhiều, con người đã khai thác quá mức các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất đai dẫn đến nguy cơ giảm về số lượng và chất
lượng của nguồn tài nguyên này. Trong nông nghiệp, đất đai là đối tượng lao động.
Từ đó vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải sử dụng tài nguyên này sao cho hiệu quả và
hợp lý, đặc biệt đây là loại tài nguyên không thể thay thế, là nền tảng đối với sự sinh
tồn và phát triển.
Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, con người khai thác các nguồn
lợi tự nhiên từ đất để đảm bảo các nhu cầu về lương thực và vật dụng của xã hội. Vì
vậy sản xuất nông nghiệp là một hệ thống có vai trò quan trọng trong mối quan hệ
của tự nhiên với kinh tế - xã hội. Quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững đã
định hướng những đề tài nghiên cứu cùng những ứng dụng quan trọng và cấp bách
trong sản xuất nông nghiệp của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Việt Nam là một nước có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, phần lớn dân
cư sống ở khu vực nông thôn với thu nhập chủ yếu từ Nông – Lâm – ngư nghiệp.
Từ lâu đời nhân dân ta đã có truyền thống canh tác nông nghiệp và đã tích lũy được
nhiều kinh nghiệm trong sản xuất. Hiện nay, công tác quản lý sự dụng đất sao cho
có hiệu quả là vấn đề đã và đang được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Trong những
năm gần đây Nhà nước ta đa đưa ra nhiều biện pháp nhắm giúp cho công tác quản
quản lý sử dụng đất như: Đưa các loại giống mới vào sản xuất nông nghiệp, giao
quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ổn định lâu dài Tuy nhiên do trình độ dân
trí còn thấp, khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất còn nhiều hạn chế
nên năng suất cây trồng chưa cao, quỹ đất nông nghiệp chưa được khai thác có hiệu
quả, chưa xây dựng được các loại hình sử dụng đất thực sự thích hợp với tiềm năng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
đất đai và điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể của địa phương.
Xuất phát từ những vấn đề trên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tất
Cảnh, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: "Điều tra đánh giá sự thay đổi loại hình
sử dụng đất trông cây hàng năm trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng".
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu một trong những yếu tố tác động đến sự thay đổi loại hình sử
dụng đất trông cây hàng năm trên địa bàn huyện (nghiên cứu sự thay đổi chủ yếu
dựa trên việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất)
- Tác động của sự thay đổi loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Xác định được hiệu quả của các loại hình sử dụng đất (LUT) trồng cây
hàng năm trên địa bàn nghiên cứu trong 2 giai đoạn trước và sau thay đổi
- Xác định các nguyên nhân thay đổi loại hình sử dụng đất (LUT) trồng cây
hàng năm và đề xuất một số loại hình có hiệu quả sản xuất cho vùng nghiên cứu.
sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh
doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp.
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu
quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí
luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường (Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000).
* Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy
luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo
các ngành sản xuất khác nhau. Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau,
Rusteruyer, Simmerman-1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm
chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động
sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội (Vũ
Thị Phương Thuỵ, 2000).
Như vậy hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt
được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của
các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương
đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kinh tế
và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến
khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được một trong hai
yếu tố hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của hiệu quả kinh tế sử
dụng đất là: trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật
chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất
nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội. Xuất phát từ lý do này
* Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trong quá trình khai thác, sử dụng đất nông nghiệp con người luôn mong
muốn thu được nhiều sản phẩm nhất trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất.
Điều đó khẳng định khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước hết phải
được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể thường là một
ha, tính trên một đồng chi phí, một lao động đầu tư. Như vậy một trong những đặc
điểm để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hiệu quả kinh tế.
Theo Đường Hồng Dật và các cộng sự (1994) thì hoạt động sản xuất nông
nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc. Chính vì vậy khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp cần phải quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
các vấn đề xã hội bao gồm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân
trí trong nông thôn. Đây thực chất là đề cập đến hiệu quả xã hội khi đánh giá hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp. Ngoài ra cũng theo tác giả này thì phát triển nông
nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường phát
triển, điều này đồng nghĩa với việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải
quan tâm tới những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường xung quanh.
Tóm lại, để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
cần phải đề cập tới cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
*Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Theo tác giả Vũ Thị Phương Thuỵ (2000) thì tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát
khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về
chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả. Đối với đất nông
nghiệp thì tiêu chuẩn để đánh giá là mức độ đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội
môi trường do xã hội đặt ra và cụ thể là: tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng
chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị
trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái
nông nghiệp bền vững.
Theo quan điểm của tổ chức FAO (1990) đưa ra có ba tiêu chuẩn đánh giá
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường và con người.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy quá trình biến
đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ. Sự tăng năng suất lao động
trước hết là nông nghiệp đã tạo tiền đề vật chất cho chuyển dịch nông nghiệp thuần
nông tự cấp tự túc, năng suất lao động thấp sang nền nông nghiệp năng suất cao. Nó
có vai trò quyết định đối với việc thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp. Thực chất của nó là phát triển nông nghiệp từ chiều rộng, hiệu quả
thấp sang phát triển sản xuất nông nghiệp theo chiều sâu, hiệu quả cao. Sự chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp diễn ra tùy tình hình cụ thể của từng
vùng, từng nước.
1.3. Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1. Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Theo Đường Hồng Dật, (1995) trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi
nước chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau, nhưng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
đều phải giải quyết các vấn đề chung sau:
- Không ngừng nâng cao năng suất chất lượng, nông sản, nâng cao năng suất
lao động nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư.
- Mức độ đầu tư vốn, lao động, khoa học vào các quá trình phát triển của
nông nghiệp. Chiều hướng chung là giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao động
trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức.
- Mối quan hệ giữa nông nghiệp và môi trường.
Từ những vấn đề chung đã nêu trên đây mỗi nước lại có chiến lược phát triển
khác nhau, có thể chia thành hai nhóm chính sau:
+ Nông nghiệp công nghiệp hoá: Những nước đi theo khuynh hướng này
muốn cho sản xuất nông nghiệp có được cách tổ chức quản lý sản xuất như trong
công nghiệp cụ thể là chuyên môn hoá lao động, sản xuất theo dây chuyền, chuyên
canh, tăng cường đầu tư…Đây là một khuynh hướng tích cực nhưng vận dụng quy
trình công nghiệp để dập khuôn vào nông nghiệp là máy móc. Mặt khác theo hướng
xuất tại Việt Nam là vấn đề cần được nghiên cứu sâu sắc. Các nghiên cứu của nhiều
nhà khoa học về định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam thời gian tới khẳng
định cần tận dụng tối đa những ưu thế chúng ta đang có như thành tựu của quá trình
đổi mới, của khoa học và kỹ thuật trên thế giới và ở Việt Nam, kết hợp với việc
nghiên cứu vận dụng theo điều kiện cụ thể tại các địa phương. Nhìn chung, xu
hướng phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới tập trung ở các
vấn đề sau đây:
- Tập trung vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm sản
phẩm dựa trên cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước và trên thế
giới, đồng thời khai thác tốt lợi thế so sánh giữa các vùng (Nguyễn Điền, 2001).
- Xác định cơ cấu sản phẩm dựa trên cơ sở của các tiềm năng tự nhiên, kinh
tế, xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế xã hội tổng hợp làm thước đo để xác
định cơ cấu và tỷ lệ sản phẩm phù hợp với các chỉ tiêu, kế hoạch phát triển nông sản
hàng hoá (Nguyễn Điền, 2001).
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi,
cây công nghiệp, rau hoa quả so với cây lương thực. Giảm tỷ lệ lao động nông
nghiệp xuống còn 50%. Mặt khác, cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
nông nghiệp, phát triển ngành nghề công nghiệp và dịch vụ ngoài nông nghiệp
(Đảng Cộng sản Việt nam, 2001).
- Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hoá, khuyến khích các sản phẩm
xuất khẩu cần tiếp tục tạo ra sự đồng bộ giữa các yếu tố của kinh tế thị trường, từng
bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là thị
trường ruộng đất, tạo ra sự lưu chuyển mạnh mẽ đất nông nghiệp để hình thành các
doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hàng hoá với quy mô thích hợp (Lê Văn Bá, 2001).
- Đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
(Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2003 và 2004). Trong sản xuất hàng hoá cần
ứng dụng khoa học công nghệ một cách đồng bộ, nâng cao trình độ khoa học công
nghệ trong sản xuất và lưu thông hàng hoá. Sản phẩm làm ra phải chứa đựng một
nước trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX và đặc biệt là các nghiên cứu có hệ thống và dài
hạn của chương trình “Nghiên cứu quản lý bền vững đất dốc Châu Á để sử dụng
nông nghiệp” của IBSRAM; một số nghiên cứu của CIAT từ đầu những năm 1990
đến nay.
Cho đến thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX thì những nghiên cứu về đất đồi núi và
bảo vệ đất đồi đã rất đa dạng và phong phú, trên nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác
nhau, một trong số đó là đưa ra mô hình nông lâm kết hợp, ngay sau đó mô hình này
đã lan rộng trên phạm vi toàn thế giới bởi tính ưu việt của nó. Theo ICRAF (1983) thì
“Hệ thống nông lâm kết hợp là hệ thống sử dụng đất bao gồm các cây gỗ lâu năm và
các cây nông nghiệp hàng năm hoặc cây thức ăn gia súc, hoặc cả hai trên cùng một
mảnh đất đồng thời hay luân phiên với mục đích cho sản phẩm tối đa và duy trì sản
xuất lâu bền do bảo vệ và tăng được độ màu mỡ của đất”.
Bên cạnh những nghiên cứu kỹ thuật về sử dụng hiệu quả và bảo vệ chống
suy thoái đất dốc, ngày nay sử dụng đất đất đồi núi bền vững còn đặc biệt chú
trọng đến phát triển kinh tế và xã hội vùng đồi núi nhằm đảm bảo một hệ thống
sử dụng đất bền vững cho đất dốc nói riêng và đất vùng đồi nói chung.
Những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về đất đồi trung du ở Đông Nam Á.
Đây là một trong những vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới. Đất đồi trung du ở
Đông Nam Á nói chung chưa được sử dụng hợp lý mặc dù tiềm năng cũng như lợi
ích đem lại của nó là rất lớn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
Theo Erust Mutert, Thomas Fairurst (1997) thì: “Phần lớn đất dốc phong hoá
mạnh và bị rửa trôi ở Đông Nam Á quá thiếu các chất dinh dưỡng đến mức cây
trồng không thể cho năng suất kinh tế cao độ phì và sức sản xuất phần lớn đất dốc
ở Đông Nam Á rất thấp”.
1.4.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi núi Việt Nam
Ở Việt Nam, đất đồi núi chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên. Nhìn chung đây là
những loại đất khó khai thác sử dụng và kém hiệu quả, đặc biệt khi đất đã mất thảm
thực vật che phủ. Trong những năm 40 của thế kỷ XX, diện tích che phủ rừng ở
kéo theo hàng loạt các vấn đề như: kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân còn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
nhiều khó khăn (Nguyễn Thế Đặng, Đào Châu Thu, Đặng Văn Minh, 2003, Đất đồi
núi Việt Nam).
Theo Hoàng Văn Thụ (2000), “Xói mòn đất trên một số hệ thống canh tác
đất dốc miền núi phía Bắc Việt Nam”) thì hệ thống sinh thái nông nghiệp vùng núi
phía Bắc Việt Nam rất dễ bị suy thoái và tổn thương do các hoạt động canh tác thiếu
các biện pháp bảo tồn đất và nước. Do có độ dốc lớn, mưa tập trung nên xói mòn là
nguyên nhân chính làm cho năng suất cây trồng giảm sút, đất đai nghèo kiệt.
Từ những năm 1980 đến nay, các chương trình nghiên cứu và sử dụng đất
đồi núi tập trung vào các dự án đánh giá đất và xây dựng các mô hình sản xuất như
hệ thống nông lâm kết hợp, hệ thống vườn ao chuồng rừng và trang trại sản xuất
rừng đồi, vườn đồi
Các chương trình phát triển lâm nghiệp xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ
vùng đầu nguồn, xây dựng thôn bản mới, quy hoạch sử dụng đất có người dân cùng
tham gia, xây dựng và cải thiện thị trường nông thôn, ngân hàng và tín dụng nông
thôn là những hoạt động hữu hiệu và vô cùng quan trọng góp phần bảo vệ đất và
sử dụng đất đồi núi hợp lý nhất.
Canh tác bền vững trên đất dốc trong điều kiện nước ta hiện nay là rất khó,
song chúng ta cần thiết phải làm rõ nguyên nhân và tìm mọi biện pháp để từng bước
thực hiện góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.
Vì vậy, từ năm 1990 đến nay, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá (Viện Thổ
nhưỡng nông hoá, 1999, Kết quả nghiên cứu khoa học - Quyển 3) đã phối hợp với
một số tổ chức quốc tế như IBSRAM (International Board for Soil Research and
Management - Tổ chức quốc tế về nghiên cứu và quản lý đất), ACIAR - IBSRAM
(Phối hợp nghiên cứu sử dụng đất chua vùng đồi với Trung tâm nghiên cứu nông
nghiệp quốc tế Autralia và IBSRAM), VIETCALSOIL (Phối hợp nghiên cứu và áp
dụng tiến bộ canh tác trên đất dốc với Viện Nông nghiệp Canada, trường Đại học
Saskatchewan), CIAT (Phối hợp nghiên cứu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ
loại đất sử dụng trồng các loại cây hàng năm như: Cây lương thực (lúa, ngô. . .), cây
công nghiệp ngắn ngày (lạc, thuốc lá, bông ), các loại rau đậu, các loại cây làm
thuốc, cây thức ăn gia súc, đất trồng cỏ