Đánh giá thực trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG QUỐC THÁI

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT RUỘNG CÓ HIỆU QUẢ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀ AN, TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số : 60 85 01 03

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thế Đặng

ii
LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này, tôi
đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến:
Tập thể các thầy, cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường, Khoa Trồng
trọt, Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Nông - Lâm Thái Nguyên đã tận
tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn GS. TS. Nguyễn Thế Đặng - người đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
Luận văn.
Tôi xin trân trọng cám ơn lãnh đạo UBND huyện Hoà An và tập thể
phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, phòng Tài chính – kế hoạch huyện Hoà An đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi về thời gian, tinh thần, vật chất để học tập và
nghiên cứu đề tài trên địa bàn.
Tôi xin cám ơn các tập thể, cơ quan, ban, ngành đã tạo điều kiện và
giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu và nghiên cứu. Đặc biệt, tôi xin
cám ơn tập thể lớp Cao học Quản lý đất đai K18 đã cùng chia sẻ với tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin cám ơn đến gia đình, người thân, các đồng nghiệp và bạn bè
bà con nông dân, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyên Hoà An đã
giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành
Luận văn này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng10 năm 2012
Tác giả luận văn


LX-LM
: Lúa xuân – Lúa mùa
KHKTNN
: Khoa học kỹ thuật nông nghiệp

: Lao động
LN
: Lâu năm
LUT
: Loại hình sử dụng đất
TNHH
: Thu nhập hỗn hợp
GTSX
: Giá trị sản xuất
CPTG
: Chi phí trung gian
BVTV
: Bảo vệ thực vật
UBND
: Ủy ban nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Tổng hợp các loại đất của huyện Hoà An 38
Bảng 3.2: Giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp năm 2008 – 2009 41
Bảng 3.3: Biến động quỹ đất của huyện Hoà An giai đoạn năm 2009 – 2011 45
Bảng 3.4: Hiện trạng sử dụng đất huyện Hoà An năm 2011 46
Bảng 3.5: Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Hoà An

Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế huyện Hoà An năm 2011 40
Hình 3.3: Giá trị các ngành sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2008 – 2011 41
Hình 3.4: Biến động quỹ đất của huyện giai đoạn 2009 – 2011 45
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ v
MỤC LỤC vi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Yêu cầu của đề tài 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam 3
1.1.1. Trên Thế giới 3
1.1.2. Tại Việt Nam 5
1.2. Nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 7
1.2.1. Khái quát hiệu quả sử dụng đất 7
1.2.2. Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp 10
1.2.3. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 11
1.3. Xu hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hoá 12
1.3.1. Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên Thế giới 15
1.3.2. Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam 18

ruộng của huyện Hoà An 29
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 29
3.1.1.1. Vị trí địa lý 29
3.1.1.2. Địa hình, địa mạo 29
3.1.1.3. Khí hậu 31
3.1.1.4. Thuỷ văn, nguồn nước 32
3.1.1.5. Thảm thực vật và cây trồng 33
3.1.1.6. Đặc điểm về đất đai 34
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 38
3.1.2.1. Các tiểu vùng kinh tế sinh thái của huyện Hoà An 48
3.2. Xác định và đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất ruộng trên địa
bàn huyện Hoà An 50
3.2.1. Xác định các loại hình sử dụng đất ruộng trên địa bàn huyện 50
3.2.2. Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất ruộng 54
3.2.2.1. Hiệu quả kinh tế 54
3.2.2.2. Hiệu quả xã hội 59
3.2.2.3. Hiệu quả môi trường 62
3.3. Thị trường tiêu thụ hàng hoá nông sản phẩm 68
3.4. Đề xuất các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Hoà An 69
3.4.1. Định hướng phát triển nông nghiệp huyện Hoà An 69
3.4.2. Đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả 70
3.4.3. Đề xuất các giải pháp thực hiện 73
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
1. Kết luận 77
2. Đề nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

rộng cũng rất hạn chế, nên việc tìm ra hướng sử dụng hợp lý, hiệu quả, phát huy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
được tiềm năng đất đai và phát triển bền vững cho nông nghiệp miền núi là việc
làm có ý nghĩa thực tiễn rất lớn đối với các địa phương miền núi.
Hoà An là một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Cao Bằng tổng diện tích tự
nhiên của huyện thuộc diện trung bình trong tỉnh (sau khi chuyển 4 xã thuộc
huyện về thị xã Cao Bằng). Huyện Hoà An hiện nay có 20 xã và 01 thị trấn, với
địa hình chia cắt mạnh, diện tích đất ruộng không lớn chiếm 7,28 % so với diện
tích tự nhiên.
Trong thời gian những năm gần đây huyện đã thực hiện một số biện pháp
để nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất như: Đưa các giống mới vào sản xuất
nông nghiệp, giao quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ổn định lâu dài….
Tuy nhiên do trình độ dân trí còn thấp, khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật trong
sản xuất còn nhiều hạn chế nên năng suất cây trồng chưa cao, quỹ đất nông
nghiệp và đất ruộng chưa được khai thác hiệu quả, chưa xây dựng được các loại
hình sử dụng đất thích hợp với tiềm năng đất đai và điều kiện kinh tế - xã hội cụ
thể của địa phương.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư, Tiến
sỹ Nguyễn Thế Đặng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng
và đề xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả trên địa bàn huyện
Hoà An, tỉnh Cao Bằng”.
2. Mục tiêu của đề tài
Xác định và lựa chọn các loại hình sử dụng đất ruộng hợp lý cho huyện
Hoà An, tỉnh Cao Bằng.
3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá những lợi thế và hạn chế của điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội
tác động đến sản xuất nông nghiệp của huyện.
- Xác định được yêu cầu và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất ruộng (

dưỡng, quá mặn, quá phèn, hay bị ô nhiễm, bị phá hoại do các hoạt động sử dụng
đất không hợp lý của con người… Diện tích đất có khả năng canh tác còn 3.030
triệu ha, hiện con người mới khai thác hơn 1.500 triệu ha đất canh tác, trên thế
giới hiện có 2000 triệu ha đất đã và đang bị thoái hoá, trong đó có 1260 triệu ha
tập chung ở châu Á, Thái Bình Dương, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu
người của thế giới hiện nay chỉ còn 0,23 ha, ở nhiều quốc gia châu Á Thái Bình
Dương là dưới 0,15 ha. Theo tính toán của tổ chức lương thực thế giới (FAO) với
trình độ sản xuất trung bình như hiện nay trên thế giới để có đủ lương thực, thực
phẩm thì mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác [2]. Tỷ lệ đất có khả năng canh tác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
ở các nước phát triển là 70%; ở các nước đang phát triển là 36% trong đó những
loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất rừng
nâu chỉ chiếm khoảng 12,6%; những loại đất quá xấu như vùng băng tuyết,
hoang mạc, đất núi chiếm 40,5%; còn lại là các loại đất không phù hợp với việc
trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng…Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng
10% tổng diện tích tự nhiên. Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người
toàn thế giới là 0,12 ha. Ở các nước khác nhau thì bình quân diện tích đất nông
nghiệp cũng khác nhau như ở Mỹ là 0,25ha/ người; Bungari 0,7 ha/người; ở Pháp
0,64ha/người; ở Nhật 0,065ha/ người [6].
Ngày nay, thoái hoá đất và hoang mạc hoá là một trong những vấn đề môi
trường và tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giải
quyết nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, đất bị
thoái hoá có ở khắp nơi trên thế giới; châu Á chiếm 38%; châu Phi 25,2%; châu
Mỹ 20,5% ; châu Âu 11,1%; châu Đại Dương 5,2%. Thoái hoá đất có nhiều dạng
và do nhiều nguyên nhân gây ra. Các dạng thoái hoá: xói mòn nước chiếm 55%;
xói mòn gió 28%; …Tác động của con người đối với sự thoái hoá đất; chặt phá
rừng 29,5%; chăn thả quá mức 34,5%; quản lý kém 28%; hoạt động công nghiệp
1,2% [6]. Điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp trên đất.

cục thống kê năm 2009), dân số là 86.024 nghìn người mật độ dân số là 260
người/km
2
. Bình quân diện tích đất tự nhiên 3.848m
2
/người đứng thứ 9 trong khu
vực. Trong đó đất nông nghiệp 25.127,3 nghìn ha (chiếm 75,90% diên tích đất tự
nhiên). Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên người là 2.921m
2
/người. Đất
sản xuất nông nghiệp là 9.598,8 nghìn ha.
Trong đó đất sản xuất nông nghiệp được sử dụng chủ yếu vào các mục
đích như trồng cây hàng năm và cây lâu năm. Sơ bộ năm 2009, đất trồng cây
hàng năm có diện tích là 11188,6 ha, trong đó: đất trồng cây lương thực có hạt là
8528,4 nghìn ha, cây công nghiệp hàng năm là 758,6 nghìn ha. Diện tích đất
trồng cây lâu năm là 2760,6 nghìn ha, trong đó diện tích cây ăn quả là 774,0
nghìn ha, cây công nghiệp lâu năm 1936,2 nghìn ha [31].
Thực tế mấy năm trở lại đây, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại đặc biệt là diện
tích đất trồng lúa ngày càng giảm do chuyển sang xây dựng đô thị và các khu
công nghiệp. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong 10 năm
(2000-2010), bình quân diện tích đất nông nghiệp giảm 50m
2
/người, đây là con
số còn rất khiêm tốn. Đáng báo động hơn là tình trạng suy giảm chất lượng đất
nông nghiệp do rửa trôi, xói mòn, khô hạn, sa mạc, mặn hoá, phèn hoá, chua hoá,
thoái hoá lý hoá học đất, ô nhiễm … suy thoái chất lượng đất dẫn đến giảm khả
năng sản xuất, giảm đa dạng sinh học và nhiều hậu quả khác. Những tác động
tiêu cực trên đây ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 50% diện tích đã và đang sản xuất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương để làm cơ sở cho việc sử dụng đất nông
nghiệp có hiệu quả về cả mặt kinh tế, xã hội, môi trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
Sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay cần hướng tới mục tiêu nâng
cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm,
tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Sử dụng đất
nông nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận
dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu
đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai
thác và sử dụng bến vững tài nguyên đất đai.
1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1. Khái quát hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả, khi nhận thức con người còn
hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là một. Sau này khi nhận
thức con người phát triển cao hơn, người ta nhận thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu
quả và kết quả.
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi
hướng tới, nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là
hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong
lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng
thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản
phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian [1].
Kết quả là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích con người, được biểu
hiện bằng những tiêu chí cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài
nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả
đó đã được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu
ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt

quả kinh tế phải đáp ứng 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy
luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt
động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ lợi ích của
con người.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả
đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
được là giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị
của nguồn lực đầu vào. Vậy bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là với một
diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất
với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng về vật chất của xã hội.
Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và có vai
trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác. Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có
khả năng lượng hoá, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện bằng các hệ
thống chỉ tiêu.
1.2.1.2. Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội
và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật
thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất. Theo Nguyễn Duy Tính (1995)
[29]. Hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định
bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp. Hiệu quả
xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân.
Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn

nông nghiệp:
+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp.
+ Nhu cầu của địa phương về phát triển hay thay đổi loại hình sử dụng đất
nông nghiệp.
- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp:
+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ
thống. Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so
sánh có thang bậc [15], [26].
+ Để đánh giá chính xác toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản
biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan
điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ
bản, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn [14].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông
nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại,
nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu.
+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và phải
có tác dụng kích thích sản xuất phát triển.
1.2.3. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Mục đích đánh giá hiệu quả các LUT là để tính toán, so sánh và phân loại
mức độ thích hợp của các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường với các loại hình
sử dụng đất nông nghiệp ở địa phương.
Các chỉ tiêu cần tính toán để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
thường thường quy về đơn vị 1 ha cho từng loại hình sử dụng đất nông nghiệp.
1.2.3.1. Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp

+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
+ Đánh giá quản lý đất đai;
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;
+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và
bảo vệ cây trồng;
+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;
+ Sự thích nghi của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất.
Các tiêu chí và chỉ tiêu thuộc 3 lĩnh vực trên được dùng để xem xét đánh
giá hiệu quả của một hệ thống sử dụng đất. Tuy nhiên, theo từng đặc tính và mục
tiêu của mỗi kiểu sử dụng đất, các tiêu chí và chỉ tiêu cũng có ý nghĩa khác nhau.
Vì vậy khi đánh giá xem xét trong từng trường hợp cụ thể mà đặt cho chúng có
các trọng số khác nhau.
1.3. Xu hƣớng sử dụng đất nông nghiệp theo hƣớng hàng hoá
1.3.1. Sản xuất hàng hoá
Hàng hoá là sản phẩm được sản xuất ra không phải để cho người sản xuất
tiêu dùng mà nó được sản xuất ra để bán. Hàng hoá bán ra thị trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Hàng hoá là sản phẩm do lao động của con người tạo ra để trao đổi. Sản
xuất ra các sản phẩm để bán trao đổi với tiêu dùng. Xét về phương diện lao động
đó là hoạt động trao đổi cho nhau. Cơ sở của sự trao đổi là sự phân công và hợp
tác lao động. Phân công và trao đổi phát triển dựa trên cơ sở phát triển của lực
lượng sản xuất trước hết là công cụ lao động, phản ánh trình độ xã hội hoá sản
xuất trên cả 3 mặt: kinh tế- xã hội, kinh tế - kỹ thuật, kinh tế - tổ chức [22].
Như vậy sản suất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm để bán. Đó là hình
thức tổ chức nền sản xuất xã hội trong đó mối quan hệ kinh tế giữa những người
sản xuất biểu hiện qua thị trường qua việc mua bán sản phẩm lao động của nhau,
đối với hệ thống trồng trọt nếu mức hàng hoá sản xuất được bán ra thị trường
dưới 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá một phần, nếu trên 50%

Giai đoạn đa dạng hoá sản xuất: chủng loại cây trồng vật nôi đã phong
phú hơn, hạn chế được tình trạng bấp bênh, sản phẩm nông nghiệp một phần
tiêu dùng cho gia đình, một phần để trao đổi, từ giai đoạn này đã có hàng hoá
nông sản.
Giai đoạn ba: nông nghiệp được chuyển sang sản xuất chuyên môn hoá,
sử dụng máy móc, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, khối lượng sản
phẩm lớn năng suất lao động cao, sản phẩm hàng hoá cho thị trường [22]
Theo ông Marcel Mazoyer giáo sư Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia
Pari – người chuyên nghiên cứu sâu về hệ thống nông nghiệp trên thế giới thì chỉ
có tiến lên hệ thống canh tác thâm canh cơ giới hoá vốn đầu tư lớn, khả năng
đảm nhận diện tích lớn thì mới có năng suất lao động và thu nhập cao, sản phẩm
hàng hoá tạo ra nhiều. Điều đó chứng tỏ rằng chỉ khi nào thực hiện công nghiệp
hoá, sản xuất trên một cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tư liệu sản xuất bằng máy
móc mới đưa lại năng suất lao động cao, có lượng hàng hoá lớn để bán, khi đó
mới thúc đẩy nền sản xuất phát triển [22].
Sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá có những ưu thế đặc biệt. Nó
thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động xã
hội. Trong kinh tế hàng hoá có sự tác động của quy luật giá trị, sự nghiệt ngã của
cạnh tranh, sự khắt khe của thị trường và quy luật cung cầu bộc người nông dân
phải năng động và biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm, nâng cao chất lượng
các sản phẩm nông nghiệp cho phù hợp với nhu cầu của xã hội. Khi có sản xuất
hàng hoá, quá trình xã hội hoá sản xuất nhanh chóng được thúc đẩy làm cho sự
phân công chuyên môn hoá sản xuất ngày càng sâu sắc, hợp tác hoá chặt chẽ,
hình thành các mối quan hệ và phụ thuộc lẫn nhau, hình thành thị trường trong
nước và thế giới, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập chung sản xuất, thúc đẩy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
quá trình dân chủ hoá, bình đẳng và tiến bộ xã hội. Vì vậy sản xuất nông nghiệp
theo hướng hàng hoá mang lại rất nhiều lợi ích.

16
gần như công nghiệp, đạt năng suất cây trồng vật nuôi và lao động cao. Khoảng
10% lao động xã hội trực tiếp làm nông nghiệp nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu
tiêu dùng và xuất khẩu. Nhược điểm nông nghiệp công nghiệp hoá gây nên nhiều
hậu quả sinh thái nghiêm trọng, làm ô nhiễm môi trường, giảm tính đa dạng sinh
học và hao hụt nguồn gen thiên nhiên [1].
* Nông nghiệp sinh thái:
Hướng này nhấn mạnh các yếu tố sinh học, các yếu tố tự nhiên làm nổi bật
lên đối tượng sản xuất trong nông nghiệp là các loài sinh vật, đồng thời có chú ý
hơn đến các quy luật sinh học, quy luật tự nhiên. Nhằm khắc phục những nhược
điểm của nông nghiệp công nghiệp hoá, mục tiêu của nông nghiệp sinh thái là:
+ Giảm thiểu những tác hại do sử dụng hoá chất nông nghiệp và phương
pháp công nghiệp gây ra cho môi trường và chất lượng nông sản;
+ Cải thiện chất lượng dinh dưỡng thức ăn;
+ Nâng cao độ phì nhiêu của đất bằng cách sử dụng phân bón hữu cơ, tăng
chất mùn trong đất.
+ Hạn chế mọi dạng ô nhiễm môi trường với đất, môi trường thức ăn [1].
Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nông nghiệp bền vững, đó
là một dạng của nông nghiệp sinh thái với mục tiêu sản xuất nông nghiệp đi đôi
với giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo cho nông nghiệp phát triển
bền vững lâu dài.
Xu thế phát triển của nền nông nghiệp thế giới ở thế kỷ XXI sẽ là các mô
hình sản xuất thích hợp vừa sản xuất được nhiều nông sản hàng hoá, vừa bảo vệ
được tài nguyên thiên nhiên, duy trì được cân bằng sinh thái cho từng quốc gia
trên toàn cầu. Do vậy các mô hình sau đây sẽ đáp ứng được các yếu tố trên và sẽ
được áp dụng ở đa số các quốc gia:
- Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ cải tiến: Mô hình này đang được
phát triển ở các nước đang phát triển bắt đầu đi lên công nghiệp hoá, phương
thức sản xuất cơ bản là sử dụng sức người và súc vật với công cụ thủ công là chủ
lực có thêm phần hỗ trợ của máy móc, sử dụng các giống cây trồng vật nôi cũ và

trong lao động, tăng năng suất lao động.
Giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp phát triển đi lên phải xây dựng
và thực hiện nền nông nghiệp trí tuệ. Thể hiện ở việc phát hiện nắm bắt và vận
dụng các quy luật tự nhiên và xã hội trong mọi hoạt động của hệ thống nông
nghiệp, áp dụng các giải pháp phù hợp. Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển
ở mức cao, là sự kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp,
kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi
vùng [9].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trích đoạn Địa hình, địa mạo Thuỷ văn, nguồn nước Xác định các loại hình sử dụng đất ruộng trên địa bàn huyện xuất các loại hình sử dụng đất ruộng có hiệu quả xuất các giải pháp thực hiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status