BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
MAI THU HOÀI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ THỬ
NGHIỆM ĐIỀU TRỊ BỆNH CẦU TRÙNG TRÊN GÀ THỊT
DO EIMERIA GÂY RA TẠI YÊN KHÁNH, NINH BÌNH.
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01 NGUỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ NHƯ QUÁN
TS. NGUYỄN QUỐC DOANH HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN
Mai Thu Hoài
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu đề tài 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Lịch sử nghiên cứu về bệnh Cầu trùng 3
1.1.1. Tình hình nghiên cứu thế giới 3
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 6
1.2. Một số đặc điểm của Cầu trùng 8
1.2.1. Cấu trúc của oocyst Cầu trùng 8
1.2.2. Chu kỳ phát triển của Cầu trùng 9
1.3. Những hiểu biết về bệnh Cầu trùng gà 12
1.3.1. Các loài Cầu trùng gây bệnh trên gà đã được nghiên cứu 12
1.3.2. Đặc điểm dịch tễ học 15
1.3.3. Sinh bệnh học 18
1.3.4. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của gà mắc bệnh Cầu trùng 19
1.3.5. Các phương pháp chẩn đoán bệnh Cầu trùng gà 20
3.1.1. Tình hình nhiễm Cầu trùng ở gà thịt nuôi tại một số cơ sở chăn
nuôi. 34
3.1.2. Tỷ lệ nhiễm Cầu trùng ở gà theo lứa tuổi 37
3.1.3. Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm Cầu trùng gà theo phương thức
chăn nuôi 43
3.1.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Cầu trùng ở gà theo qui mô đàn 45
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
3.1.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Cầu trùng ở gà theo mùa vụ. 48
3.1.6. Thành phần các loài Cầu trùng Cầu trùng kí sinh ở gà nuôi
trên địa bàn huyện Yên Khánh 50
3.1.7. Số lượng loài Cầu trùng kí sinh ở các cá thể gà 54
3.1.8. Tỷ lệ nhiễm Cầu trùng theo từng trạng thái phân 56
3.2. Triệu trứng lâm sàng và bệnh đại thể của gà mắc bệnh Cầu trùng 58
3.2.1. Triệu chứng ở gà bị nhiễm Cầu trùng 58
3.2.2. Bệnh tích ở gà bị nhiễm Cầu trùng 60
3.3. Hiệu lực điều trị của thuốc thuốc toltrazuril baycox 2,5%( Bayer),
bạc Nano 63
3.4. Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh Cầu trùng gà 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1. Kết luận 68
2. Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phác đồ điều trị bệnh Cầu trùng của 2 loại thuốc 32
Hình 3.5 Biểu đồ cường độ nhiễm Cầu trùng theo hình thức nuôi 44
Hình 3.6 Biểu đồ cường độ nhiễm Cầu trùng trên gà theo quy mô đàn 48
Hình 3.7 Biểu đồ cường độ nhiễm Cầu trùng ở gà theo mùa vụ. 49
Hình 3.8 Các loài Cầu trùng gây bệnh trên gà ở vật kính 40 × 10 52
Hình 3.9 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm các loài Cầu trùng ở gà thịt trên địa
bàn huyện Yên Khánh 53
Hình 3.10 Oocyst Cầu trùng trên vi trường kính hiển vi 10 × 10 55
Hình 3.11 Biểu đồ triệu chứng của gà bị bệnh Cầu trùng 60
Hình 3.12 Biểu đồ bệnh tích đại thể của gà bị bệnh Cầu trùng 62
Hình 3.13 Bệnh tích ruột non và manh tràng của gà bị bệnh Cầu trùng 63
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Tên viết tắt Tên đầy đủ.
Cs Cộng sự.
D Khối lượng riêng.
E. coli Escherichia coli.
E. tenella Eimeria tenella.
E. brunetti Eimeria brunetti.
E. acervulina. Eimeria acervulina.
E. maxima. Eimeria maxima.
E. mitis. Eimeria mitis.
G gam.
µm micrometer.
Trong chăn nuôi, dịch bệnh luôn là vấn đề quan trọng và được quan tâm
hàng đầu. Trong các bệnh thường xuyên xảy ra trên đàn gà thì bệnh Cầu trùng gà
(Coccidiosis avium), là bệnh ký sinh trùng nhưng lại lây lan rất nhanh và gây thiệt
hại lớn cho đàn gà về mặt kinh tế trong thời gian dài. Nguyên nhân là do ký sinh
trùng giống Eimeria ký sinh trong đường ruột huỷ hoại niêm mạc đường ruột, ảnh
hưởng đến việc tiêu hóa và hấp thụ dinh dưỡng, gây mất nước, mất máu, giảm sức
đề kháng, gây lãng phí thức ăn, chi phí chăn nuôi tăng cao. Trong những trường hợp
nhiễm Cầu trùng nặng sẽ gây chết rất cao và những gà mang mầm bệnh sẽ trở nên
còi cọc. Bệnh Cầu trùng gà là yếu tố mở đường cho mầm bệnh truyền nhiễm khác
xâm nhập như: Gumborro, Newcastle,…
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
Bệnh Cầu Trùng gà được đánh giá là gây thiệt hại lớn cho gà nuôi theo
hướng tập trung, công nghiệp; Tuy nhiên, trên những đàn gà nuôi quy mô nhỏ lẻ tại
các nông hộ nó cũng gây ra thiệt hại không nhỏ do bệnh không gây chết gà nên
thường có tâm lý chủ quan. Hậu quả gây thiệt hại kinh tế rất lớn do làm tăng tiêu
tốn thức ăn. Vậy, việc nghiên cứu về bệnh cầu trùng gà trên đàn gà nuôi tại nông hộ
và hiệu quả phòng trị của thuốc, để hạn chế tác hại do bệnh gây ra, giúp cho ngành
chăn nuôi gà đạt năng suất cao đang là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Huyện Yên Khánh là huyện có đồng bằng tương đối bằng phẳng, không có
núi non, mạng lưới sông ngòi phân bố tương đối đều; chính vì thế nông nghiệp
chiếm giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế của huyện. Yên Khánh còn là huyện có
ngành nông nghiệp phát triển mạnh của tỉnh Ninh Bình, đặc biệt là chăn nuôi, trong
đó chăn nuôi gà đang ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp hóa. Mặc dù có
nhiều thuận lợi song dịch bệnh liên tiếp xảy ra triên đàn gà gây tổn thất lớn đặc biệt
là bệnh Cầu trùng.
Trước yêu cầu thực tế đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài "Nghiên cứu
một số đặc điểm dịch tễ và thử nghiệm điều trị bệnh cầu trùng trên gà thịt do
Eimeria gây ra tại Yên Khánh, Ninh Bình”.
trưởng kém, còi cọc, chậm lớn, suy yếu và tiêu tốn thức ăn cao. Hằng năm phí tổn
cho thuốc phòng ngừa bệnh lên đến 300 triệu USD, riêng tại Mỹ năm 1989 là 90
triệu USD, 20 triệu Lia ở Ý và 15 triệu Folin ở Hungari vào năm 1972. Ở các nước
kinh tế phát triển, ngành chăn nuôi gà xuất hiện nhiều trang trại lớn, tập trung cao
hơn, việc này càng có điều kiện để Cầu trùng và bệnh Cầu trùng xuất hiện dễ dàng
hơn và gây thiệt hại rõ rệt.
Các nhà nghiên cứu không ngừng tìm kiếm loài mới, đi sâu nghiên cứu vấn
đề sinh học phân tử, miễn dịch Cầu trùng, tìm các hóa dược, chế tạo vaccine để đạt
mục đích khống chế bệnh có hiệu quả.
Jordan F.T.W. (1990) đã ghi nhận có 7 loài gây bệnh cho gà là: Eimeria
brunetti, Eimeria tenella, Eimeria acervulina, Eimeria maxima, Eimeria mitis,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Eimeria praecox và Eimeria hagani. Loài Eimeria hagani được mô tả đầu tiên vào
năm 1938, bảy loài Cầu trùng kể trên phân bố ở nhiều nơi trên thế giới, loài Eimeria
acervulina và loài Eimeria maxima thường thấy ở gà, đặc biệt là loài Eimeria
tenella tác nhân gây bệnh cao và phổ biến.
Sau này, một số tác giả khác ở Trung Âu và Liên Xô cũ như Yakimoff,
Kotlan đã đưa ra một số công bố về 3 loài Cầu trùng: Eimeria beachi, Eimeria
tyzzeri, Eimeria johnsoni.
Theo Levine D.L. (1925) đã phân loại Cầu trùng như sau:
Ngành nguyên sinh động vật Protozoa.
Phân ngành Apicomplexa.
Lớp Sporozoasida.
Phân lớp Coccidiasima.
Bộ Eucoccidiorida.
Phân bộ Eimeriorina.
Họ Eimeriidae.
Giống Eimeria Schneider, 1875.
2
SO
4
, NH
4
OH, crezol gây ảnh hưởng đến sự hình thành bào tử. Tuy
nhiên, một số hoá chất có tác dụng diệt oocyst nên đã được sử dụng tiêu độc chuồng
trại, ví dụ như dung dịch amoniac (NH
3
) 10%.
Williams (1997) nghiên cứu tác dụng của dung dịch amoniac (NH
3
) 10% tới
oocyst và cho biết, sau 12 giờ, 100% oocyst không sinh bào tử, nên có thể dùng để
tiêu độc chuồng nuôi gà.
Oocyst Cầu trùng có thể tồn tại trong điều kiện môi trường khắc nghiệt.
Nghiên cứu về sự tồn tại của oocyst Cầu trùng với điều kiện khác nghiệt của
môi trường, Long P.L. và J.K. Jonhson (1988) cho biết, oocyst có thể tồn tại qua mùa
đông giá lạnh nhưng không chịu nhiệt độ cao và ánh nắng chiếu trực tiếp.
Horton Smith và Britvet J. (1963), Cầu trùng sống được ở sân chơi ngoài trời
14 tuần và lâu hơn trong đất ở độ sâu 5 - 7 cm. Ở trong đất, oocyst duy trì sức sống
tử 4 - 9 tháng, ở sân chơi râm mát từ 15 - 18 tháng.
Warnar (1933), cho biết oocyst bám trên mặt vỏ trứng thì không sống được
trong điều kiện ấp 38
o
C - 40
o
C và độ ẩm 40 -70%.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
nhiên, hơi ẩm, vệ sinh tốt, dùng kitofural phòng bệnh cho gà, tỷ lệ nhiễm Cầu trùng
được ghị nhận như sau: Gà 2 - 4 tuần tuổi tỷ lệ nhiễm là 4%, gà 5 - 8 tuần tuổi tỷ lệ
nhiễm là 24%, gà 9 - 13 tuần tuổi tỷ lệ nhiễm là 11%, gà mái đẻ tỷ lệ nhiễm là 14%.
Xí nghiệp gà Thành Tô (Hải Phòng), gà nuôi trong chuồng, vệ sinh chăm sóc
tốt, không dùng thuốc ngừa Cầu trùng, tỷ lệ nhiễm như sau: Gà 2 - 4 tuần tuổi
nhiễm từ 47 - 93%. Sau 8 tuần tuổi bệnh giảm hẳn, một số gà mái đẻ cũng bị nhiễm
Cầu trùng nhưng không có biểu hiện rõ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
Dương Công Thuận (1978) qua theo dõi chu kỳ tiến triển của Eimeria tenella
đã nhận xét: Oocyst phân lập từ phân tươi nuôi trong dung dịch bicromat kali 2,5%
trong phòng thí nghiệm (24 - 36
o
C); sau 24 giờ, trong oocyst đã sinh 4 sporocyst
hình lê hơi cong, sau 6 giờ hoàn tất sự hình thành sporozoite. So với các nước, thời
gian sinh sporocyst của oocyst ở nước ta ngắn hơn các nước khác 48 giờ.
Phạm Hùng (1979) tiến hành điều tra gà nuôi tại một số tỉnh miền Nam (TP.
Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai) đã cho thấy, có 8 loài Eimeria kí sinh
ở gà là Eimeria tenella, Eimeria necatrix, Eimeria mivati, Eimeria mitis, Eimeria
maxima, Eimeria hagani, Eimeria brunetti, Eimeria acervulina.
Nguyễn Thị Mai (1997), tỷ lệ nhiễm Cầu trùng trên đàn gà của xí nghiệp gà
Phúc Thịnh là 23,16% trong đó gà con 5 ngày đầu bắt đầu nhiễm và tỷ lệ nhiễm
tăng dần qua các lứa tuổi: Gà 14 ngày tuổi nhiễm 14,66%, gà 26 ngày tuổi nhiễm
29,62% và nặng nhất ở gà 35 ngày tuổi là 47,34%. Gà càng lớn tỷ lệ nhiễm Cầu
trùng càng giảm, đến 56 ngày tuổi thì tỷ lệ nhiễm Cầu trùng chỉ còn là 12,91%.
Hồ Thị Thuận, Phạm Văn Sơn, Huỳnh Thị Lan, Võ Bá Thọ, Phạm Văn
Nam (1984) đã tiến hành điều tra, điều trị bệnh Cầu trùng tại một trại gà công
nghiệp ở Sông Bé cũng ghi nhận, có 5 loài Cầu trùng tìm được: Eimeria tenella,
Eimeria necatrix, Eimeria mitis, Eimeria maxima, Eimeria brunetti. Gà 4 tuần
sporozoite (Large Refractile
Globule in Sporozoite) .
7. Bào tử trùng (sporocyst).
7. Bào tử trùng (sporocyst).
8. Thể cặn sporocyst
(Sporocyst residuum).
9. Thể cặn oocyst (Oocyst
residuum).
10. Lớp vỏ trong (inter layer of
Oocyst wall).
11. Lớp vỏ ngoài (Outer layer
of Oocyst wall) .
Oocyst màu sáng hoặc không màu, màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt. Lớp vỏ
ngoài thường nhẵn, cũng có loài xù xì (Eimeria Spinosa). Vỏ được chia thành 2 lớp:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
Vỏ ngoài dày, vỏ trong mỏng. Vỏ ngoài và vỏ trong có thể tách rời nhau bằng cách
làm nóng oocyst ở trong nước hoặc xử lý bằng axit H
2
SO
4
.
Vỏ ngoài là lớp quinonon protein, vỏ trong là lớp lipid kết hợp với protein để tạo
nên khúc xạ kép (lipoprotein). Lớp trong của vỏ oocyst chiếm 80%: gồm một lớp
glyoprotein (dày 90µm), được bao bọc bởi một lớp Lipid dày 10µm. Lớp lipid này chủ
yếu là phospho lipid, chính lớp này có khả năng kháng lại các nhân tố hóa học.
Một số Cầu trùng ở phía đầu nhọn có một cái nắp khúc xạ được gọi là
micropyle cap. Mycropyle là vị trí khe hở của màng bao quanh macrogamete khi thụ
tinh. Sau khi thụ tinh thì khe hở này đóng lại và vì vậy nhiều loài Cầu trùng không
Hình 1.2. Chu kỳ phát triển của Cầu Trùng
Giai đoạn sinh sản vô tính (schyzogony)
Qua đường tiêu hóa, các bào tử nang Cầu trùng xâm nhập vào cơ thể, dưới
tác dụng của enzym trong dịch tiêu hóa làm cho vỏ noãn nang bị phá hủy, giải
phóng các bào tử thể. Các bào tử thể nhanh chóng xâm nhập vào tế bào biểu bì ruột,
thận, mật, đôi khi vào mô bào dưới niêm mạc. Chỉ sau vài giờ, tại đây cùng với sự
phân chia của hạt nhân các noãn nang lớn lên nhanh chóng có hình tròn, hình oval
hoặc hình elip với nhiều nhân gọi là thể phân lập thuộc thế hệ 1 (schizont 1).
Schizont thế hệ I trưởng thành rất nhanh, bắt đầu hình thành và chứa đầy các
thể phân đoạn (merozoit) thế hệ I. Lúc này chúng làm tế bào bị ký sinh trương to rồi
vỡ (số lượng merozoit trong một schizont thay đổi rất lớn tuỳ loài Cầu trùng: từ 8
đến 16, có khi tới 120.000). Khi đã thành thục, các Merozoit thoát ra khỏi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
schizontMột số xâm nhập trở lại tế bào biểu mô thích hợp để tiếp tục sinh sản vô
tính, một số khác chuyển sang kiểu sinh sản hữu tính. Điều này phụ thuộc vào loài
Cầu trùng, có loài sinh sản vô tính diễn ra qua 2 kỳ (E. maxima), có loài qua 3 kỳ
hoặc nhiều hơn.
Sinh sản hữu tính (gametogony)
Sau một số đợt sinh sản vô tính (tùy loài Cầu trùng), các thể gamet có hình
dạng giống schizont thế hệ thứ 1,2, chuyển sang sinh sản hữu tính và bắt đầu tạo
ra giao tử. Giao tử đực được gọi là microgamet, có kích thước nhỏ hơn giao tử cái,
chúng chuyển động nhanh nhờ có hai lông roi. Giao tử cái được gọi là macrogamet
có nhân rất to, ít chuyển động và có lỗ noãn.
Nhờ hai lông roi, giao tử đực di chuyển đến gặp giao tử cái, chui vào giao tử
cái qua lỗ noãn (miropyle). Trong giao tử cái diễn ra quá trình đồng hóa nhân và
nguyên sinh chất để tạo thành hợp tử. Hợp tử phân tiết một màng bao bọc bên
1.3.1. Các loài Cầu trùng gây bệnh trên gà đã được nghiên cứu
Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về các loài Cầu trùng gây bệnh trên các loài
gia súc, gia cầm khác nhau tuy nhiên thì những nghiên cứu về loài Cầu trùng gây
bệnh trên gà và thỏ được đề cập đến nhiều nhất.
Loài Eimeria acervulina (Tyzzer, 1929): Loài này ký sinh ở đoạn đầu của
ruột non của gà và còn ký sinh ở ruột gà rừng Gallus lafayettei ở Srilanka. Oosyst
có hình trứng, vỏ nhẵn, kích thước 16,0 - 20,3 × 12,7 - 16,3µm. oocyst có 2 lớp vỏ,
không có micropyle, có một hạt cực, không có thể cặn. Thời gian hình thành bào tử
trùng là một ngày.
Eimeria acervulina gây bệnh nhẹ nhưng nếu có nhiều oocyst có thể gây nên
bệnh trầm trọng có thể gây chết gà. Thời gian nung bệnh khoảng 4 ngày và bệnh
tích chủ yếu trên ruột: Làm thành ruột non dày lên và viêm cata, ít khi xuất huyết.
oocyst nằm trong ruột tạo nên những điểm màu trắng hay xám hoặc lan rộng ở mặt
ruột non.
Loài Eimeria brunetti (Johnson, 1930): Loài này ký sinh ở ruột non. Các
quá trình sinh sản vô tính sau đó như meront, gamont giao tử cái xảy ra ở đoạn cuối
ruột non, trực tràng, manh tràng và lỗ huyệt.
Oocyst của loài Eimeria brunette có hình trứng, kích thước 20,7 - 30,3 × 18,1
- 24,2µm. Lớp vỏ nhẵn không có micropyle hay thể cặn, có một hạt cực, sporocyst
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
hình trứng dài 13×7,5µm, có thể stieda và thể cặn. Thời gian hình thành bào trùng
là 18 - 48 giờ. Có ít nhất 3 giai đoạn sinh sản vô tính trước khi sinh sản hữu tính.
Eimeria brunetti gây bệnh nhưng mức độ phụ thuộc vào mức độ nhiễm.
Nhiễm nhẹ thì không gây tổn thương ở các cơ quan. Triệu chứng kéo dài khoảng 5
ngày, gia cầm ủ rũ, phân lỏng có chứa dịch nhầy và lẫn máu. Xuất huyết ở ruột non
và phần cuối ruột già. Nhiễm nặng có thể thấy hiện tượng viêm hoại tử toàn bộ ống
tiêu hóa nhưng thường thấy ở đoạn cuối ruột non, hồi tràng, manh tràng.
Loài Eimeria hagani (Levine, 1925): Loài này hiếm gặp, oocyst hình bầu
Eimeria mivati gây bệnh nặng hơn Eimeria acervulina nhưng cũng là loài
gây bệnh nhẹ, tỷ lệ tử vong không quá 10%.
Loài Eimeria necatrix (Tyzzer 1929): Phân bố rộng khắp thế giới. Giai
đoạn sinh sản vô tính thứ nhất và thứ hai xảy ra ở ruột non, giai đoạn sinh sản vô
tính thứ ba, tiền giao tử và giai đoạn sinh giao tử xảy ra ở ruột già.
Oocyst hình bầu dục, kích thước 13 - 20 × 13,1 - 18,3µm, vỏ noãn nang nhẵn
không màu, gồm hai lớp vỏ, không có lỗ noãn, có hạt cực. Sporocyst hình trứng, có thể
Stieda, không có thể cặn. Thời gian sinh bào tử là 24 - 36 giờ.
Loài Eimeria praecox (Tyzzer, 1929): Loài này phân bố rộng, định vị trên
1/3 phía trên ruột non của gà.
Oocyst hình bầu dục, kích thước 16,6 - 27,7 × 14,8 - 19,4µm, không màu,
không có lỗ noãn. Thời gian sinh bào tử là 24 - 36 giờ. Loài này ký sinh ở đoạn đầu
ruột non. Giai đoạn sinh sản xảy ra ở tế bào biểu mô nhung mao ruột non thường
dọc theo một phía của nhung mao và phía dưới của nhân tế bào, có 3 hoặc 4 quá
trình sinh sản vô tính. Quá trình thứ hai xảy ra ở 32 giờ sau khi nhiễm. Sự phát triển
sau đó không tuần tự. Hai giai đoạn sinh sản vô tính và hữu tính xảy ra song song.
Loài Eimeria tenella: Loài này phổ biến ở manh tràng gia cầm trên khắp thế giới.
Oocyst hình bầu dục, kích thước 14,2 - 20,0 × 9,5 - 24,8µm không có lỗ noãn, màu xanh
nhạt. Sporocyst hình trứng không có thể cặn. Thời gian sinh bào tử là 18 - 48 giờ.
Bên cạnh E. tenella, E. necatrix gây bệnh nặng nhất ở gà. Nhiều nơi tác hại
do E. neatrix gây thiệt hại nhiều hơn E. tenella. Một số ý kiến cho rằng E. necatrix
gây bệnh mãn tính hơn E. tenella. Thực tế hoàn toàn không phải vậy bởi vì E.
necatrix xâm nhập vào sâu tế bào ruột và thời gian lâu hơn do đó chúng gây bệnh
chậm hơn. Thời kỳ nung bệnh là 6 - 7 ngày. Tổn thương thường thấy là ruột non
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
đoạn giữa và 2/3 phía trước. Bệnh tích nặng với những tiêu điểm nhỏ, màu trắng
mờ được tìm thấy ở ngày thứ 4 sau nhiễm. Xuất huyết xảy ra vào ngày thứ 4, 5
hoặc 6, lòng ruột non chứa đầy máu, có nhiều đốm máu xung quanh những tụ
Qua vật trung gian truyền bệnh như các dụng cụ chăn nuôi, người chăn nuôi,
giầy dép, ủng, phương tiện vận chuyển, đã mang oocyst Cầu trùng từ bên ngoài
khu vực chuồng nuôi vào. Ngoài các loài côn trùng, các loài gặm nhấm cũng là
nguồn mang bệnh từ khu vực chăn nuôi khác vào chuồng trại. (Theo Nguyễn Thị
Kim Lan và cs., 2008).
Hoàng Thạch và cs (1999) khảo sát 250 mẫu ủng dùng trong trại nuôi nhận
thấy tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 5,6% và khảo sát 250 mẫu từ dụng cụ dọn vệ sinh
chuồng nuôi cho biết tỷ lệ nhiễm là 11,2%.
Lê Minh và cs (2008) khi nghiên cứu khả năng mang oocyst Cầu trùng của
các động vật có ở xung quanh chuồng nuôi: Tất cả các động vật và côn trùng đều có
khả năng mang mầm bệnh trong đó ở kiến là 27,27%, ruồi là 22,22% và gián là
16,67%. Vì vậy tác giả đã sơ bộ kết luận các loài côn trùng như: Gián, chuột, ruồi,
là tác nhân mang oocyst Cầu trùng từ bên ngoài vào.
Khi oocyst bị ruồi nuốt vào, trong đường tiêu hóa của ruồi, chúng vẫn sống và
có khả năng gây bệnh trong vòng 24 giờ (Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996).
Về sự biến động của bệnh theo mùa vụ.
Có sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo mùa. Theo Bạch Mạnh Điều
(2004), tỷ lệ nhiễm Cầu trùng qua các mùa luôn ngang nhau; Mùa xuân 27,59%,
mùa hè 26,27%, mùa thu là 20,07%, mùa đông là 27,58% nhưng cường độ nhiễm
vào mùa xuân cao nhất, mùa thu thấp nhất.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) cho biết: Bệnh Cầu trùng gà phân bố
không đều qua các tháng trong năm. Vào những tháng có khí hậu ẩm ướt, mưa
nhiều, nhiệt độ thích hợp từ 18 - 35
o
C bệnh thường xuất hiện và dễ bùng phát hơn
các tháng khác trong năm. Vì vậy, ở nước ta mùa xuân và mùa hè là hai mùa có tỷ
lệ nhiễm Cầu trùng cao hơn mùa đông và mùa thu.
Tuổi của gà: Ở các giai đoạn phát triển khác nhau gà có tỷ lệ nhiễm cầu
trùng khác nhau.
Gà 1 tuần tuổi chưa nhiễm, gà 2 tuần tuổi nhiễm thấp (Theo Phan Lục và