Mở rộng hoạt động cho vay đối với DNVVN tại Techcombank - Pdf 28

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
DNVVN đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia và thực hiện mục tiêu xã hội. Ngay cả với những nước có nền kinh tế
phát triển DNVVN vẫn khẳng định được vai trò của mình. Do vậy, đối với
một nước đang phát triển như Việt Nam Đảng và Chính Phủ cũng luôn chú
trọng đến các DNVVN, dặc biệt sau khi nước ta thực hiện chuyển đổi nền
kinh tế.
Hiện nay , DNVVN chiếm 97% trong tổng số DN trên cả nước. Việc
khuyến khích các DN là hết sức cần thiết và phù hợp trong điều kiện ngày
nay. Các DNVVN ở nước ta có đặc điểm chung là gặp khó khăn về vốn, công
nghệ, trình độ quản lý, môi trường pháp lý… Đây cũng là những nguyên nhân
làm hạn chế hoạt động của các DNVVN. Trong những nguyên nhân trên thì
vốn là nguyên nhân lớn nhất, có ảnh hưởng nhất. Nhu cầu về vốn của
DNVVN ngày càng lớn, DNVVN phải tìm nhiều nguồn để đáp ứng, trong đó
nguồn vốn tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng không thể thiếu được.
Với những lý do như vậy cùng với việc tìm hiểu thực trạng DNVVN,
thực trạng tín dụng ngân hàng ở nước ta, tìm ra những giải pháp nhằm mở
rộng cho vay đối với DNVVN. Hơn nữa, trong thời gian thực tập tại
Techcombank em đã có cơ hội tìm hiểu về tình hình cho vay đối với DNVVN
tại Techcombank nên em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Mở rộng hoạt động
cho vay đối với DNVVN tại Techcombank “ làm chuyên đề tốt nghiệp.
Được sự hướng dẫn, giúp đỡ, nhiệt tình của PGS-TS Đào Hùng và các nhân
viên ngân hàng Techcombank nên em đã hoàn thành đề tài này.
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về NHTM
1.1.1 Khái niệm về NHTM

Tiền gửi là nguồn tiền chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân
hàng. Để gia tăng tiền gửi các ngân hàng đã đưa ra các hình thức gửi tiền đa
dạng như tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kì hạn của các doanh nghiệp và tổ
chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của các ngân hàng khác.
Trong đó, tiền gửi thanh toán có mức lãi suất thấp nhất nhưng thay vào đó cá
nhân hoặc doanh nghiệp gửi tiền có thể nhờ ngân hàng thanh toán hộ trong
phạm vi số dư trên tài khoản với mức phí thấp. Tiền gửi có kì hạn của doanh
nghiệp và các tổ chức xã hội tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng hình
thức tiền gửi thanh toán song lại được hưởng mức lãi suất cao hơn tuỳ theo độ
dài kì hạn. Tiền gửi tiết kiệm của dân cư là một nguồn vô cùn quan trọng đối
với các ngân hàng. Các ngân hàng ngày càng mở rộng mạng lưới huy động
bằng cách cung cấp cho khách hàng nhiều sản phẩm tiết kiệm đa dạng với
mức lãi suất cạnh tranh hấp dẫn để thu hút ngày càng nhiều lượng tiền nhàn
rỗi từ dân cư vào ngân hàng. Trong ngân hàng còn có tiền gửi của các ngân
hàng khác tuy nhiên nguồn này thường không lớn vì tiền gửi của các ngân
hàng khác chỉ nhằm mục đích chủ yếu là nhờ thanh toán hộ.
• Nguồn đi vay
Ngân hàng sử dụng vốn để cho vay, đầu tư kinh doanh và thực hiện một số
hoạt động khác như chi trả cho khách hàng. Do vậy nhiều khi nguồn tiền huy
động không đủ đáp ứng nhu cầu tiền của ngân hàng. Khi đó ngân hàng sẽ phải
đi vay mượn thêm như vay ở Ngân hàng Trung ương, vay các tổ chức tín
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dụng khác hoặc vay trên thị trường vốn. Trong đó, vay các tổ chức tín dụng
khác là đơn giản nhất vì quá trình vay mượn đơn giản, đáp ứng kịp thời nhu
cầu dữ trữ và chi trả cấp bách của ngân hàng. Vay NHNN thông qua hình
thức tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn) và việc vay mượn tương đối khó khăn vì
NHNN kiểm soát tương đối chặt chẽ. Các ngân hàng còn có thể vay trên thị
trường vốn thông qua phát hành kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu. Tuy nhiên vay
trên thị trường vốn nghiệp vụ tương đối phức tạp và thường chỉ dành cho

Phần lớn nguồn vốn huy động được ngân hàng đều cho vay vì hoạt động
tín dụng tạo ra lợi nhuận khá lớn cho ngân hàng. Bên cạnh đó ngân hàng
còn sử dụng vốn để đầu tư như đầu tư vào chứng khoán, vào bất động
sản… Những khoản cho vay có tính thanh khoản thấp, rủi ro cao, không dễ
chuyển thành tiền mặt như chứng khoán hay bất động sản. Do vậy các
ngân hàng thường đa dạng hoá danh mục đầu tư để vừa giảm thiểu rủi ro,
vừa tăng thu nhập.
1.1.2.3 Hoạt động trung gian
Huy động vốn và cho vay là hai hoạt động chính của ngân hàng, ngoài ra
ngân hàng còn thực hiện một số hoạt động khác như quản lý ngân quỹ, mua
bán ngoại tệ, cung cấp các dịch vụ uỷ thác, tư vấn, bảo hiểm… Ngân hàng có
thêm nguồn thu từ thu phí dịch vụ của những hoạt động này.
1.1.3 Vai trò của NHTM
* Vai trò trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư giữa hai loại tổ chức và cá nhân trong nền kinh
tế: các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu với các cá nhân và tổ
chức thặng dư trong chi tiêu.
* Vai trò thanh toán
Ngày nay khi nền kinh tế càng phát triển thì việc thanh toán qua ngân hàng
ngày càng phổ biến. Thanh toán thông qua ngân hàng là hình thức thanh toán
không dùng tiền mặt, thay vào đó khách hàng chỉ cần mở tài khoản tại ngân
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hàng. Ngân hàng sẽ thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua
bán hàng hoá và dịch vụ. Hình thức thanh toán này giúp tiết kiệm thời gian và
chi phí, đảm bảo an toàn cho khách hàng.
* Vai trò thực thi chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ được NHNN thực hiện thông qua các công cụ như lãi suất,
tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở… Các

khác của ngân hàng cấp trên. Luật pháp qui định phạm vi hoạt động cho các
ngân hàng. Bên cạnh đó mỗi ngân hang có thể có mục đích và phạm vi hoạt
động riêng. Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng bảo đảm ngân
hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ đó là phù
hợp với cương lĩnh của ngân hàng.
Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án sản xuất kinh doanh (hoặc dự án) có
hiệu quả. Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ
nhất. Các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản
của người vay. Trong trường hợp thấy kém an toàn, ngân hàng đòi hỏi người
vay phải có tài sản đảm bảo khi vay. Tài sản đảm bảo này có thể khác với tài
sản tương đương hình thành từ tiền vay.
1.1.4.3 Điều kiện cho vay của NHTM
* Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối với khách hàng là các tổ
chức cá nhân nước ngoài phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành
vi dân sự theo quy định của pháp luật nước mà tổ chức đó có quốc tịch hoặc
cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước đó được Bộ luật dân sự nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt
Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định
* Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp .
* Có dự án đầu tư hoặc phương án kinh doanh khả thi và có hiệu quả.
* Có khả năng tài chính đủ đảm bảo thực hiện phương án kinh doanh và đủ
trả nợ trong thời hạn cam kết.
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Có tài sản đảm bảo cho khoản vay theo đúng quy định của Chính Phủ và
hướng dẫn của NHNN Việt Nam.
1.1.4.4 Vai trò hoạt động cho vay của NHTM đối với cácDNVVN
Nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu về vốn của doanh nghiệp ngày

Hiện nay số lượng các DNVVN ở nước ta chiếm khoảng hơn 90% tổng số các
DN nhưng số lượng DNVVN có thể tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng không
nhiều. Nếu như các DNVVN có thể vay vốn ngân hang nhiều hơn thì sẽ có
điều kiện phát triển, thoát khỏi tình trạng yếu kém, từ đó cũng sẽ làm cho nền
kinh tế phát triển tốt hơn.
1.1.4.5 Đặc điểm của hoạt động cho vay
* Đối tượng cho vay: bao gồm cá nhân và tổ chức có hoạt động sản xuất kinh
doanh thuộc mọi thành phần kinh tế
* Thời hạn cho vay và kì hạn nợ: dựa vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời
hạn thu hồi vốn đầu tư, số vốn vay ngân hàng mà ngân hàng quy định thời
hạn cho vay và kì hạn nợ.
* Hình thức cho vay: ngân hàng có nhiều hình thức cho vay khác nhau phục
vụ cho nhu cầu về vốn của mọi đối tượng khách hàng.
* Lãi suất cho vay: mức lãi suất cho vay hiện nay được thoả thuận giữa ngân
hàng với khách hàng. Ngân hàng cũng đưa ra nhiều mức lãi suất linh hoạt,
phù hợp với từng đối tượng khách hàng và từng thời kỳ.
* Giới hạn cho vay: khi khách hàng đến vay vốn ngân hàng, nếu vay bổ sung
vốn luư động ngân hàng sẽ căn cứ vào số vốn cần vay để tính ra nhu cầu vay
vốn hợp lí và cho khách hàng vay theo như đã tính toán. Ngân hàng cũng có
thể cho vay theo giá trị tài sản đảm bảo, theo luật quy định là 70% giá trị tài
sản đảm bảo. Ngoài ra, ngân hàng chỉ được cho vay tối đa 15% vốn tự có đối
với một khách hàng, nếu nhu cầu vay vốn của khách hàng lớn hơn 15% vốn
tự có của ngân hàng thì ngân hàng phải cho vay hợp vốn.
1.1.4.6 Các hình thức cho vay
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để thuận tiện cho việc theo dõi các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu
quản lý và phòng ngừa rủi ro, các NHTM đã phân loại các khoản vay theo
nhiều tiêu thức khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại:
*Phân loại theo thời gian : thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và

hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến hoạt động của người đi vay.
+ Cho vay thế chấp: là hình thức người đi vay chuyển những giấy tờ chứng
nhận quyền sở hữu tài sản cho ngân hàng trong thời gian cam kết. Đảm bảo
bằng thế chấp cho phép người đi vay sử dụng tài sản đảm bảo phục vụ cho
hoạt động kinh doanh.
+ Bảo lãnh là hình thức cho vay dựa trên sự bảo lãnh của người thứ ba.
Theo đó người thứ ba sẽ cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính trong
trường hợp người đi vay không thực hiện đúng nghĩa vụ với ngân hàng.
* Phân loại theo mục đích cho vay
- Cho vay bất động sản: là hình thức cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng nhà ở, đất đai, bất động sản.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lưu động cho các DN trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc…
- Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng dân cư
như mua sắm vật dụng đắt tiền, đồ dùng lâu bền…
* Phân loại theo phương thức cho vay
- Thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người
vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Khi khách hàng có tiền về tài
khoản ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, dành cho cả DN và cá
nhân. Hình thức này thường chỉ sử dụng với những khách hàng có độ tin cậy
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn. Nếu khách hàng chi vượt quá hạn
mức thấu chi thì sẽ bị phạt hoặc đình chỉ sử dụng hình thức này.
Sơ đồ cho vay thấu chi:
- Cho vay trực tiếp từng lần: đây là hình thức cho vay áp dụng đối với

Hình thức cho vay này thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường
xuyên. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể
nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay.
-Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho
vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng.
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Thời gian
Hạn mức được duyệt trong kỳ
Dư nợ trong kỳ
Hạn mức được duyệt cuối kỳ
Dư nợ
Thời gian
Dư nợ
Dư nợ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận trong 1 năm hoặc vài năm. Đây
không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối
quan hệ với khách hàng và quyết định có cho vay nữa hay không tuỳ thuộc
vào mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, uy tín của khách hàng cũng
như tình hình tài chính của khách hàng.
Đối với hình thức vay này, hàng hoá mua vào là đối tượng cho vay của ngân
hàng, thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho ngân hàng. Các khoản
phải thu và hàng hoá trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoản cho vay.Cho
vay luân chuyển thuận tiện cho khách hàng vì thủ tục vay chỉ cần thực hiện 1
lần cho nhiều lần vay. Tuy nhiên điều này lại gây khó khăn cho ngân hàng
trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ
ràng.
Sơ đồ cho vay luân chuyển
- Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách

trình phát triển kinh tế, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Theo nghị định số 90/201/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 23/11/2001 về trợ giúp
phát triển DNVVN thì DNVVN được định nghĩa như sau: “ Doanh nghiệp
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Ngân hàng
Trung gian: tổ,
đội, hội, nhóm
Khách hàng
(thường là nông
dân, người buôn
bán nhỏ)
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo
pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động
trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Theo tiêu chí phân loại DNVVN về vốn sản xuất và lao động thường xuyên
thì ở Việt Nam có cách phân loại như sau:
Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNVVN ở Việt Nam

Tiêu chí
Công nghiệp Thương mại, dịch vụ
DNV & N Trong đó:
DN nhỏ
DNV & N Trong đó:
DN nhỏ
Vốn sản xuất
(đồng)
Dưới 5 tỷ Dưới 1 tỷ Dưới 2 tỷ Dưới 1 tỷ
Lao động thường
xuyên (người)

*Vai trò cung cấp đa dạng các loại hình sản phẩm, dịch vụ cho cả nền kinh
tế.
Với một tỷ lệ nhỏ các DN lớn không thể cung cấp đầy đủ, đa dạng hàng hoá
cho cả nền kinh tế, nhất là đối với nhu cầu ngày càng lớn trong khu vực dân
cư. Các DNVVN đã làm rất tốt khi bù đắp những thiếu sót của DN lớn bằng
cách linh hoạt trong việc thay đổi mặt hàng kinh doanh. Đối với những mặt
hàng không còn sức cạnh tranh, DNVVN có thể dễ dàng chuyển sang mặt
hàng khác phù hợp với nhu cầu thị trường. Nhờ đó DNVVN đã thực hiện tốt
vai trò cung cấp một lượng sản phẩm, hàng hoá đa dạng, cùng với các DN lớn
góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Theo số liệu thống kê vào thời điểm cuối
năm 2005, các DNVVN đóng góp khoảng gần 30% GDP và 31% giá trị tổng
sản lượng công nghiệp.
* Vai trò tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và góp phần làm cho nền kinh tế
hiệu quả hơn.
Số lượng lớn các DNVVN vừa làm tăng khối lượng sản phẩm, hàng hoá đồng
thời vừa làm tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế. Chính nhờ tính linh hoạt
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong việc thay đổi mặt hàng kinh doanh, sự thâm nhập thị trường từ những
sản phẩm rất nhỏ làm cho các doanh nghiệp luôn gặp phải sức ép cạnh tranh.
Các DNVVN phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm của mình, giảm
thiểu chi phí, sáng tạo ra những sản phẩm tiện ích hơn…để có thể cạnh tranh
với các doanh nghiệp khác và đạt mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Sự cạnh
tranh đã làm cho các doanh nghiệp hoạt động hiểu quả hơn và khi các doanh
nghiệp hoạt động hiệu quả thì sẽ nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế.
* DNVVN góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Thuế và phí là nguồn thu chính của ngân sách quốc gia, nguồn thu này đế
phục vụ nhu cầu chi thường xuyên và chi khác của nhà nước. Nhà nước thu
thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các DNVVN nên số lượng các DNVVN
góp phần làm tăng thu cho ngân sách nhà nước.

• Mở rộng thị trường cho các NHTM.
Các DNVVN với truyền thống là vay vốn ngân hàng nên khi các DNVVN
càng phát triển thì ngân hàng có thể cho vay nhiều hơn, từ đó thu được lợi
nhuận cao hơn. Tuy nhiên, hiện nay các NHTM cho vay đối với DNVVN còn
ít so với lượng DNVVN trong nền kinh tế. Nếu các NHTM có thể cho vay
nhiều hơn và các DNVVN có điều kiện tốt hơn để vay vốn ngân hàng thì sẽ
có lợi cho cả hai bên.
1.3 Thực trạng phát triển DNVVN ở Việt Nam.
Sự chuyển dịch cơ cẩu kinh tế ở Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung truyền thống sang nền kinh tế theo hướng thị trường chính thức bắt đầu
từ năm 1986 đã mang lại những cải thiện to lớn về hiệu quả kinh tế và chất
lượng cuộc sống. Vào thời gian đầu những năm 90, các DN Nhà nước chiếm
tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế, nhưng tỷ trọng của các DN có vốn đầu tư
nước ngoài và DN tư nhân cũng dần tăng lên. Trong khu vực kinh tế tư nhân,
DNVVN nắm giữ một vị trí quan trọng, có những ảnh hưởng nhất định đến sự
phát triển kinh tế đất nước. Theo tài liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư đến tháng
10 năm 2007, Việt Nam có khoảng 280.000 DN được cấp phép hoạt động,
trong đó có 8.500 dự án FDI, trên 2000 DNNN, còn lại khu vực kinh tế tư
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhân. Chính phủ dự kiến đến năm 2010 sẽ phát triển thêm 220.000 DN chủ
yếu ở khu vực kinh tế tư nhân.
Các DNVVN ra đời đã giải quyết được nhiều vấn đề như việc làm, góp phần
phát triển các ngành nghề truyền thống, khơi dậy tiềm năng trong dân chúng...
Trong năm 2002 toàn bộ khu vực DN Nhà nước chỉ sử dụng khoảng 2,3 triệu
lao động so với con số gần 40 triệu người của tổng lực lượng lao động Việt
Nam. Thay vào đó là sự gia tăng lao động ở khu vực tư nhân trong giai đoạn
này, đặc biệt là sự tăng trưởng của công ty TNHH và công ty cổ phẩn. Trong
giai đoạn 2000-2002, các loại hình doanh nghiệp này đã tăng gần gấp đôi về
số lượng lao động, từ 560.000 lên đến 1.062.000 ( Tổng cục Thống kê,

và DN, ngân hàng thì e ngại cho vay vì DN không đáp ứng đủ điều kiện về tài
sản đảm bảo, về phương án sản xuất kinh doanh, các báo cáo tài chính thừơng
mang tính chất đối phó, không trung thực, không tuân thủ chế độ phát hành
hoá đơn bán hàng.... Còn các DN thiếu vốn muốn vay nhưng lại không đáp
ửng đủ điều kiện của ngân hàng. Các ngân hàng nên đổi mới phương thức
kinh doanh, tích cực hơn trong việc tìm kiếm khả năng cho vay, tăng cường
đội ngũ cán bộ đi sâu sát cơ sở, bình đẳng hơn trong quan hệ tín dụng giữa
các loại hình DN, đổi mới cơ cấu đầu tư và nâng cao tỷ trọng cho vay...
Ngược lại các DN cũng nên nâng cao năng lực quản lý điều hành với đội ngũ
lãnh đạo, tích cực đào tạo nguồn nhân lực chủ động, sáng tạo, thực hiện
nghiêm chỉnh Luật doanh nghiệp và các luật liên quan trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, thực hiện công khai minh bạch các báo cáo tài chính, đảm
bảo tính trung thực của các báo cáo tài chính. Như vậy DN mới tạo được lòng
tin cho ngân hàng.
Khó khăn tiếp theo phải kể đến là khó khăn về công nghệ. Công nghệ do các
DNVVN sử dụng hiện nay đã lạc hậu hàng chục năm. Do đó nó có ảnh hưởng
trực tiếp đến chất luợng và mẫu mã sản phẩm dẫn đến sản phẩm làm ra không
đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng. Thêm vào đó, kỹ năng
nghiệp vụ quản lý cũng như tay nghề lực lượng lao động trong các DNVVN
hiện nay bị đánh giá thấp so với nhu cầu. Hơn nữa, đa số chủ các DN không
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có kiến thức, thông tin về chuyển giao công nghệ. Với một số DN mua công
nghệ chỉ đơn giản là mua máy móc thiết bị. Công nghệ tốt giúp DN tăng năng
suất lao động, sản xuất ra những sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, giảm
bớt chi phí sản xuất, nhờ đó tăng năng lực cạnh tranh. Qua số liệu thống kê về
một cuộc nghiên cứu ở Quảng Nam và Đà Nẵng vào năm 2006 cho thấy 62%
DNVVN không cho rằng mình phải thay đổi công nghệ. Trong số những
người cho rằng cần thay đổi công nghệ, chỉ có 15% đã có kế hoạch cụ thể cho
việc thay đổi công nghệ. Rất ít chủ DN có quyết tâm thay đổi và nỗ lực trong

hưởng đối với DNVVN:
• Những tác động tích cực
- Các DNVVN có hành lang pháp lý đầy đủ và thuận lợi hơn để phát triển.
Năm 2000 Luật DN ra đời, từ đó đến nay Chính Phủ cũng đã ban hành nhiều
Nghị định, Quyết định mang tính pháp lý dành riêng cho hỗ trợ DNVVN phát
triển như: Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN về quy chế cho vay của tổ
chức tín dụng đối với khách hàng, Quyết định này đã được sửa đổi bằng
Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN và Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN;
Quyết định số 992/2001/QĐ-NHNN về mức cho vay không có bảo đảm của
NHTM Cổ phần và Ngân hàng liên doanh; Quyết định số 993/2001/QĐ-
NHNN về mức cho vay không có bảo đảm của NHTM Nhà nước, Quyết định
456/2002/QĐ-NHNN về cơ chế lãi suất thoả thuận…
NHNN còn ban hành chỉ thị CT/03-NHNN ngày 21/5/2003 trong đó yêu cầu
các tổ chức tín dụng tạo mọi điều kiện cho các DN thuộc mọi thành phần kinh
tế tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
- Hội nhập WTO tạo môi trường kinh doanh bình đẳng hơn cho DNVVN ở
khu vực kinh tế tư nhân phát triển
- DNVVN có điều kiện thuận lợi tiếp cận với thị trường thế giới
Từ năm 2002 trở lại đây, mọi DN không phân biệt thành phần kinh tế kể cả
hộ cá thể có đăng kí kinh doanh hợp pháp đều có quyền xuất - nhập khẩu trực
tiếp với nước ngoài. Các rào cản về giấy phép, hạn ngạch xuất - nhập khẩu
Nguyễn Mai Anh Lớp: Tài chính 46Q
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
giảm rất nhiều; việc đi lại của các cá nhân Việt Nam ra nước ngoài tạo điều
kiện thuận lợi cho các DNVVN tiếp cận với thị trường thế giới.
- Môi trường kinh doanh minh bạch và công khai
Hiện nay các cơ quan của Nhà nước đều công khai công bố dưới nhiều hình
thức các cơ chế chính sách có liên quan đến DN, giúp các DN tiếp cận kịp
thời, ít tốn thời gian và tiền bạc.
- Thủ tục hành chính thuận lợi hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status