Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm thức ăn chăn nuôi lợn của công ty greenfeed tại thị xã an nhơn, - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Khuyến nông và Phát triển nông thôn
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI
Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm thức
ăn chăn nuôi lợn của công ty Greenfeed tại Thị xã An Nhơn,
tỉnh Bình Định
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Ý
Lớp: Khuyến nông 45
Thời gian thực hiện: 1 – 6/2015
Địa điểm thực hiện: Thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Hoàng Thị Hồng Quế
Bộ môn: Khuyến nông
NĂM 2015
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp
của mình, trong thời gian qua tôi đã nhận được
nhiều sự giúp đỡ quý báu từ các cơ quan và cá
nhân. Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn
tới toàn thể quý thầy, cô giáo khoa Khuyến nông
và Phát triển nông thôn – Trường Đại học Nông
Lâm huế. Chính sự dạy dỗ và chỉ bảo của quý
thầy cô trong suốt 4 năm học tại trường đã tạo
nền tảng vững chắc về kiến thức để giúp tôi có
thể hoàn thiện được đề tài của mình.
Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu
sắc nhất tới cô giáo Thạc sĩ Hoàng Thị Hồng Quế
– Người đã hướng dẫn, chỉ bảo và quân tâm sâu
sát, nhiệt tình trong thời gian qua để tôi có
thể hoàn thành đề tài của mình đúng trọng tâm

2.2.1. Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam 12
2.2.2. Tình hình chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Bình Định 14
Biểu đồ 2.1. Diễn biến số lượng đàn lợn tỉnh Bình Định 14
2.2.3. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Greenfeed Bình Định 15
2.2.3.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Greenfeed Việt Nam 15
2.2.3.2. Mục tiêu, sứ mạng và hoài bão của Công ty 18
Sơ đồ 2.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty Greenfeed Bình Định 19
2.2.3.5. Lao động 20
2.2.3.6. Tình hình vốn của công ty 21
Biểu đồ 2.2. Tình hình sử dụng vốn công ty Greenfeed Bình Định 21
2.2.3.7. Thuận lợi và khó khăn của công ty 22
3.2.2. Phương pháp thu thập thông tin 21
3.2.3.2. Phương pháp xử lý số liệu 22
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thị xã An Nhơn 23
4.1.1. Vị trí địa lý, hành chính thị xã An Nhơn 23
Hình 4.1. Bảng đồ vị trí địa lý Thị xã An Nhơn 23
4.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội 25
4.2. Thực trạng chăn nuôi lợn và sử dụng thức ăn công nghiệp tại Thị xã An Nhơn 25
4.2.1. Thực trạng chăn nuôi lợn tại thị xã An Nhơn 25
Biểu đồ 4.1. Số lượng lợn tại thị xã An Nhơn 26
4.2.2. Thực trạng chăn nuôi lợn tại các hộ khảo sát 26
4.2.3. Tình hình tiêu thụ thức ăn chăn nuôi lợn của công ty Greenfeed Bình Định trên địa bàn thị xã
An Nhơn 29
Biểu đồ 4.2. Sản lượng Thức ăn chăn nuôi lợn cung ứng thị trường An Nhơn 29
4.2.4. Tổ chức tiêu thụ và các kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm thức ăn chăn nuôi lợn tại thị xã An
Nhơn 30
Sơ đồ 4.1. Kênh phân phối thức ăn chăn nuôi lợn Công ty Greenfeed Bình Định trên thị xã An Nhơn 31
4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ thức ăn chăn nuôi lợn trên địa bàn Thị xã An Nhơn, tỉnh Bình
Định 32

SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Kênh tiêu thụ trực tiếp 6
Sơ đồ 2.1. Kênh tiêu thụ trực tiếp 3
Sơ đồ 1.1: Kênh tiêu thụ trực tiếp 3
Sơ đồ 2.2. Kênh tiêu thụ gián tiếp 4
Sơ đồ 1.2: Kênh tiêu thụ gián tiếp 4
Biểu đồ 2.1. Diễn biến số lượng đàn lợn tỉnh Bình Định 14
Sơ đồ 2.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty Greenfeed Bình Định 19
Biểu đồ 2.2. Tình hình sử dụng vốn công ty Greenfeed Bình Định 21
Hình 4.1. Bảng đồ vị trí địa lý Thị xã An Nhơn 23
Biểu đồ 4.1. Số lượng lợn tại thị xã An Nhơn 26
Biểu đồ 4.2. Sản lượng Thức ăn chăn nuôi lợn cung ứng thị trường An Nhơn 29
Sơ đồ 4.1. Kênh phân phối thức ăn chăn nuôi lợn Công ty Greenfeed Bình Định trên thị xã An Nhơn 31
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân
PTNT : Phát triển nông thôn
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
KCN : Khu công nghiệp
BQ : Bình quân
TB : Trung bình
ĐVT : Đơn vị tính
SL : Số lượng
CC : Cơ cấu
STT : Số thứ tự
BẢNG TÓM TẮT BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Giới thiệu đề tài:
Tên đề tài: Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm thức ăn
chăn nuôi lợn của công ty Greenfeed tại Thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Giáo viên hướng dẫn: Th.S. Hoàng Thị Hồng Quế.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Ý.

công ty sản xuất ra là khá đa dạng. Hệ thống đại lý phân phối của công ty
Greenfeed Bình Định khá đông, sản lượng tiêu thụ của các đại lý vẫn chưa cao.
Công ty rất quan tâm, đầu tư cho dịch vụ hỗ trợ trong hoạch động kinh doanh
thức ăn chăn nuôi như việc tư vấn thiết kế chuồng trại, tư vấn chăn nuôi, chữa
bệnh, cung cấp con giống, tinh heo, thuốc thú y và trang thiết bị chuồng trại
Đây là một hoạt động mà các công ty thức ăn chăn nuôi khác trên địa bàn tình
Bình Định vẫn chưa làm được, yếu tố này tạo ra sự khác biệt và giúp công ty
Greenfeed thành công.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm thức ăn chăn
nuôi lợn của Công ty như giá cả, chất lượng, trình độ quản lý, chương trình
khuyến mại, quy mô chăn nuôi Trong đó, giá cả và chất lượng là 2 yếu tố quan
trọng nhất, 2 yếu tố mà nhà sản xuất có thể điều chỉnh được, đó là 2 yếu tố mà
người chăn nuôi nghĩ tới đầu tiên khi lựa chọn mua sản phẩm. Người chăn nuôi
là người trực tiếp lựa chọn sử dụng sản phẩm của Công ty, để người chăn nuôi
quyết định lựa chọn sản phẩm thì Công ty cần có những giải pháp, chiến lược,
đáp ứng được nhu cầu của người chăn nuôi, khi đó mới có thể bán được sản
phẩm, tăng sản lượng cho Công ty.
Như vậy hoạt động sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi của công ty
Greenfeed Bình Định mang lại hiệu quả, là một trong những công ty lớn trên thị
trường Bình Định cũng như của cả nước, ngày càng nâng cao chất lượng sản
phẩm để cung cấp cho thị trường chăn nuôi Việt Nam.
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên
ThS. Hoàng Thị Hồng Quế Nguyễn Văn Ý
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi Việt Nam hiện nay chiếm 32% giá trị sản xuất của
ngành nông nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Với vị thế
ngày càng cao trong nền kinh tế, ngành chăn nuôi đã tạo ra một thị trường rộng
lớn về nhu cầu sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp cho các công ty sản xuất
thức ăn chăn nuôi [6]. Để đáp ứng yêu cầu của thị trường, thì việc cung cấp thức

mua nhiều nhất, và việc tiêu thụ sản phẩm nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều các
yếu tố, để giúp công ty Greenfeed tìm ra giải pháp mở rộng và phát triển thị
trường tôi nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản
phẩm thức ăn chăn nuôi lợn của công ty Greenfeed tại thị xã An Nhơn, tỉnh
Bình Định”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng tiêu thụ sản phẩm thức ăn chăn nuôi lợn của công ty
Greenfeed tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm thức ăn chăn
nuôi lợn của công ty Greenfeed.
2
PHẦN II. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Cơ sở lý luận về tiêu thụ sản phẩm
2.1.1.1. Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của
hàng hóa, là những cách thức, con đường kết hợp hữu cơ giữa người sản
xuất và những người trung gian khác nhau trong quá trình vận chuyển và
phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng.Trong nền kinh tế thị
trường, việc tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng nhiều kênh khác nhau.
Tùy theo đặc điểm của sản phẩm tiêu thụ, quy mô, khả năng của mình mà
doanh nghiệp sử dụng các kênh phân phối sản phẩm khác nhau.
Căn cứ vào quan hệ mua bán, kênh tiêu thụ sản phẩm được chia thành
hai hình thức: kênh tiêu thụ trực tiếp và kênh tiêu thụ gián tiếp.
- Kênh tiêu thụ trực tiếp:
Sơ đồ 2.1. Kênh tiêu thụ trực tiếp
Là hình thức tiêu thụ mà doanh nghiệp sản xuất và bán sản phẩm của
mình tận tay cho người tiêu dùng cuối cùng. Ưu điểm của hình thức này đó
là có hệ thống cửa hàng phong phú, tiện lợi, doanh nghiệp thường xuyên tiếp
xúc trực tiếp với khách hàng nên có thể biết rõ được nhu cầu, xu hướng nhu

thụ sản phẩm còn thúc đẩy việc doanh nghiệp ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản
xuất kinh doanh bởi những đòi hỏi của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm
không ngừng gia tăng.
4
Doanh nghiệp
sản xuất
Bán buôn
Bán lẻ
Người tiêu dùng
cuối cùng
Đại lý Môi giới
Đối với xã hội, tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân đối cung và cầu, vì
nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất với những cân bằng, với những tương
quan tỉ lệ nhất định. Sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ, tức là sản xuất đang diễn ra
một cách trôi chảy, tránh được sự mất cân đối, giữ được sự bình ổn của thị trường,
đồng thời giúp các doanh nghiệp xác định phương hướng, kế hoạch cho những giai
đoạn sản xuất tiếp theo. Thông qua tiêu thụ sản phẩm có thể dự đoán nhu cầu tiêu
dùng của xã hội nói chung và từng khu vực nói riêng đối với từng loại sản phẩm.
Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp sẽ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của
mình sao cho đạt được hiệu quả cao nhất. Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối liên kết kinh
tế giữa các vùng kinh tế trong nước, giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới, giải
quyết công ăn việc làm, đảm bảo thu nhập cho người lao động và nâng cao đời sống
văn hoá tinh thần cho người dân, đồng thời đóng góp vào ngân sách Nhà nước và
thực hiện các nghĩa vụ xã hội.
Tóm lại, để sản xuất kinh doanh được thực hiện một cách trôi chảy, liên tục
và đạt hiệu quả cao thì công tác tiêu thụ sản phẩm phải được tổ chức tốt. Vì vậy, việc
quản lý hoạt động tiêu thụ là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
doanh nghiệp. [1]
2.1.1.3. Ý nghĩa của việc tiêu thụ sản phẩm
Quá trình tái sản xuất đối với doanh nghiệp bao gồm hoạt động thương

trường, khách hàng và quy mô thị trường. Điều tra nghiên cứu thị trường giúp trả lời
những câu hỏi: Thị trường cần gì? Khối lượng bao nhiêu? chất lượng có thể chấp
nhận? Thời gian cần? Giá cả có thể chấp nhận?
Lựa chọn sản phẩm thích ứng và tiến hành tổ chức sản xuất: Trên cơ sở của
việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ lựa chọn sản phẩm thích ứng với nhu
cầu thị trường. Sản phẩm thích ứng phải đảm bảo về mặt số lượng, chất lượng và giá
cả. Về mặt số lượng, lượng sản phẩm sản xuất ra phải phù hợp với quy mô thị
trường. Về mặt chất lượng, sản phẩm phải phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng,
phải tương xứng với trình độ tiêu dùng. Về mặt giá cả, mức giá cho sản phẩm mà
doanh nghiệp đưa ra phải là mức giá được người tiêu dùng chấp nhận, đồng thời đem
lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tổ chức hoàn chỉnh sản phẩm và đưa hàng hóa về kho thành phẩm để chuẩn
bị tiêu thụ: Bao gồm các hoạt động tiếp nhận, kiểm tra, phân loại, đóng gói, Đây là
khâu không kém phần quan trọng trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, nó đảm bảo sản
phẩm sản xuất ra theo đúng yêu cầu về số lượng, chất lượng, mẫu mã hay không.
Đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng là doanh nghiệp đảm bảo chữ tín với khách
hàng, doanh nghiệp cũng hạn chế được những thất thoát, kiểm tra được khả năng sản
xuất của đội ngũ lao động. Bao bì không chỉ có tác dụng bảo vệ, mô tả và giới thiệu
sản phẩm mà nó còn chứa đựng rất nhiều nhân tố tác động đến khách hàng và việc
quyết định lựa chọn mua hàng của họ. Vì vậy doanh nghiệp đảm bảo tốt công tác
kiểm tra, nghiên cứu, thiết kế bao bì sao cho đem lại hiệu quả cao nhất.
6
Định giá và thông báo giá: Mức giá bán phải là mức giá được khách hàng
chấp nhận và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Mức giá được khách hàng chấp
nhận phụ thuộc vào quy mô cung – cầu, mức độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng của
sản phẩm về giá trị sử dụng, hình thức, chất lượng Mức giá bán phải là mức giá bù
đắp được những chi phí sản xuất và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì thế
doanh nghiệp cần phải nắm chắc các thông tin về chi phí sản xuất thông qua việc
hạch toán giá thành. Sau khi xác định được mức giá bán hợp lý, doanh nghiệp tiến
hành thông báo giá ra thị trường.

chúng có mối liên hệ khăng khít với nhau, hỗ trợ lẫn nhau cùng tạo ra hiệu quả cho
quá trình tiêu thụ sản phẩm. [1]
2.1.2. Những lý luận về thức ăn chăn nuôi công nghiệp
2.1.2.1. Khái niệm và vai trò của thức ăn chăn nuôi công nghiệp
Thức ăn chăn nuôi là là đầu vào của quá trình đầu tư, là cơ sở ban đầu để
thúc đẩy quá trình tăng trưởng và phát triển của vật nuôi. Chỉ có dinh dưỡng tốt,
đầy đủ trong thưc ăn chăn nuôi mới phát huy tối đa ưu thế di truyền giống, bảo
đảm an toàn thực phẩm, bảo đảm vệ sinh môi trường và mang lại hiệu quả kinh
tế cao trong chăn nuôi.
Thức ăn chăn nuôi có vai trò quyết định nên giá thành sản phẩm của
ngành chăn nuôi, vì chỉ riêng thức ăn chăn nuôi đã chiếm 65 – 70% giá thành
sản phẩm thịt, sữa, trứng của ngành chăn nuôi.
Thức ăn chăn nuôi công nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng cho sự phát
triển của ngành chăn nuôi, từ đó, tạo ra năng suất cao cho ngành chăn nuôi. Nếu
như trước đây theo hình thức truyền thống, nguồn thức ăn không đủ chất dinh
dưỡng cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi, thì ngày nay, thức ăn chăn nuôi
công nghiệp không những đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về dinh dưỡng cho vật
nuôi, mà còn tạo ra sự đột phá về khả năng phát triển mạnh, nhanh cho ngành
chăn nuôi. Với nguồn thức ăn được chế biến theo nhu cầu dinh dưỡng từng giai
đoạn sinh trưởng và phát triển của vật nuôi nên đã tạo nên sự tăng trưởng nhanh
cho vật nuôi. Từ đó, ngành chăn nuôi cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm phục
vụ cho đời sống con người.
Thức ăn chăn nuôi công nghiệp đã góp phần làm thay đổi tập quán chăn
nuôi. Từ chăn nuôi lạc hậu, nhỏ lẻ, không tập trung, tận dụng các phế phẩm,
nguồn nguyên liệu thừa của ngành chế biến, sinh hoạt làm thức ăn sang hướng
chăn nuôi mang tính công nghiệp, quy mô lớn và tập trung.
Ngoài việc rút ngắn chu kỳ chăn nuôi bằng tốc độ tăng trưởng nhanh của
vật nuôi, nhờ có thức ăn chăn nuôi công nghiệp mà số lượng mà số lượng lao
động sử dụng trong ngành chăn nuôi giảm một cách đáng kể. Nếu như theo
phương thức truyền thống, thức ăn phải nấu chín, lượng thức ăn tiêu tốn nhiều

sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp thường ngắn (ít tác nhân trung gian).
Ngành chăn nuôi cũng phát triển mạnh (quy mô trang trại, tập trung) thì xu
hướng phát triển kênh phân phối của thị trường thức ăn chăn nuôi công nghiệp
ngày càng ngắn (càng gần người chăn nuôi), có thể không còn các tác nhân
trung gian (đại lí cấp I, đai lý cấp II). Chính vì vậy, trong vài năm gần đây ngành
chăn nuôi của nước ta phát triển rất mạnh theo hướng trang trại. Nhiều trang trại
chăn nuôi quy mô lớn, có tiềm lực kinh tế đã mua thức ăn chăn nuôi công
nghiệp trực tiếp của các nhà máy, còn những trang trại có tiềm lực kinh tế yếu,
9
những trang trại vừa và nhỏ thì mua qua các tác nhân trung gian (đại lý cấp I, đại
lý cấp II).
- Giữa người bán (công ty, đại lý) và người tiêu dùng (người chăn nuôi)
ràng buộc với nhau bằng quan hệ xã hội, đặt biệt là quan hệ tài chính. Ở Việt
Nam, người chăn nuôi phần lớn là những người làm nông nghiệp, khả năng
tài chính là không mạnh nên người chăn nuôi thường mua chịu thức ăn chăn
nuôi công nghiệp của các đại lý. Chính vì vậy, để kinh doanh thức ăn chăn
nuôi công nghiệp thì đòi hỏi vốn kinh doanh của các đại lý thức ăn chăn nuôi
công nghiệp phải lớn mới đáp ứng được cho người chăn nuôi. Do đó, người
chăn nuôi phụ thuộc rất lớn vào một số bộ phận thương gia (đại lý cấp I, đại
lý cấp II) trong vùng.
- Ngành chăn nuôi thức ăn chăn nuôi công nghiệp phụ thuộc rất lớn vào
tính thời vụ của ngành công nghiệp, tính chu kỳ của ngành chăn nuôi. Đây là
những vấn đề mà các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp luôn phải đối
mặt. Nước ta là một nước nông nghiệp nhưng các sản phẩm của ngành nông
nghiệp dùng làm nguyên liệu cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi lại chủ yếu
phải nhập khẩu từ nước ngoài như ngô, mì, mạch. Mỗi năm nước ta phải nhập
khẩu vài chục vạn tấn, riêng khô đậu tương phải nhập khẩu khoảng 1 triệu
tấn/năm từ Ấn Độ, Achentina, Hoa Kỳ, Brazil.
- Thị trường thức ăn chăn nuôi công nghiệp phụ thuộc rất lớn vào giá cả
sản phẩm đầu ra hay lợi nhuận của ngành chăn nuôi. Nếu giá sản phẩm đầu ra

định cho sự phát triển của ngành chăn nuôi công nghiệp. Nếu giá cả sản phẩm
đầu ra của ngành chăn nuôi ổn định và đem lại lợi nhuận cho ngành chăn nuôi,
thì sẽ tạo động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển. Nếu giá cả đầu ra của
ngành chăn nuôi không ổn định, chăn nuôi không có hiệu quả (không có lãi) thì
khả năng đầu tư cho ngành chăn nuôi sẽ bị hạn chế và sẽ làm ảnh hưởng trực
tiếp tới khả năng phát triển thị trường thức ăn chăn nuôi công nghiệp.
- Người Đức có câu: “Chất lượng là sự quay trở lại của khách hàng”.
Ngày nay, trong các doanh nghiệp sản xuất, việc sản xuất luôn được gắn liền với
việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm ảnh
hưởng hai lần tới doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Cụ thể: Chất lượng ảnh hưởng
tới giá cả sản phẩm do đó ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu (sản phẩm có phẩm
cấp cao giá bán sẽ cao hơn) vì vậy, chất lượng là giá trị được tạo thêm. Mặt
khác, chất lượng sản phẩm là một vũ khí cạnh tranh sắc bén, dễ dàng đè bẹp mọi
đối thủ, nhờ đó khối lượng sản phẩm tiêu thụ được sẽ tăng lên.
Chất lượng sản phẩm không phải hoàn toàn do người sản xuất quyết định
mà còn do người tiêu dùng kiểm nghiệm. Đó là hệ thống đặc tính nội tại của sản
phẩm đã được xác định bằng những thông số có thể đo hoặc so sánh phù hợp với
điều kiện hiện tại và thỏa mãn nhu cầu xã hội. Chất lượng sản phẩm hàng hóa
không nhất thiết được thực hiện bằng trang thiết bị máy móc nên khi xem xét
vấn đề này ta cần phải lưu ý tới mối quan hệ với những đặc tính khác trong cùng
11
một hệ thống sản xuất ra sản phẩm, nó được hình thành từ khi thiết kế, quá trình
chế tạo, được khẳng định qua kiểm tra kỹ thuật và đem ra sử dụng.
Tóm lại, chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc
tạo uy tín của doanh nghiệp với khách hàng, nó là sợi dây vô hình kết nối doanh
nghiệp với khách hàng tạo điều kiện cho việc tiêu thụ sản phẩm được dễ dàng,
nhanh chóng và thuận lợi.
Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác như dịch bệnh, thời tiết cũng tác động
trực tiếp đến ngành chăn nuôi và làm ảnh hưởng tới khả năng phát triển thị
trường của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp. Nếu như thời tiết mát

phía bắc
6.424.900 6.346.900 6.328.700 6.626.398
Bắc Trung Bộ và DH
miền Trung
5.253.300 5.084.900 5.090.100 5.207.484
Tây Nguyên 1.711.700 1.704.100 1.728.700 1.742.343
Đông Nam Bộ 2.801.400 2.780.000 2.758.700 2.890.167
ĐBSCL 3.772.500 3.722.900 3.595.600 3.470.425
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2014)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, số lượng lợn giảm qua các năm, tuy nhiên
thì chỉ giảm với số lượng ít. Nguyên nhân là do thời tiết, dịch bệnh xảy ra ở
nhiều vùng trong cả nước làm cho số lượng đàn lợn của một số vùng bị giảm.
Cơ cấu giống lợn hiện nay đã được cải thiện tích cực. hầu hết các giống
lợn có năng suất cao, chất lượng trên thế giới đã được nhập vào Việt Nam như
lanndrace, Yorkshire, Pietrain, … Mặt khác, sản lượng thịt hơi cũng tăng mạnh
qua cac năm gần đây. Theo nguồn thống kê của FAO thì Việt Nam đã đứng thứ
7 về số lượng lợn từ năm 1990. hiện nay Việt Nam chỉ đứng sau Trung quốc,
Brazin, Ba Lan, Tây Ban Nha và đứng đầu các nước Đông Nam Á, thứ 2 của
châu Á.
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ kỹ
thuật hiện đại và các chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cho
nền kinh tế có những bước phát triển nhảy vọt, đặc biệt là trong sản xuất nông
nghiệp đã đạt được những thành tựu to lớn, nó được thể hiện bằng việc cung cấp
đầy đủ lương thực thực phẩm, đảm bảo an ninh lương thực và là nước xuất khẩu
13
gạo đứng thứ 2 trên thế giới. Trong chăn nuôi, nước ta cũng đạt được những thành
tựu đáng kể, đặc biệt là chăn nuôi lợn. Hiện mỗi năm nước ta xuất chuồng khoảng
25 triệu con lợn. Tham gia vào hệ thống sản xuất thịt lợn gồm các trang trại Nhà
nước, tư nhân và trang trại thuộc các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp Nhà
nước chủ yếu cung cấp con giống. Các công ty nước ngoài hoạt động chăn nuôi

2.2.3. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Greenfeed Bình Định
2.2.3.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Greenfeed Việt Nam
 Lịch sử hình thành
Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam thành lập từ năm 2003, được
UBND tỉnh Long An cấp giấy phép đầu tư số 25/GP-LA ngày 26/8/2003.
Nhà máy GreenFeed Việt Nam xây dựng trên diện tích hơn 12 ha tại
KCN Nhựt Chánh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An với số vốn đầu tư trên 145
triệu USD. Công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh thức ăn
chăn nuôi cho gia súc, gia cầm và thủy sản. Tính đến nay, qua hơn 9 năm hoạt
động, với 5 nhà máy đặt tại Long An, Đồng Nai, Bình Định, Hưng Yên và
nước bạn Campuchia, cùng với đội ngũ nhân viên hơn 1.000 người,
GreenFeed đã phát triển mạnh mẽ, liên tục, nhanh chóng và bền vững để trở
thành một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi gia
súc, gia cầm và thủy sản với các dòng sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng nhu
cầu ngày càng khó của thị trường.
Với hệ thống nhà máy được đặt tại các tỉnh thành có thế mạnh về chăn
nuôi, hệ thống cầu cảng với công suất 35 tấn/giờ để xuất hàng về các chi nhánh
từ ĐBCSL đến các tỉnh miền Đông Nam Bộ theo hệ thống quản lý ISO 9001 -
2000, cùng hệ thống phân phối phủ khắp 64 tỉnh thành với khoảng hơn 2.000 đại
lý trên lãnh thổ Việt Nam và một số tỉnh ở Campuchia đã giúp khách hàng của
GreenFeed tạo ra những lợi thế về tốc độ giao nhận và giảm thiểu chi phí vận
chuyển hàng hóa.
Ngoài việc thường xuyên tổ chức các lớp huấn luyện, hội thảo kỹ thuật để
chia sẻ kinh nghiệm, cập nhật những thông tin mới nhất về sản phẩm tới khách
hàng, GreenFeed luôn nỗ lực hết mình để mang đến cho thị trường những sản
15

Trích đoạn Thực trạng chăn nuôi lợn tại các hộ khảo sát Tình hình tiêu thụ thức ăn chăn nuôi lợn của công ty Greenfeed Bình Định trên địa bàn thị xã Các yếu tố về phía công ty Giải pháp thúc đẩy tiêu thụ thức ăn trên địa bàn An Nhơn, Bình Định Tăng cường xúc tiến bán hàng, hội thảo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status