1
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ĐỌC CHO TRẺ EM KHUYẾT TẬT,
TIẾP CẬN TỪ CHỨC NĂNG CỦA NGÀNH THÔNG TIN - THƯ VIỆN
VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Ths.Trần Thị Thanh Vân
Khoa Thông tin – Thư viện
Trường ĐH KHXH & Nhân văn, ĐHQGHN
1. Khái niệm “Phát triển văn hóa đọc cho trẻ em khuyết tật”
- Khái nhiệm “phát triển”: theo Từ điển tiếng Việt, nghĩa là “biến đổi hoặc làm
cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”[11,
tr.769]. Trong tuyên bố tại Paris ngày 21/1/1988, ông Pérerz De Cuelzar,- nguyên
Tổng thư ký Liên hiệp quốc đã cụ thể hóa hơn về lý thuyết của sự phát triển cho rằng
“Phát triển, tất nhiên có nghĩa là thay đổi, nhưng sự thay đổi không có nghĩa là tạo
nên sự cách biệt mà nó sẽ tạo ra những đặc tính đặc trưng của xã hội các cá nhân;
đầu tiên và trên hết là sự thay đổi phải đem lại cuộc sống phồn vinh, có chất lượng,
được mỗi cộng đồng chấp nhận ” [9, tr.23].
- Khái niệm “văn hóa” là “những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”[11, tr.1100]. Nói đến “văn hóa” là nói tới con
người, nói tới việc phát huy năng lực, bản chất của con người trong mọi lĩnh vực hoạt
động (kinh tế, chính trị, xã hội hay giao tiếp ) nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện
xã hội - môi trường thứ hai (môi trường đầu tiên là môi trường tự nhiên), cái nôi nuôi
dưỡng nhân cách con người. Điều đó nghĩa là văn hóa có mặt trong tất cả mọi hoạt
động của con người và tất yếu trong đó có hoạt động “đọc”- văn hóa đọc. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã tổng kết “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và
các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà
2
viện nghiên cứu, hội nghề nghiệp, bảo tàng, nhà trường, xuất bản,phát thanh, truyền
hình và những người làm công tác xã hội tạo nên một hạ tầng cơ sở vật chất – công
nghệ cho các hoạt động văn hóa đọc. Như vậy, “phát triển văn hóa đọc” là “những
hoạt động của con người để biến đổi chính việc tiếp nhận thông tin (ứng xử, giá trị và
chuẩn mực tiếp nhận thông tin) của con người nhằm giúp họ nâng cao khả năng tiếp
nhận và tiếp tục tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần (văn hóa) cao hơn hướng
tới chân, thiện, mỹ với mục đích hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội – nâng cao
chất lượng cuộc sống của con người.
- Khái niệm “Người khuyết tật”: theo Từ điển tiếng Việt là “Những người bị
tật bẩm sinh, dị tật” [11, tr.517]. Theo “Đạo luật chống phân biệt đối xử với người
khuyết tật” do Quốc hội Anh ban hành thì người khuyết tật là người có một hoặc
nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và
lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày. Còn theo “Đạo
luật về người khuyết tật” của Hoa Kỳ năm 1990, lại quan niệm người khuyết tật là
người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay
nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Như vậy, có sự thống nhất tương đối về
nội hàm khái niệm “Khuyết tật” của hai đạo luật của Anh và Mỹ. Theo Tổ chức Y tế
Thế giới, có ba mức độ suy giảm về thể chất hay tinh thần là: khiếm khuyết
(impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Trong đó “khuyết tật” là
hiện tượng phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội
mà trong đó người khuyết tật phải chịu đựng. Bởi theo Tổ chức Y tế Thế giới Khiếm
khuyết chỉ đến sự không bình thường của cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc sinh lý.
Khuyết tật là hậu quả của sự khiếm khuyết, chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt
động. Tàn tật đề cập đến tình trạng thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác
động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ”. Còn theo quan
điểm của Tổ chức Quốc tế người khuyết tật thì người khuyết tật bị trở thành tàn tật
là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động của cộng đồng xã hội để có một cuộc
sống giống như thành viên bình thường khác. Theo tiến sĩ Gillian Burrington, người
khuyết tật là“một người mà có khuyết tật về thể chất, tinh thần, giác quan mà có
4
12% kiếm thị, 12,6% đa tật, 7% khuyết tật khác và 31% KT nặng. Phần lớn các em ở
nông thôn các tỉnh miền trung (Quảng Trị, Quảng Nam, Quàng ngãi ). Các dạng tật
nặng chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là khuyết tật trí tuệ, vận động, ngôn ngữ, thính
giác, đa tật, thị giác. Đây là con số không nhỏ về dân số sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu quả của mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước nếu chúng ta không chăm lo phát triển văn hóa đọc cho các em
để góp phần giúp các em tự tin sớm hòa nhập cộng đồng, có tri thức, có nghề nghiệp
để tự kiếm sống đỡ gánh nặng cho gia đình và xã hội.
- Về trình độ
Nhiều trẻ em khuyết tật không được đưa đến trường. Ước tính trong số hơn
một triệu trẻ khuyết tật Việt Nam, chỉ có 269.000 hoặc 24,22% tổng số trẻ khuyết tật
được đến trường, đặc biệt trẻ khiếm thị từ 6 đến 17 tuổi đến trường rất thấp, vì vậy
trình độ học vấn rất thấp: có tới hơn 30% trẻ khuyết tật là không biết chữ: 41% số
người khuyết tật mới chỉ biết đọc biết viết; 19,5% học hết cấp một; 2,75% có trình độ
trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ học nghề, và ít hơn 0.1% có bằng đại học
hoặc cao đẳng. Nhìn chung, chỉ có khoảng 3% được đào tạo nghề chuyên môn, và chỉ
hơn 4% người có việc làm ổn định. Hiện có hơn 40% người khuyết tật sống dưới
chuẩn nghèo (Bộ LĐTBXH, 2005)
[15]
. Tuy nhiên đa số các em có khả năng hòa nhâp
cộng đồng tốt nếu được sự chủ động quan tâm từ các ban ngành làm quản lý và các tổ
chức, cá nhân hoạt động công tác xã hội.
- Về tâm lý:
Tâm lý của phần lớn trẻ em khuyết tật là mặc cảm, ngại giao lưu ở chỗ đông
người. Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, nhiều em lại có sự nỗ lực tồn
tại và phát triển đặc biệt cao khi đã vượt qua được rào cản về tâm lý bị mặc cảm, ngại
khó
- Về khó khăn:
Người khuyết tật có rất khó khăn về nhiều mặt, trong đó có việc tiếp nhận
thông tin, học tập, làm việc, kỳ thị, gia đình Đối với trẻ em khuyết tật cản trở lớn
Đảm bảo trẻ khuyết tật đều được “tiếp cận giáo dục và học hành, các dịch vụ y tế,
7
dịch vụ phục hồi chức năng, được chuẩn bị nghề cho việc làm và những cơ hội giải trí
cho theo cách thức có lợi cho trẻ em để hội nhập xã hội và phát triển cá nhân đầy đủ
nhất”. Bên cạnh đó, Việt Nam còn áp dụng nhiều Luật và Chính sách để bảo vệ trẻ em
như:
Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc Hội thông
qua năm 1992 và sửa đổi năm 2001. Việc bảo vệ người khuyết tật được nêu tại Điều
59 và 67. Tại Điều 59 đã nêu “Người khuyết tật, người già, người cơ cực và trẻ em
mồ côi được nhà nước bảo trợ”. Nhiều Luật khác tiếp tục trao quyền cho trẻ em
khuyết tật như: “Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân” năm 1989; “Luật phổ cập giáo dục
tiểu học” năm 1991; “Bộ Luật Lao động” năm1994; “Pháp lệnh Người Khuyết tật”
năm 1998. Điều 9 của Pháp lệnh “nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử hoặc
ngược đãi người khuyết tật”. “Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em” năm 2004;
“Luật Giáo dục” năm 2005; “Luật Đào tạo nghề” năm 2006; “Luật công nghệ thông
tin” năm 2006 Đặc biệt là “Pháp lệnh Thư viện” năm 2000; Nghị định số 72/NĐ-CP
ngày 6/8/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện. Luật
“Người Khuyết tật” năm 2010. Thành lập “Ban Điều phối Quốc gia về Vấn đề Người
khuyết tật” năm 2001. Xây dựng “Bộ Quy chuẩn và Tiêu chuẩn về tiếp cận đối với
người khuyết tật” năm 2002; Chính phủ thông qua Đề án “Trợ giúp Người Khuyết tật
của Chính phủ giai đoạn 2006 - 2010”; Đề án “Giáo dục hòa nhập tầm nhìn tới năm
2015” trong đó Chính phủ đặt mục tiêu thực hiện giáo dục hòa nhập cho tất cả trẻ em
khuyết tật vào năm 2015. Gần đây nhất, ngày 14/10/2010, Bộ Nội vụ đã ký Quyết
định số 1179/QĐ-BNV về việc Thành lập Liên hiệp hội Về người khuyết tật Việt
Nam nhằm mục đích liên kết, tập hợp sức mạnh, điều hòa, phối hợp các nguồn lực
tạo điều kiện để cộng đồng hỗ trợ người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói
riêng trong học tập, làm việc và sinh hoạt nhằm xây dựng, hướng tới một xã hội hòa
nhập, không rào cản vì người khuyết tật. Như trên, đã phân tích, chức năng bao quát
nhất của văn hóa là chức năng giáo dục, vậy để phát triển văn hóa đọc đảm bảo quyền
của trẻ em khuyết tật ngoài sự cố gắng của bản thân các em cùng gia đình, đòi hỏi
điện hoặc thư viện lưu động khi có đơn đề nghị được Uỷ ban nhân dân xã, phường,
9
thị trấn xác nhận”. Tại Điều 4 của Nghị định cũng quy định “Thư viện công cộng là
thư viện có vốn tài liệu tổng hợp thuộc mọi ngành, lĩnh vực khoa học, phục vụ rộng
rãi mọi đối tượng bạn đọc”. (Nghị định số Nghị định số 72/NĐ-CP ngày 6/8/2002
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện. tr.2).
- Tuyên ngôn năm 1994 của UNESCO về thư viện đã nêu rõ: “Thư viện công
cộng mở ra sự tiếp cận tới tri thức ở cơ sở (địa phương) đảm bảo những khả năng
(điều kiện) chủ yếu cho việc học tập liên tục, cho việc tự mình đưa ra các quyết định
và cho sự phát triển văn hóa của cá nhân và các nhóm xã hội”. “ Việc phục vụ
trong TVCC theo nguyên tắc tiếp cận công bằng được dành cho tất cả mọi người
không phân biệt tuổi tác, chủng tộc, giới tính, tôn giáo, quốc tịch, ngôn ngữ và địa vị xã
hội. Những dạng dịch vụ hoặc tài liệu đặc biệt cần phải được cung cấp cho những người
mà vì lý do nào đó không thể sử dụng các tài liệu và dịch vụ thông thường ví dụ như đại
diện của các nhóm ngôn ngữ thiểu số, những người tàn tật hay những người đang nằm
viện hoặc đang bị tù. Mọi nhóm lứa tuổi cần nhận được tài liệu hợp với yêu cầu của
họ”. Tuyên ngôn cũng nêu rõ nhiệm vụ của TVCC “ 1. Hình thành và củng cố thói
quen đọc sách ở trẻ em ngay từ lứa tuổi sớm nhất. 2. Hỗ trợ việc học, học riêng lẻ
hay học trong nhà trường, và tự học ở các cấp độ khác nhau. 3. Tạo điều kiện để
nâng cao sự sáng tạo của cá nhân. 4. Phát triển óc tưởng tượng và mong muốn sáng
tạo ở trẻ em và thanh thiếu niên. 12. Giúp đỡ và tham gia vào việc thực hiện các hoạt
động và chương trình xóa mù chữ được định hướng lên mọi nhóm tuổi và tổ chức các
chương trình tương tự tùy theo mức độ cần thiết”. Trong hoạt động Tuyên ngôn cũng nêu rõ
“ Cần xem xét tổ chức việc phục vụ bên ngoài các bức tường của thư viện cho
những ai không thể đến thư viện”.
4. Một số gợi ý phát triển văn hóa đọc cho trẻ em khuyết tật thông qua
công tác xã hội & hoạt động thông tin thư viện
Ngay từ năm 1998 (sau 8 năm Việt Nam phê chuẩn Công ước Liên hợp
quốc về Quyền trẻ em), Hệ thống thư viện công cộng (TVCC) đã bắt tay triển khai
các hoạt động phát triển văn hóa đọc cho người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết
tư, triển khai phát triển văn hóa đọc cho trẻ em khuyết tật để đưa “Pháp lệnh thư
11
viện”, “Luật người khuyết tật” và thực thi Công ước Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc
sớm đi vào cuộc sống. Có chính sách đào tạo nâng cao nhận thức và trình độ chuyên
môn cho đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên viên làm công tác xã hội và thông tin thư
viện trong việc cam kết quyết tâm phát triển văn hóa đọc cho trẻ em khuyết tật. Chỉ
đạo, đầu tư tạo mọi nguồn lực để phát triển văn hóa đọc cho trẻ em khuyết tật. Cụ thể:
tập trung đầu tư phát triển sản xuất tài liệu thay thế, phát triển vốn tài liệu; Cơ sở vật
chất, máy móc và thiết bị chuyên dụng phải đầy đủ, phù hợp với các dạng khuyết tật
khác nhau trong việc tiếp cận thông tin; Đẩy mạnh ứng dụng tin học và đào tạo đội
ngũ chuyên gia cho hệ thống TVCC.
- Cần có sự phối kết hợp liên bộ tạo cơ chế, chính sách, chỉ đạo các tỉnh để Sở
Văn hóa, Thể thao & Du lịch; Sở Lao động Thương binh và Sở Giáo dục & Đào tạo
cần phối kết hợp tạo điều kiện cho hệ thống TVCC các tỉnh kết hợp với thư viện
trường học, với các tổ chức xã hội, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa
nhập phát triển văn hóa đọc cho trẻ em khuyết tật (vì Bộ Giáo dục & Đào tạo chủ
trương đưa 100% trẻ khuyết tật được đến trường).
- Xây dựng các dự án nghiên cứu có tính quốc gia, để điều tra mang tính tổng
thể, nắm bắt thực trạng, nhu cầu phát triển văn hóa đọc của trẻ khuyết tật. Tổ chức các
hội thảo, hội nghị chuyên đề phát triển văn hóa đọc cho trẻ khuyết tật. Mở rộng công
tác đối ngoại tìm các nguồn tài trợ như Quỹ FORCE đã từng hợp tác.
2) Các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập chủ động trong việc đề
nghị với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã là những đơn vị thực hiện
trực tiếp các chính sách liên quan đến vấn đề trẻ em khuyết tật. Chú trọng phân nhóm
theo lứa tuổi và mức độ khuyết tật để có kế hoạch và phương pháp thích hợp.
3) Hoạt động thông tin thư viện cần chủ động “xây dựng thư viện mở” không
rào cản cho trẻ khuyết tật. Tổ chức hoạt động, dịch vụ phù hợp với tâm lý trẻ khuyết
tật, đáp ứng mọi nhu cầu tiếp cận thông tin cho trẻ em khuyết tật.Chú trọng vai trò của
các thư viện cơ sở để tăng cường quảng bá các dịch vụ thông tin phục vụ trẻ em
khuyết tật (đặc biệt nhân các ngày 3 tháng 12 – ngày người khuyết tật Quốc tế, và
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tài liệu tiếng Việt
[1] Báo cáo “Tăng cường tiếp cận thông tin cho ngườ khiếm thị/10 năm hợp
tác giưa Việt Nam và Quỹ FORCE 2000 – 2010”. 27 tr.
[2] Dịch vụ thư viện cho người khiếm thị, cẩm nang thực hành tốt nhất/tài liệu
dịch.HCM.: Thư viện KHTH Tp. Hồ Chí Minh, 2005 297 tr.
[3] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 3. H.: Chính trị Quốc gia, 2000 tr.431.
[4] Lệnh của Chủ tịch nước số 06-L/CTN ngày 08/08/1998 công bố Pháp lệnh
về người tàn tật, 05tr.
[5] Luật người khuyết tật//Luật số: 51/2010/QH12. Hà Nội, ngày 17 tháng 6
năm 2010
[6] Nguyễn Thị Bắc. Cam kết trách nhiệm của thư viện đối với người khiếm
thị//Dịch vụ thư viện cho người khiếm thị/Tài liệu dịch. Thư viện KHTH tp.Hồ Chí
Minh, 2005, 297 tr.
[7] Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện, số
72/2002/NĐ-CP ngày 06/08/2002.16 tr.
[8]. Pháp lệnh Thư viện, số 31/2000/PL-UBTVQH 10 ngày 28/12/2000,7 tr.
[9] Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa H.: Bộ Văn hóa – Thông tin và Thể
thao,1992 tr.23.
[10] Trần Thị Thanh Vân. Nghiên cứu nâng cao chất lượng các dịch vụ thông
tin cho người khiếm thị//Tạp chí Khoa học Xã hội, năm 2009, số tr.
[11] Từ điển tiếng Việt//Hoàng phê chủ biên.H.: Đà Nẵng, 2006 1221 tr.
- Tài liệu tếng Anh
[12] Langan, John Ten steps to building college reading skills: Form A:
Course 2nd. ed. Martol: Townsend press, 1994.
[13] McWhorter, Kathleen T Efficient and Flexible Reading: Fìth Edition
New York: Logman, 1998.
- Website về người khuyết tật
clearly analyzed legal basis for social works & library information to develop reading
15
culture for disable children in Vietnam. On that basis, the article has offered some
proposes in developing reading culture for disable children through social works &
operation of library information: the attention and actions of Ministry of Culture,
Sports and Tourism, Ministry of Labor - Invalids and Social Affairs, Ministry of
Education and Training, public library system; the activeness of supporting centers of
inclusive education; building library without barrier for disable children; early putting
contents related to disable people into training programs of social works & library
information; family of disable children and disable children themselves.