A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, công cuộc đổi mới đất nước thực chất là một quá
trình nhận thức đúng đắn hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với
thực tiễn Việt Nam. Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về bản chất chế độ xã hội
chủ nghĩa, là thực hiện mong muốn “Đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai
cũng được học hành”.
Thực hiện lời di huấn của người: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công
bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Do vậy, chính sách xã hội
giữ vai trò rất quan trọng không thể thiếu trong hệ thống chính sách của Đảng và
Nhà nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động
lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội”.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng các chính sách xã hội vì
mục tiêu làm cho “Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”,
bản thân là một cán bộ đảng viên, một công dân đang sống trong chế độ xã hội
chủ nghĩa, được hưởng thụ những chính sách của Đảng và Nhà nước. Tôi rất
vinh dự và tự hào vì Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách đúng đắn, phù
hợp với điều kiện xã hội qua các thời kỳ.
Đặc biệt trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đòi hỏi Đảng phải đề ra các
chính sách xã hội đúng và phù hợp với thực tế. Bởi vì, thực tiễn cho thấy trong
quá trình triển khai thực hiện một số chính sách xã hội như chính sách người có
công, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm còn gặp nhiều khó khăn và bất
cập là thực trạng chung đòi hỏi Đảng và Nhà nước cũng như mỗi cán bộ đảng
viên cần quan tâm nhiều hơn nữa đến chính sách xã hội.
Xã Long Sơn là một đơn vị xa trung tâm huyện. Việc thực hiện các chính
sách xã hội ở xã Long Sơn trong những năm gần đây, tuy có nhiều tiến bộ và kết
quả đáng kể song vẫn gặp không ít khó khăn, một số chính sách xã hội trở thành
1
vấn đề bức xúc của địa phương cần phải có những giải pháp thiết thực để giải
Sơn, huyện Sơn Động trong giai đoạn hiện nay.
III. Phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần thực hiện tốt
chính sách xã hội ở xã Long Sơn, huyện Sơn Động trong giai đoạn tới.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội là một bộ phận hữu cơ và giữ
vị trí vai trò đặc biệt trong hệ thống cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh là nhà
chính trị lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, nhà lý luận thiên tài của cách mạng nước
ta. Trong tư tưởng của Người, chính sách xã hội là xây dựng nước Việt Nam
thống nhất, độc lập và hòa bình.
Ngay sau khi cách mạng tháng tám thành công, mặc dù chính quyền cách
mạng đang ở trong tình thế “ngàn cân treo sợ tóc” Người đã chủ trương đặt
những vấn đề chính sách xã hội gắn liền với chính sách kinh tế lên hàng đầu
thậm chí còn đặt cao hơn cả nhiệm vụ chống ngoại xâm.
Sau này Bác lại nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải
hết sức chăm nom đến đới sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ
có lỗi, nếu dân ốm Đảng và chính phủ có lỗi, nếu dân dốt Đảng và Chính phủ có
lỗi”. Rõ ràng ở đây chính sách xã hội không còn là một sự ban ơn, càng không
phải là thủ đoạn chính trị mị dân, mà là trách nhiệm hàng đầu của Đảng cầm
quyền và Nhà nước trong chế độ mới.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, trong những thập niên qua, Đảng và
Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách xã hội quan trọng hướng tới quần
3
chúng nhân dân lao động. Những chính sách xã hội đó đã có tác dụng khơi dậy
và phát huy những nguồn lực vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân, làm nên
nhiều kỳ tích anh hùng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
tổ quốc.
2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về chính sách xã hội:
Trong bước chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế mở cửa, đa dạng hóa các
trung tâm trong mọi hoạt động chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta. Điều đáng chú
ý là chính sách xã hội không được lạc hậu hơn so với sự phát triển kinh tế. Mặt
khác phải khắc phục xu hướng phát triển kinh tế đơn thuần, chỉ thuần túy vì mục
tiêu lợi nhuận, bất chấp những nhu cầu đòi hỏi và những mục tiêu xã hội khác.
Văn hóa, khoa học, giáo dục đào tạo là những lĩnh vực cần có chính sách
cụ thể riêng, nhưng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với lĩnh vực kinh tế. Trong
thời đại khoa học công nghệ và giao lưu văn hóa- xã hội rộng rãi như hiện nay,
muốn có nhịp điệu phát triển kinh tế cao cần phải có sự phát triển tương xứng về
trình độ văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ. Phát triển khoa học
giáo dục và đào tạo chính là phát triển nguồn lực của mọi nguồn lực. Đầu tư vào
lĩnh vực này chính là đầu tư cho sự phát triển kinh tế. Đó là đầu tư cơ bản tất yếu
“có lãi” một cách lâu bền nhất. Tất nhiên trong khi cần thiết phải phổ cập tiểu
học, trung học co sở, trẻ mầm non 5 tuổi cho toàn xã hội, tạo ra mặt bằng dân trí
tương đối đồng đều giữa các vùng miền trong nhân dân.
Chính trị xã hội về văn hóa- khoa học- giáo dục đào tạo gắn bó chặt chẽ
với tất cả các lĩnh vực kinh tế- xã hội. Tuy nhiên trong khi đưa ra hệ thống chính
sách xã hội nhằm tranh thủ thời cơ, đi tắt đón đầu sự phát triển khoa học và công
nghệ hiện đại của thế giới, thì điều quan trọng cũng phải tính đến những đặc
trưng, đặc điểm của dân tộc. Cần tranh thủ vận dụng chớp mọi cơ may, mở rộng
hợp tác, mạnh dạn trong hội nhập, hòa nhập thích nghi một cách nhạy cảm với
thời cuộc song phải quan tâm đến việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Trong việc giải
quyết các vấn đề giai cấp dân tộc, tôn giáo đều có những nội dung kinh tế, văn
hóa- xã hội, nên mỗi vấn đề trên cần có chính sách cụ thể riêng. Tuy nhiên, chính
sách xã hội sẽ tác động chung vào những lĩnh vực này nhằm góp phần tạo ra sự
công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ cho mọi công dân, tạo ra sự
thống nhất, đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo ở các vùng
miền; xây dựng và hoàn thiện cơ cấu xã hội mới, tạo ra sự ổn định xã hội cũng
5
như phát huy tối đa tính tích cực và năng động xã hội cho mọi thành viên trong
xa hội.
góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua
phúc lợi xã hội, đi đôi với chính sách điều tiết hợp lý, bảo hộ quyền lợi của
người lao động. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm giàu hợp
pháp, đồng thời quan tâm một cách thích đáng tới người nghèo, rủi ro, người gặp
khó khăn. Làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa với người có công với cách mạng
cũng như phát huy truyền thống uống nước nhơ nguồn, thủy chung, nhân nghĩa
của dân tộc. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Kết hợp
các mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực,
địa phương; thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng
chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển
kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh
mẽ và bền vững hơn cho cho phát triển kinh tế- xã hội. Tập trung giải quyết
những vấn đề xã hội bưc xúc ”.
3. Bản chất, nụi dung của chính sách xã hội
3.1. Bản chất của chính sách xã hội
Chính sách xã hội được hình thành từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời và đã
được phát triển, biến đổi qua nhiều thời kỳ khác nhau trong lịch sử.
Ở mỗi quốc gia khác nhau, trong mỗi giai đoạn khác nhau, có những hình
thức và loại chính xã hội khác nhau, cũng như có những quan niệm và định
nghĩa khác nhau về chính sách xã hội. Ở nước ta, chính sách xã hội được hiểu là
hệ thống công cụ tác động vào con người, vào các tổ chức đoàn thể xã hội nhằm
điều hòa các hành vi, lợi ích của các nhóm xã hội, góp phần thực hiện công bằng,
bình đằng, tiến bộ xã hội, phát triển toàn diện con người, đảm bảo sự phát triển
bền vững.
Xuất phát từ quan điểm coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực,
vừa là trung tâm của mọi sự quan tâm xã hội, vừa là chủ thể sang tạo mọi giá trị
vật chất và tinh thần cho xã hội, chính sách xã hội cần phải tác động một cách
toàn diện vào tất cả các mặt của đời sống con người, nhằm phát huy mạnh mẽ
7
nhân tố con người. Theo Mác: “Trong tính hiện thực của mình, bản chất con
vừa góp phần giảm bớt những xung đột và sai lệch xã hội, vừa tạo ra tính tích
cực xá hội và những yếu tố cần thiết cho sự cân bằng, ổn định và phát triển bền
vững trong xã hội. Vạch ra một hệ thống các chính sách xã hội nhằm tác động
một cách tích cực, hiệu quả vào các quan hệ gia đình, giai cấp, dân tộc để từ đó
góp phần phát huy mạnh mẽ hơn nữa nhân tố con người, đó là một trong các
mục tiêu chiến lược của chính sách xã hội hiện nay ở nước ta.
Thứ hai; Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình sản xuất
Trong hệ thống chính sách này, trước hết phải kể đến nhóm chính sách
nhằm tạo ra nhiều việc làm cũng như những điều kiện tốt nhất, thuận lợi nhất
cho con người lao động. Chính sách xã hội về việc làm hướng tới khẳng định
quyền có việc làm và những hình thức làm việc phù hợp với trình độ, sức khỏe,
năng lực và đặc điểm của từng người lao động. Chính sách xã hội về việc làm
không chủ trương cào bằng xóa nhòa mọi sự khác biệt giữa các thành viên lao
động mà hướng vào việc củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo ra động
lực nhằm khuyến khích tính tích cực của người lao động, sắp xếp, phân bố, hỗ
trợ hợp lý người lao động.
Nhóm chính sách này cùng hướng vào những mục tiêu như an toàn, an
ninh, sức khỏe cho người lao động, giảm bớt những rủi ro, tai nạn trong lao động
hay những thiệt hại do những đổ vỡ không tránh khỏi của một số doanh nghiệp
do nền kinh tế thị trường gây ra.
Thứ ba; Nhóm chính sách tác động vào quá trình tái sản xuất ra con người
(chính sách dân số).
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta ngày càng nhận thức một
cách sâu sắc hơn và chú trọng nhiều hơn vào chính sách dân số. Phấn đấu để có
một quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân số hợp lý cũng như mức tăng
dân số phù hợp với trình độ và nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội nước ta trong
những năm tới đây là mục tiêu chiến lược mà nhóm chính sách xã hội về dân số
cần thiết phải có những đóng góp thiết thực vào quá trình này. Trong thời kỳ
9
chuyển đổi chiến lược từ giai đoạn dân số - kế hoạch hóa gia đình sang thời kỳ
10
hiểm sang học sinh, tuổi trẻ học đường Đó là vấn đề bức xúc mà Đảng, Nhà
nước Việt Nam cần sớm nghiên cứu, tổng kết và ban hành các chính sách mới
nhằm đáp ứng những yêu cầu mà cuộc sống đang đặt ra.
Thứ năm; Nhóm chính sách xã hội về cư trú và nhà ở.
Thực hiện tốt vấn đề tự do cư trú và nhà ở cho nhân dân là một trong
những nhiệm vụ quan trọng, phản ánh một phần bộ mặt nhân đạo của xã hội ta.
Là một quốc gia còn nghèo, đất đai hạn hẹp, lại đang trong thời kỳ chuyển đổi
mạnh mẽ - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nhu cầu tự do cư
trú và nhà ở (kể cả ở đô thị và nông thôn) đang là một nhu cầu bức xúc của đông
đảo quần chúng nhân dân. Chính trong bối cảnh này, Đảng và Nhà nước ta cần
hết sức thận trọng, chu đáo và cần có cái nhìn chiến lược, tổng thể, lâu dài trong
quy hoạch xây dựng và phân phối quĩ đất đai, nhà ở. Xây dựng một cách đồng
bộ nhóm chính sách xã hội nhằm giải quyết hợp lý và khoa học vấn đề cư trú,
nhà ở là một trong những nhiệm vụ bức xúc trước mắt cũng như lâu dài ở nước
ta.
Thứ sáu; Nhóm chính sách xã hội tác động đến lĩnh vực văn hóa tinh thần
của xã hội.
Con người không chỉ cần được bảo đảm về những điều kiện vật chất, việc
làm mà còn bảo đảm về những nhu cầu văn hóa tinh thần Nhóm chính sách
xã hội bao gồm những chính sách về giáo dục, đào tạo, đào tạo lại; các chính
sách nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi về hoạt động văn hóa, văn nghệ, tự
do trao đổi và tiếp nhận, hưởng thụ thông tin, những nhu cầu về sinh hoạt, nghi
ngơi, vui chơi, giải trí
Nhóm chính sách này có vị trí và vai trò hết sức quan trong, góp phần tạo
ra một xã hội hoàn chỉnh, cân bằng, vận hành một cách hài hòa đồng bộ và ăn
nhịp với nền văn minh nhân loại.
Hiện tại cần chú ý đặc biệt đến chính sách giáo dục. Trong đó chính sách
cho giáo viên, học sinh, nhất là học sinh nghèo, học sinh khó khăn. Đồng thời
chú ý đầu tư cho việc phát triển triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho nhà trường, điều
sống rải rác thành 7 thôn bản và 1 khu phố chủ yếu ven dọc theo hai bên đường
12
quốc lộ 279, cáo 8 dan tộc anh em. dân tộc kinh là chủ yếu. Nhân dân địa
phương làm nghề nông nghiệp là chính, kết hợp với chăn nuôi gia xúc gia cầm
và phát triển vườn rừng, có một bộ phận vừa làm ruộng kết hợp với buôn bán
nhỏ chiếm 10%, là đơn vị không có nghề truyền thống. Một bộ phận thanh niên
trong độ tuổi 18 đến 30 vào làm công nhân khai thác than cho công ty than Đông
Bắc. Tổng thu nhập hằng năm 17,2 tỉ đồng bình quân 3,2 triệu đồng/ người/ năm;
đời sống của nhân dân tương đối ổn định, kinh tế từng bước có sự gia tăng.
Những yếu tố tự nhiên, tình tình chính trị xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho
xã Long Sơn phát triển kinh tế mạnh mẽ. Giá tri sản xuất nông nghiệp chăn nuôi
được tiếp tục duy trì ổn định, diện tích lúa đạt năng xuất cao,đàn gia cần phát
triển, công tác khuyến nông đầu tư ngân sách cho phát triển sản xuất hằng năm
luôn vượt kế hoạch, giá trị thu nhập bình quân trên 1 ha đất gieo trồng đạt và
vượt chỉ tiêu kế hoạch.
Khu vực phát triển công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ
trên địa bàn từng bước được phát triển, tạo việc làm cho lao động tại chỗ, thu
nhập của người dân tăng lên. phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốn văn
hóa luôn được cấp ủy chính quyền, MTTQ quan tâm chỉ đạo, ngày hội đoàn kiết
toàn dân 18 tháng 11 hằng năm đi vào nền nếp được đông đảo nhân dân tham
gia, tăng thêm đoàn kết, tình cảm gắn bó trong cộng đồng dân cư.
Công tác xã hội hòa giáo dục luôn được duy trì tốt, chương trình phát triển
giáo dục được triển khai thường xuyên và kịp thời, chất lượng giáo dục ở cả ba
cấp học được nâng lên (năm sau cao hơn năm trước) tỉ lệ giáo viên giỏi, học sinh
giỏi, học sinh tốt nghiệp THCS, thi đỗ vào trường THPT đạt tỉ lệ cao nhất nhì
trong huyện, năm học 2010 – 2011 trường THCS xã đạt danh hiệu tiên tiến xuất
sắc cấp tỉnh, trường Tiểu học và Mầm non đạt tiên tiến xuất sắc cấp huyện, cơ sở
ngoan.
Tổ chức thành lập được 8/8 thôn bản và khu phố có câu lạc bộ không sinh
con thứ ba, hằng tháng tổ chức sinh hoạt tuyên truyền về sức khỏe sinh sản, sức
khỏe vị thành niên và tác hại của việc dẻ dày, đẻ nhiều; chính sách dân số luôn
được thông tin kịp thời đến người dân để triển khai thực hiện, do vậy trong ba
14
năm gần đây trên địa bàn xã không có người vi phạm chính sách dân số kế hoạch
hóa gia đình.
Vấn đề lao động và việc làm hiện nay là yêu cầu bức xúc của nhân dân địa
phương. Hằng năm sau khi nhận được kế hoạch về công tác lao động và việc làm
của UBND huyện xây dưng, UBND xã Long Sơn tổ chức triển khai kế hoạch
công tác lao động, việc làm tới toàn thể nhân dân trong xã. Năm 2008 tổ chức
được hai hội nghị tư vấn xuất khẩu lao động, dạy nghề có 240 người tham gia;
giải quyết việc làm cho 150 người làm công nhân khai thác than, 50 lao động tại
chỗ, 15 người đi xuất khẩu lao động. Năm 2009 giải quyết được 80 lao động vào
làm tại xí nghiệp than Đông Bắc, 20 lao động vào làm việc tại xí nghiệp may
Sơn Động và hơn 50 lao động tại chỗ. Năm 2010 mở 2 lớp dạy nghề chăn nuôi
thú y có 100 người tham gia đã giả quyết việc làm tại chỗ cho số lao động này.
Thứ hai: Vấn đề xóa đói giảm nghèo.
Tỷ lệ hộ đói nghèo trên địa bàn xã Long Sơn còn cao chiếm đến 46,9 % số
hộ trong toàn xã so với chuẩn nghèo của chính phủ tại quyết định số
170/2005/QĐ-TTg ngày 8/72005. Đây là vấn đề thách thức không nhỏ đối với sự
phát triển của xã Long Sơn. Vì vậy địa phương đã xác định đây là nhiệm vụ
trọng tâm cần quan tâm thực hiện.
Hằng năm Xã Long Sơn xây dựng kế hoách chỉ đạo rà soát thống kê hộ
nghèo đúng qui trình, đúng mức thu nhập nhà nước qui định, để triển khai các
hành và giúp đỡ hướng dẫn các đối tượng tham gia bảo hiểm khi đến thời hạn
thanh toán hưởng chế độ nghỉ hưu hoặc tai nạn rủi ro được chi trả thuận lợi và
nhanh gọn.
Thứ tư; Vấn đề ưu đãi xã hội (các đối tượng chính sách)
Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” Đảng bộ và nhân dân xã Long Sơn có
trách nhiệm to lớn trong việc thực hiện mục tiêu về công tác LĐTB&XH mà
nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã xác định: “Chăm lo tốt hơn đối với cá gia
đình chính sách và những người có công với cách mạng, bảo đảm tất cả các gia
đình chính sách có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình của người
dân địa phương trên cơ sở ba nguồn lực: nhà nước, cộng đồng và bản thân đối
tượng chính sách tự vươn lên”.
16
Việc tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ đối với người có công với
cách mạng, vừa là trách triệm, vừa là thể hiện tinh thần đền ơn đáp nghĩa, do đó
các văn bản hướng dẫn về chính sách người có công đều được tổ chức triển khai
đến đúng đối tượng. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền pháp lệnh ưu đãi người
có công với cách mạng tới toàn thể nhân dân; giải thích cho mọi người dân hiểu
rõ nội dung chính sách như: Điều kiện xác nhận người có công, các khoản phụ
cấp, trợ cấp được hưởng đảm bảo nhu cầu về đời sống, phương tiện chuyên dùng
đảm bảo y tế, giáo dục và đào tạo nghề, tạo việc làm. Quy trình tiếp nhận, xét
duyệt hồ sơ, niêm yết hồ sơ giải quyết chế độ cho các đối tượng theo đúng quy
định không bỏ sót đối tượng, chi trả trợ cấp cho các loại đối tượng luôn kịp thời.
Năm 2008, địa phương chi trả 151 đối tượng là thương binh, bệnh binh,
nhiễm chất độc hóa học, với tổng số tiền là 1.123.026.000 đồng; chi trả trợ cấp
tết cho 104 hộ nghèo với tổng số tiền là 65.400.000 đồng.
Năm 2009, thực hiện chi trả 137 đối tượng là thương binh, bệnh binh,
nhiễm chất độc hóa học, với tổng số tiền là 870.195.000 đồng; trợ cấp tết cho hộ
nghèo số tiền là 65.400.000 đồng. Ngoài ra, địa phương còn giải quyết tốt chế độ
chính sách cho các gia đình và người có công với cách mạng.
Thực hiện giải quyết chế độ cho các đối tượng tham gia kháng chiến chống
Ngân sách
chi trả
Tổng
số
người
được
hưởng
ưu đãi
Trẻ
mồ
côi
Người
tàn tật
Người
tâm
thần
Người
cao
tuổi
Người
đơn
thân
nuôi
con
nhỏ
Người
già cô
đơn
2008 98.550.000 7 16 9 25 13 5
2009 124.368.000 9 16 9 27 13 6
lo đến sự nghiệp giáo dục, thành lập hội khuyến học đi vào hoạt động có hiệu
quả khuyến khích các tổ chức xã hội, cá nhân giúp đỡ những tài năng trẻ, những
học sinh xuất sắc để các cháu yên tâm học tập. Thực hiện phổ cập trẻ 5 tuổi,
100% trẻ 6 tuổi được vào lớp 1, tiếp tục phổ cập giáo dục tiểu học 100% học
sinh tốt nghiệp lớp 5 chuyển lên trung cơ sở, ổn định phổ cập trung học cơ sơ, 98
trở lên học sinh lớp 9 thi đỗ vào trường phổ thông trung học. Các em thi đỗ vào
các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp năm sau cao hơn năm
trước, tỷ lệ học sinh giỏi các cấp luôn xếp thứ nhất nhì huyện; xếp thứ thứ hạng
19
cao trong tỉnh. Trong 3 năm địa phương đã đầu tư ngân sách để xây dựng và tu
sửa cho 3 cấp học trên 10 tỷ đồng. Hiện nay, cả 3 trường đều có cơ sở vật chất
khang trang, xanh – sạch – đẹp thực sự là trường học thân thiện, trường chuẩn,
cận chuẩn quốc gia đáp ứng với yêu cầu giáo dục trong tình hình mới. Xã Long
Sơn luôn xứng đáng là dơn vị lá cờ đầu huyện Sơn Động về giáo dục.
Đối với hệ thống y tế củng cố và nâng cao khả năng chăm sóc sức khỏe
cho nhân dân, thực hiện tốt chế độ bảo hiểm y tế, có chính sách chăm lo đời sống
cho cán bộ y, bác sỹ, những người phục vụ trong ngành y tế các chương trình y
tế quốc gia được quan tâm chỉ đạo thực hiện, đã ngăn được bệnh dịch góp phần
bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Các thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng, 5/8 thôn bản có nhà văn hóa
và sân thể thao quy mô nhỏ đáp ứng được nhu cầu tập luyện thể thao của nhân
dân. Công tác quản lý Nhà nước được tăng cường. Các hoạt động văn hóa, dịch
vụ văn hóa trên địa bàn luôn diễn ra lành mạnh, không xẩy ra tình trạng vi phạm
pháp luật trên lĩnh vực văn hóa. Phong trào văn hóa văn nghệ hội thi, hội diễn đã
trở thành phong trào mạnh mẽ. Duy trì và bảo tồn khu di tích lịch sử đền bà
Chúa Liễu, hàng năm, tổ chức lễ hội nghiêm trang về phần lễ kết hợp với phần
hội với nhiều hình thức vui chơi lành mạnh và phù hợp với phong tục tập quán
của địa phương, tham gia và hoàn thành tốt một số hoạt động tại lễ Hội Đình Hạ.
Đầu tư 250 triệu đồng xây dựng hệ thống đài truyền thanh của xã, mua sắm tăng
âm, loa đài trang bị cho 8 thôn bản phục vụ cho công tác tuyên truyền góp phần
cho việc khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ.
+ Việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu, kinh tế đa dạng hóa ngành nghề còn chậm,
số người chưa có việc làm còn ở mức cao, tiềm năng thế mạnh đất đai, lao động
khai thác sử dụng chưa hợp lý. Thời gian lao động ở nông thôn mới được sử
dụng ở mức thấp, chưa có nhiều mô hình sản suất nông nghiệp hiệu quả, một bộ
21
phận nhân dân còn trông trờ, ỷ lại các chính sách của Nhà nước. Trình độ dân trí
ở mức hưởng thụ văn hóa nhân dân chưa cao.
+ Mức độ ô nhiễm và hủy hoại môi trường sinh thái đáng lo ngại, hiện tượng
quan liêu, cửa quyền trong một số bộ phận cán bộ thực hiện chính sách xã hội
vẫn chưa dược giải quyết triệt để, ảnh hưởng phàn nào đến niềm tin của nhân
dân đối với chính quyền.
+. Trình độ năng lực của một số cán bộ nhất là trong lĩnh vực quản lý nhà nước
còn hạn chế, do vậy triển khai thực hiện nhiệm vụ có lúc không đồng bộ, thống
nhất hiệu quả công việc chưa cao.
+. Việc thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sở có lúc, có nơi vi phạm không phát
huy quyền làm chủ cua nhân dân.
Công tác tuyên truyền chính sách xã hội cuả chính quyền các ban, ngành đoàn
thể ở địa phương đôi lúc chưa kịp thời; có những chính sách của nhà nước được
phổ biến nhưng nhân dân không được tiếp cận hoặc tiếp cận chậm dẫn đến
những chế độ chính sách đối tượng không được hưởng kịp thời.
*. Nguyên nhân của những hạn chế tồn tại.
- Nguyên nhân chủ quan:
Do nhận thức của một số cán bộ, đảng viên còn hạn chế nên chính sách xã
hội chậm được tuyên truyền đến nhân dân.
Cán bộ làm công tác chính sách xã hội trình độ chuyên môn còn hạn chế,
chế độ đãi ngộ thấp nên không phát huy hết khả năng, năng lực trong chỉ đạo
công tác; đôi khi còn buông lỏng quản lý, chưa giải quyết được triệt để việc làm
đối với lao động dư thừa hoặc thời điểm nông nhàn, nhiều lao động phải đi làm
ăn xa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện và chấp hành chính sách xã
các lĩnh vực trên phải được triển khai thường xuyên và có chính sách thích hợp
để tạo công bằng về cơ hội và bình đẳng trước phap luật cho từng công dân.
2. Mục tiêu cụ thể
Đảng ủy, hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, mặt trận tổ quốc và các đoàn
thể địa phương tiếp tục quán tiệt và thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội
mà đảng và nhà nước đã đề ra, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của toàn xã hội,
của mọi ngành, mọi người. Vì vậy, để triền khai và thực hiện tốt các chính sách
23
xã hội , địa phương cần tập trung vào một số lĩnh vực và đề ra mục tiêu phấn đâu
cụ thể đến năm 2015.
- Thực hiện tốt chính sách xã hội về lĩnh vực dân số và việc làm, xác định công
tác dân số và giải quyết việc làm là mục tiêu quan trọng của chiến lược phát triển
kinh tế của địa phương, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống
của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội. Bằng cách vận động, tuyên
truyền và giáo dục gắn liền với dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến mọi người
dân. Thực hiện gia đình ít con để nuôi con khỏe dậy con ngoan, xây dựng cuộc
sống gia đình ấm lo, hạnh phúc, bình đẳng và tiến bộ. Ban dân số kết hợp với hội
phụ nữ các ban ngành đoàn thể tổ chức hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chính
sách, luật pháp nhà nước, tổ chức và quản lý hoạt động của các cộng tác viên để
cung cấp và thu thập thông tin về dân số kế hoạch hóa gia đình cho tất cả các đối
tượng trong độ tuổi sinh đẻ. Đến năm 2015 không còn trường hợp nào sinh con
thứ 3.
- Chú trọng việc thực hiện giải quyết việc làm tại chỗ bằng các biện pháp thiết
thực như: Khuyến khích phát triển nền kinh tế nhiều thành phẩn ưu tiên cho phát
triển các doanh nghiệp và các dịch vụ kinh doanh, trồng các loaị rau quả xuất
khẩu cho thu nhập cao. Phấn đấu giải quyết việc làm tại chỗ cho 80 - 100 lao
động / năm.
tới người dân, chuyển nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
Hai là: cần phát huy sức mạnh tổng hợp, tính chủ động sáng tạo và quyền
làm chủ của nhân dân. Trong việc thực hiện chính sách xã hội, các cấp ủy Đảng
các ban nghành đoàn thể đi sâu đi sát cơ sở. lắng nghe tâm tư nguyện vọng của
nhân dân để kịp thời đề ra các chủ trương biện pháp nhằm giải quyết nguyện
vọng chính đáng của nhân dân. Tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân đóng góp ý
kiến, xây dựng chính sách xã hội phù hợp với tình hình đại phương.
Ba là: Cấp ủy Đảng, chính quyền cụ thể hóa một cách nghiêm túc các chính
sách xã hội của đảng Nhà nước ta, cho phù hợp với đặc điểm tình hình của xã
Long Sơn. Trước khi xây dựng các chương trình Kế hoạch cần được khảo sát
25