ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BẠCH XUÂN HÒA
BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh
toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy, tôi viết Lời cam đoan này kính đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN
Bạch Xuân Hòa MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
2.1.5. Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy 45
2.2. Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm trong lĩnh vực tài
nguyên rừng 47
2.2.1. Tình hình điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm trong lĩnh vực tài
nguyên rừng 47
2.2.2. Những nhận xét, đánh giá 66
2.2.3. Một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản 68
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ VIỆC BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG BẰNG PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 77
3.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện các tội phạm trong lĩnh vực
tài nguyên rừng 77
3.1.1. Cơ sở lý luận 77
3.1.2. Cơ sở thực tiễn 78
3.2. Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam theo hướng tăng cường bảo vệ tài
nguyên rừng 80
3.2.1. Nhận xét 80
3.2.2. Nội dung hoàn thiện 81
3.3. Những giải pháp nâng cao hiệu quả việc bảo vệ tài nguyên rừng bằng
pháp luật hình sự Việt Nam 89
3.3.2. Tăng cường điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh các đối tượng phạm
tội xâm phạm đến tài nguyên rừng 91
3.3.3. Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử có phẩm
chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và tinh thông về nghiệp vụ. 93
3.3.4. Thực hiện đồng bộ các biện pháp khác 95
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
đến môi trường sinh thái, là nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi khí hậu
và tác động xấu đến sự phát triển bền vũng của nền kinh tế quốc gia.
Trước tình hình đó, nhiệm vụ đặt ra cho Nhà nước ta là phải có những
giải pháp hữu hiệu để bảo vệ tài nguyên rừng, trong đó biện pháp hình sự
đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, quy định của pháp luật hình sự phải
được rõ ràng, chặt chẽ, phải có hệ thống các chế tài nghiêm khắc và đủ mạnh
để răn đe giáo dục đối với các chủ thể xâm hại đến tài nguyên rừng. Đây là
một trong những giải pháp đồng thời là hướng đi thiết thực nhằm ngăn chặn
và tiến đến đẩy lùi hành vi vi phạm pháp luật xâm hại đến tài nguyên rừng.
2
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang chuyển mình trong thời
kỳ đổi mới, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng trong sự nghiệp phát triển nền
kinh tế quốc gia đang có chiều hướng gia tăng. Theo thống kê năm 2011 Việt
Nam là nước xuất khẩu 5,4 triệu tấn dăm (lớn nhất thế giới) tương đương
khoảng 11 triệu m3 gỗ nguyên liệu. Bên cạnh đó, với khoảng 87 triệu dân và
thói quen sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ gỗ tự nhiên, kim ngạch trên
thị trường gỗ và sản phẩm gỗ tiêu thụ nội địa mỗi năm ước tính cũng đạt
khoảng 1 tỉ USD với lượng nguyên liệu đầu vào lên tới hàng triệu m
3
gỗ.
Theo dự báo của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, nhu cầu tiêu dùng
gỗ xẻ của Việt Nam vào năm 2020 sẽ tăng lên con số 7 triệu m
3
, tương đương
15 triệu m
3
gỗ tròn; nhu cầu tiêu thụ ván sợi vào khoảng 1,5 triệu m
3
, ván
văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước thực trạng tài nguyên rừng của nước ta trong những năm gần đây
đang bị tàn phá nghiêm trọng, không những gây tác động xấu đến môi trường
sinh thái mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của
nền kinh tế quốc gia. Trước tình hình đó, trong những năm gần đây Đảng và
Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương biện pháp để khắc phục và cũng đã có
một số tác giả trong nước có sự đầu tư nghiên cứu ở nhiều góc độ phương
diện khác nhau, nhằm tìm ra những giải pháp để bảo vệ tài nguyên rừng. Điển
hình là các đề tài sau đây:
* Dưới góc độ luận văn, luận án tiến sĩ luật học: Đã có một số luận án,
luận văn ít nhiều đề cập gián tiếp đến vấn đề này, chẳng hạn, ở cấp độ luận án
tiến sĩ luật có công trình “Quản lý Nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực
bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay”, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
2010 của tác giả Hà Công Tuấn; công trình “Hoàn thiện pháp luật về quản lý
và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thanh
Huyền, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.
4
Ngoài ra, ở cấp độ luận văn thạc sĩ có các đề tài của các tác giả:
Nguyễn Hải Âu, “Pháp luật về bảo vệ môi trường rừng thực trạng và phương
hướng hoàn thiện” năm 2001; Hà Công Tuấn, “Quản lý Nhà nước bằng pháp
luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay” năm 2002; Vũ Thị
Huyền, “Tội vi phạm qui định về khai thác và bảo vệ rừng trong luật hình sự
Việt Nam” năm 2010, bảo vệ tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; v.v…
* Dưới góc độ sách chuyên khảo, giáo trình: Ngoài ra còn được đề cập ở
một số sách chuyên khảo như: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 được tập thể các tác giả nghiên cứu xuất bản như: Bình luận khoa học Bộ
luật Hình sự Việt Nam năm 1999, giáo trình luật hình sự Việt Nam, do Uông Chu
Lưu chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001; Bình luận khoa học Bộ luật
nghiên cứu đề tài “Bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp luật hình sự ở Việt
Nam” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa mang tính lý luận, vừa có tính
thực tiễn.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở ý nghĩa và tầm quan trọng của tài nguyên rừng đối với sự
sống của loài người và sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia và
trước thực trạng tài nguyên rừng đang bị tàn phá, hủy hoại nghiêm trọng
trong những năm gần đây. Luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở
pháp lý của sự cần thiết quy định các tội phạm liên quan đến việc bảo vệ tài
nguyên rừng trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất
những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự
Việt Nam vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên
rừng, góp phần quan trọng để bảo đảm cho nền kinh tế quốc gia phát triển
toàn diện và bền vững.
6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
1) Làm rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của tài nguyên rừng đối với môi
trường sống và sự tác động của nó đối với nền kinh tế đất nước;
2) Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự
Việt Nam về các tội phạm xâm hại đến tài nguyên rừng từ sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945 đến nay (2014);
3) Nghiên cứu thực trạng và các quy định của pháp luật hình sự hiện nay về
bảo vệ tài nguyên rừng trong Bộ luật hình sự Việt Nam trên cơ sở làm rõ những
dấu hiệu pháp lý hình sự của các tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng;
4) Tổng hợp kết quả nghiên cứu, cũng như đánh giá những yếu tố làm
cho tình hình tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng ngày càng diễn biến
phức tạp, hậu quả gây ra cho xã hội ngày càng nghiêm trọng, gây ảnh hưởng
nhân dẫn đến hành vi xâm phạm đến tài nguyên rừng và đang ngày càng diễn
biến phức tạp theo chiều hướng xấu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát
triển bình thường của nền kinh tế đất nước.
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam hiện hành về bảo vệ tài nguyên rừng [Điều 175, 176, 189, 190, 240 Bộ
luật hình sự]. Thực tiễn áp dụng, những thuận lợi, những khó khăn vướng
mắc, bất cập trong công tác áp dụng các điều luật nêu trên để xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng, từ đó đưa ra những kiến nghị
sửa đổi, bổ sung một số tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng của Bộ luật
hình sự Việt Nam, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật
và tội phạm trong lĩnh vực này ở nước ta hiện nay, góp phần quan trọng vào
sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc gia.
Đặc biệt, kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo, đồng thời cung
cấp cho các cán bộ làm công tác thực tiễn ở địa phương cơ sở lý luận và những
8
kinh nghiệm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên
rừng, góp phần nâng hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong đấu tranh phòng
chống tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương với tên gọi như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp
luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Bảo vệ tài nguyên rừng bằng các quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp năng cao hiệu quả
việc bảo về tài nguyên rừng bằng pháp luật hình sự Việt Nam.
ba loại sau đây:
- Tài nguyên tái tạo:
10
Tài nguyên tái tạo là loại tài nguyên dựa vào nguồn năng lượng
được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ vào trái đất, dựa vào trật tự
tự nhiên, nguồn thông tin vật lý và sinh học đã hình thành và tiếp tục tồn tại,
phát triển và chỉ mất đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin đó nữa.
Theo S.E.Jorgensen (1981) Tài nguyên tái tạo là tài nguyên có thể tự
duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được quản lý, sử dụng một cách
hợp lý và khôn ngoan.
Tài nguyên thiên nhiên tái tạo được có thể kể ra như: Tài nguyên sinh
học, tài nguyên rừng, tài nguyên năng lượng mặt trời, tài nguyên nước, tài
nguyên gió
- Tài nguyên không tái tạo:
Là loại tài nguyên tồn tại một cách hữu hạn và sẽ mất đi hoặc hoàn toàn
bị biến đổi không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng. Đó là
các các khoáng sản, nhiên liệu hoá thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt ) các
thông tin di truyền, các gen quí, hiếm bị mai một không giữ lại được là những
nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được.
-Tài nguyên vĩnh cửu:
Là loại tài nguyên tồn tại vĩnh cửu trong tự nhiên, không phụ thuộc vào
sự tác động của con người. Tài nguyên vĩnh cửu có liên quan trực tiếp, hoặc
gián tiếp đến năng lượng mặt trời. Có thể xem năng lượng mặt trời là
nguồn tài nguyên vô tận, chúng ta có thể phân ra:
+ Năng lượng trực tiếp:
Là nguồn năng lượng chiếu sáng trực tiếp, giá trị định lượng có thể
tính được.
+ Năng lượng gián tiếp:
Là những dạng năng lượng gián tiếp của bức xạ mặt trời bao gồm:
sinh thái và sự sống còn của nhân loại.
12
Từ các đặc điểm nêu trên của tài nguyên rừng, ta có thể nhận thấy điểm
đặc biệt của loại tài nguyên rừng, đó là một trong những loại tài nguyên có thể
tái tạo lại nếu chúng ta biết sử dụng nó một cách khoa học và hợp lý, nghĩa là
trước khi khai thác tài nguyên rừng ta phải có qui hoạch loại rừng nào sẽ được
khai thác, phải xây dựng kế hoạch và các phương án cụ thể cho việc khai thác.
Đồng thời, phải đánh giá toàn diện và khách quan sự tác động của việc khai
thác tài nguyên rừng đối với môi trường sinh thái và sự tác động của nó đối
với sự phát triển của nền kinh tế, bên cạnh đó cần phải phải có biện pháp khôi
phục và cải tạo tài nguyên rừng một cách hợp lý, để sau khi khai thác, tài
nguyên rừng vẫn được duy trì và phát triển một cách ổn định và bền vững.
Ngược lại nếu chúng ta khai thác tài nguyên rừng một cách bừa bãi,
thiếu khoa học và không đánh giá đúng sự tác động trở lại của nó đối với môi
trường sinh thái và sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia, đồng thời
không có biện pháp duy trì, bảo vệ tài nguyên sau khai thác, thì tài nguyên
rừng của nước ta sẽ vĩnh viễn không thể tái tạo lại, để lại hậu quả khôn lường
cho xã hội mà thực tế như đã xảy ra trong những năm gần đây.
Do đó, hơn bao giờ hết chúng ta phải khẩn trương tìm ra những giải
pháp hữu hiệu để tái tạo và bảo vệ tài nguyên rừng của nước ta sao cho ngày
càng phát triển theo chiều hướng tích cực, tạo động lực to lớn cho nền kinh tế
đất nước ta phát triển một cách toàn diện và bền vững, góp phần quan trọng
vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày
càng vững mạnh và giàu đẹp.
1.1.2. Tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp luật hình
sự Việt Nam
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc
biệt đối với sự sống của loài người, rừng có vai trò cân bằng hệ sinh thái, ổn định
và điều hòa khí hậu, điều tiết nước giúp sự sống trên trái đất được duy trì bền
Phòng
hộ
(ha)
Sản xuất
(ha)
1
Tổng diện tích
rừng
13.862.043
2.021.995
4.675.404
6.964.415
200.230
1.1
Rừng tự nhiên
10.423.844
1.940.309
4.023.040
4.415.855
44.641
1.2
Rừng trồng
3.438.200
81.686
652.364
2.548.561
155.589
a
cho thấy: Nhìn chung, diện tích rừng có chiều hướng phục hồi trở lại, nhưng
rừng tự nhiên của nước ta hiện nay đã bị giảm nhiều so với những năm trước
giải phóng.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì tổng
diện tích rừng của nước ta vào năm 1945 là 14.300.000 ha. Đến năm 1976
diện tích rừng tự nhiên giảm còn 11.169.000 ha. Đến năm 2012 tổng diện tích
rừng tự nhiên của nước ta chỉ còn 10.423.844 ha (Như số liệu đã nêu ở bảng
thống kê trên). Nếu so với số liệu được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn công bố năm 2009 khoảng 13,2 triệu ha với độ che phủ 39,1% thì diện
tích rừng hiện nay đã tăng xấp xỉ 300.000 héc ta. Tuy nhiên, diện tích rừng
nguyên sinh giảm trầm trọng, hiện chỉ còn rất ít, chủ yếu còn ở những khu
rừng phòng hộ, vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên, phần lớn rừng
tự nhiên hiện nay còn lại là rừng nghèo có chất lượng kém.
Diện tích rừng ngập mặn của nước ta cũng đã giảm hơn một nửa trong
các thập kỷ trước và vẫn tiếp tục suy giảm trong những năm gần đây. Sự suy
giảm cả về số lượng và chất lượng của các loại rừng như đã nêu trên đã tác
động xấu đến môi trường sinh thái và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự
phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia. Đây là một trong những nguyên
nhân dẫn đến sự biến đổi khí hậu mà hậu quả của nó là cực kỳ nghiêm trọng
đối với các cơ sở hạ tầng của nền kinh tế đất nước và đối với đời sống kinh tế
của nhân dân.
Theo thống kê của các cơ quan chuyên môn, chỉ tính trong 15 năm trở
lại đây, các loại thiên tai như bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, ngập úng, hạn hán,
triều cường, xâm nhập mặn tại Việt Nam đã làm chết và mất tích hơn
10.700 người, thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP mỗi năm.
15
Chính từ việc tàn phá, hủy hoại tài nguyên rừng là một trong những nguyên
nhân căn bản dẫn đến sự biến đổi khí hậu và gây ra những thảm họa như đã
nêu trên.
Nguyên cũng đang đối diện với tình trạng khai thác, buôn bán lâm sản, phá
rừng trái pháp luật.
Trước thực trạng tài nguyên rừng đã và đang bị tàn phá gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế ở nước ta như đã nêu
trên và để bảo vệ nghiêm ngặt nguồn tài nguyên quan trọng ấy tránh khỏi sự
xâm hại bởi hành vi trái pháp luật của con người. Trong nhiều năm qua Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương biện pháp, nhiều nhà nghiên cứu khoa
học cũng đã chú tâm đến vấn đề này với mục đích tìm ra những giải pháp hữu
hiệu để bảo vệ tài nguyên rừng (Loại tài nguyên có thể tái tạo được nếu chúng
ta biết khai thác và bảo vệ một cách khoa học và hợp lý). Song thực tiễn cho
thấy, tuy có sự nghiên cứu và áp dụng nhiều đề tài khoa học vào thực tiễn để
bảo vệ tài nguyên rừng, đồng thời các cấp các ngành và chính quyền địa
phương ở nhiều nơi trong thời gian qua cũng đã có sự quan tâm nhưng chưa
đúng mức. Bởi lẽ đó cho nên tình trạng tài nguyên rừng ở nước ta bị hủy hoại,
tàn phá vẫn không được giải quyết triệt để như mong muốn, mà ngược lại
ngày càng bị tàn phá, huỷ hoại một cách phổ biến trên phạm vi cả nước, hành
vi ngày càng tinh vi xảo quyệt, hậu quả gây ra cho nền kinh tế - xã hội ngày
càng nghiêm trọng.
Trước tình hình diễn biến phức tạp của các loại tội phạm trong lĩnh vực tài
nguyên rừng, đồng thời xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm
của nước ta trong những năm qua cho thấy, áp dụng các biện pháp giáo dục
thuyết phục và chế tài hành chính đã bộc lộ sự kém hiệu quả, điều này được
chứng minh qua tình hình tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng trong những
17
năm gần đây và thực trạng chất lượng tài nguyên rừng đang bị suy giảm ngày
càng nghiêm trọng bởi sự tàn phá, hủy hoại trái pháp luật của con người.
Trước tình hình đó Nhà nước ta xác định cần phải có một “liều thuốc
đặc trị” đủ mạnh để “điều trị căn bệnh này” và đó chính là biện pháp chế tài
hình sự. Chỉ có biện pháp chế tài hình sự với bản chất nghiêm khắc nhất trong