THỰC TIỄN THI HÀNH BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN - Pdf 28

Môn Luật tố tụng hình sự
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
Xuất phát từ đặc trưng của quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng
hình sự. Đó là những quan hệ luôn có một bên là quyền lực cơ quan Nhà nước có trách
nhiệm và quyền hạn giải quyết các vụ án hình sự, mặt khác tội phạm là hành vi nguy
hiểm không chỉ cho riêng một cá nhân nào mà hành vi nguy hiểm cho xã hội, nguy
hiểm cho lợi ích chung của cộng đồng, do vậy trong tố tụng hình sự các cơ quan có
thẩm quyền có quyền áp dụng các biện pháp cưởng chế để tác động tới đối tượng. Đặc
điểm chung của các biện pháp cưởng chế là sự tác động một chiều không phụ thuộc vào
ý trí của bên bị tác động xuất phát từ những căn cứ điều kiện do pháp luật quy định. Một
trong các biện pháp cưỡng chế đó là biện pháp bắt người. Để làm rõ vấn đề này em xin
chọn đề tài: “Bắt người trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện pháp luật nhằm nâng
cao hiệu quả áp dụng”. Do sự hiểu biết có hạn, trong bài viết không tránh khỏi những
thiếu sót, em rất mong được sự góp ý của các thầy cô.
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI
1. Khái niệm
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối
với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy
hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có
hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị
can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả
tang thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn
hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
2. Ý nghĩa của biện pháp bắt người

việc bắt người như: Luật số 103-SL/L005 ngày 20/5/1957; Sắc luật 002-SLt ngày
18/6/1957; Sắc luật 02-SL ngày 15/3/1976, gần đây nhất là Bộ luật tố tụng hình sự năm
1988 - Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các quy định về bắt người trong các văn bản trên ngày càng hoàn thiện, từ những quy
định đầu tiên còn mang tính nguyên tắc, khái quát, các văn bản sau này đã có sự phân
chia thành các trường hợp bắt người với quy định về căn cứ áp dụng, thẩm quyền ra
lệnh bắt người cũng như thủ tục bắt người ngày càng cụ thể, chặt chẽ.
Thực hiện các quy định trong các văn bản pháp luật trên, việc bắt người đã phát
huy được tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Tuy
Đại học Luật Hà Nội- Khoa Pháp luật kinh tế
2
Môn Luật tố tụng hình sự
nhiên, việc vận dụng các quy định trên trong một thời gian dài mà ít có sự thay đổi
đã không thể tránh khỏi nhiều hạn chế do sự phát triển không ngừng của đất nước và
những diễn biến phức tạp của xã hội và tình hình tội phạm. Xuất phát từ yêu cầu thực
tiễn của cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, cũng như yêu cầu của việc
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và việc đảm bảo các quyền cơ bản của công
dân, kế thừa có chọn lọc các quy quy định về bắt người trong các văn bản pháp luật
trước đây, nhất là quy định của BLTTHS 1988, BLTTHS 2003 ra đời quy định tương
đối hoàn thiện về biện pháp bắt người.
Quyết định bắt người liên quan trực tiếp đến quyền tự do thân thể - một quyền cơ bản
của công dân được quy định trong Hiến pháp. Vì vậy, việc quy định cũng như áp dụng biện
pháp bắt người phải trên cơ sở quy định tại Điều 71 Hiến pháp 1992 về quyền này.
II. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003 VỀ BẮT NGƯỜI
1. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80 BLTTHS)
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị
toà án quyết định đưa ra xét xử để tạm giam nhằm ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm
tội cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
1.1. Căn cứ áp dụng
Đối tượng bị bắt để tạm giam chỉ có thể là bị can hoặc bị cáo. Trong đó, "bị can

 Trong giai đoạn điều tra, việc bắt bị can để tạm giam do Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng Cơ quan điều tra (CQĐT) các cấp quyết định. Trường hợp CQĐT ra lệnh bắt
bị can để tạm giam phải được Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp phê chuẩn trước khi thi
hành nhằm kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của lệnh bắt để đảm bảo hiệu lực của
lệnh bắt người cũng như sự cần thiết phải bắt tạm giam bị can, đồng thời giúp hạn chế
tình trạng lạm dụng quyền được áp dụng biện pháp ngăn chặn để tác động một cách
trái pháp luật đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vì những mục đích cá nhân.
 Trong giai đoạn truy tố, việc bắt bị can để tạm giam do Viện trưởng, Phó viện
trưởng VKSND và VKSQS các cấp quyết định.
 Trong giai đoạn xét xử, việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam do Chánh án, Phó chánh
án Toà án nhân dân (TAND) và Toà án quân sự (TAQS) các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ
Chánh toà, Phó chánh toà toà phúc thẩm TAND tối cao; Hội đồng xét xử quyết định.
Thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam theo quy định tại BLTTHS 2003
thu hẹp hơn so với BLTTHS 1988, bỏ thẩm quyền của Trưởng công an, Phó trưởng công
an cấp huyện; Thẩm phán TAND tỉnh hoặc thẩm phán TAQS cấp quân khu được phân
công chủ toạ phiên toà. Đồng thời, quy định của BLTTHS 2003 cũng quy định ngắn gọn,
chặt chẽ có tính khái quát cao về thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam.
1.3. Thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Khoản 2 và khoản 3 Điều 80)
• Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải có lệnh của người có thẩm quyền; lệnh bắt
phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị
bắt và lí do bắt. Lệnh phải có chữ kí của người ra lệnh và có đóng dấu cơ quan. Lệnh bắt bị
can, bị cáo để tạm giam phải đảm bảo yêu cầu pháp lý nêu trên mới có giá trị thi hành.
Hiện nay, CQĐT các cấp vẫn dùng mẫu lệnh bắt tạm giam bị can để bắt bị can.
Trong lệnh này ghi cả thời hạn tạm giam bị can, trong khi đó "bắt bị can, bị cáo để
tạm giam" và "tạm giam" là hai biện pháp ngăn chặn độc lập mặc dù có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau. Có ý kiến cho rằng nên dùng hai mẫu lệnh: lệnh bắt bị can để tạm
giam và lệnh tạm giam bị can. Như vậy sẽ đảm bảo tính khoa học, rõ ràng trong việc
Đại học Luật Hà Nội- Khoa Pháp luật kinh tế
4
Môn Luật tố tụng hình sự

• Do tính chất không cấp bách của việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam và để đảm
bảo sinh hoạt bình thường của gia đình người bị bắt cũng như không gây ảnh hưởng
đến hàng xóm của họ, luật quy định không bắt người vào ban đêm (từ sau 22 giờ tối
ngày hôm trước đến trước 6 giờ sáng ngày hôm sau) trừ trường hợp khẩn cấp hoặc
phạm tội quả tang (khoản 3 Điều 80).
Đại học Luật Hà Nội- Khoa Pháp luật kinh tế
5
Môn Luật tố tụng hình sự
Việc quy định và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định nêu trên về bắt bị can, bị
cáo để tạm giam vừa thể hiện sự nghiêm khắc của Nhà nước trong đấu tranh phòng,
chống tội phạm vừa là sự tôn trọng các quyền cơ bản của công dân, tránh mọi tác
động trái pháp luật tới các quyền này.
2. Bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81 BLTTHS 2003)
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi người đó đang chuẩn bị
thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm ngăn
chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ hay bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà
người người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm.
2.1. Căn cứ áp dụng (khoản 1 Điều 81)
Điều 81 BLTTHS quy định một cách cụ thể các trường hợp bắt khẩn cấp:
a. Trường hợp khẩn cấp thứ nhất: Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn
bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Đây là trường hợp hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm chưa xảy
ra, mới được thể hiện ở những hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho
việc thực hiện tội phạm và hành vi phạm tội có thể xảy ra và xảy ra thuận lợi, dễ dàng hơn.
Việc bắt người trong trường hợp này cần phải đảm bảo hai điều kiện:
 Có căn cứ khẳng định một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện
tội phạm. Những căn cứ này có thể do cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xác định qua
việc theo dõi, kiểm tra đối tượng, xác minh các nguồn tin do quần chúng cung cấp đã
khẳng định người đó đang tìm kiếm công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều
kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm như bàn mưu, tính kế, lập kế hoạch, lôi kéo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status