ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỨA THỊ KHUYÊN
TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ CỦA HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TỈNH LẠNG SƠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. ĐOÀN THỊ MINH OANH
HÀ NỘI - 2012 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đoàn Thị
Minh Oanh.
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều
trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012.
Tác giả luận văn
Chí Minh
12
1.2.
Nguyên tắc đoàn kết các dân tộc thiểu số trong tư tưởng Hồ Chí
Minh
21
1.2.1.
Đoàn kết các dân tộc thiểu số phải dựa trên nguyên tắc “các dân
tộc đều chung một cộng đồng quốc gia, chung một vận mệnh
lịch sử”
21
1.2.2.
Đoàn kết các dân tộc thiểu số phải dựa trên nguyên tắc bình
đẳng dân tộc
27
1.2.3. Đoàn kết các dân tộc thiểu số phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng,
giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của các
dân tộc 32
1.2.4.
Đoàn kết các dân tộc thiểu số phải gắn liền với sự tương trợ giúp
đỡ của Đảng, Nhà nước và dân tộc đa số
37
Chương 2.
TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở TỈNH LẠNG SƠN DƯỚI ÁNH SÁNG TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
45
2.1. Một số nhân tố chủ yếu tác động đến việc xây dựng khối đại
đoàn kết các dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay 45
2.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
109
PHỤ LỤC
113
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
ANQG: An ninh quốc gia
CNTB: Chủ nghĩa tư bản
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DTTS: Dân tộc thiểu số
ĐĐKDT: Đại đoàn kết dân tộc
ĐĐKTD: Đại đoàn kết toàn dân
ĐĐK: Đại đoàn kết
ĐBKK: Đặc biệt khó khăn
GCVS: Giai cấp vô sản
GCTS: Giai cấp tư sản
HĐND: Hội đồng nhân dân
MTTQ: Mặt trận tổ quốc
UBND: Ủy ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài, người anh hùng giải phóng
dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân di sản vô cùng quý
báu, trong đó tư tưởng đại đoàn kết và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
diễn biến phức tạp. Trong tình hình đó, chủ trương về đại đoàn kết toàn dân
của Đảng được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 17/11/1993
của Bộ Chính trị (khoá VII) và tiếp tục được khẳng định qua các kỳ đại hội
lần thứ VIII, IX, X và XI: Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh
đạo của Đảng là đường lối chiến lược nhất quán của cách mạng VIệt Nam; là
nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm
bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy,
trong quá trình đổi mới Đảng ta luôn xác định xây dựng khối ĐĐKDT là
đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và là động lực quan trọng nhằm phát
huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất Tổ
quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Lạng sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc của Tổ quốc, có đường biên giới
và các cửa khẩu giao dịch với Trung Quốc. Cư dân của tỉnh gồm 8 dân tộc chủ
yếu: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa… cùng chung sống đan xen. Xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc trong tỉnh là một trong những nội dung quan trọng có ý
nghĩa chính trị to lớn trong việc giữ vững ổn định chính trị, chủ quyền biên giới
quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, là động lực phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh đồng thời chống lại âm mưu chia rẽ các dân tộc, lôi kéo quần
chúng tham gia các hoạt động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.
Ngày nay, phát huy truyền thống đoàn kết, anh hùng của dân tộc, nhân dân các
3
dân tộc tỉnh Lạng Sơn đoàn kết, thống nhất, vượt qua mọi khó khăn quyết tâm
đưa quê hương xứ Lạng trở thành một tỉnh giàu đẹp, góp phần bảo vệ vững
chắc biên cương nơi địa đầu phía Bắc của Tổ quốc Việt Nam.
Nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về
đại đoàn kết và xây dựng khối ĐĐKDT, vận dụng sáng tạo vào xây dựng khối
đại đoàn kết các dân tộc tỉnh Lạng Sơn trong thời kỳ đổi mới hiện nay vừa là
nhiệm vụ cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài của tỉnh. Bởi vậy, tôi chọn đề tài
đi sâu tìm hiểu chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được thể
hiện trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giai đoạn
1945-1954. Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận về vấn đề ĐĐKDT và
những giải pháp có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhằm chỉ đạo việc củng cố,
xây dựng khối ĐĐKTD trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN trong giai đoạn hiện nay.
- Vũ Thị Thuỷ, Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc và thực
hiện bình đẳng dân tộc tỉnh Thái Nguyên trong sự nghiệp đổi mới, luận văn
thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2006. Trên cơ sở nghiên cứu tình hình
thực tiễn về việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở tỉnh Thái
Nguyên, tác giả Vũ Thị Thuỷ đã đưa ra những nhóm giải pháp hữu hiệu, có
tính thuyết phục nhằm củng cố và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
vững mạnh ở tỉnh Thái Nguyên, để tăng cường việc thực hiện chính sách bình
đẳng dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
- Ngô Minh Hoàng, Đại đoàn kết dân tộc thiểu số trong tư tưởng Hồ
Chí Minh với việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số Tây
Nguyên hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí
Minh học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2007. Luận văn đã
nghiên cứu tình hình thực tiễn ở địa phương Tây Nguyên, đặc biệt sau sự kiện
bạo động chính trị, gây chia rẽ khối đoàn kết giữa đồng bào kinh với đồng bào
5
DTTS ở Tây Nguyên, từ đó đưa ra những nhóm giải pháp hữu hiệu, có tính
thuyết phục nhằm củng cố và xây dựng khối ĐĐKDTTS ở địa bàn Tây
Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
- Trần Phú Quý, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc thiểu số và
vận dụng vào giải quyết vấn đề dân tộc trên địa bàn tỉnh Gia Lai, Luận văn
thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học, Học viện Chính
trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2008.
dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Nga, Phát huy tư tưởng đại doàn kết dân tộc của Hồ Chí
Minh trong điều kiện nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 105 - 2005.
- Lê Hoàng, Văn Nghiệp Chúc, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, báo Nhân dân, số ra ngày 15/5/2005.
- Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại đoàn kết dân tộc và
Mặt trận dân tộc thống nhất, báo Nhân dân ra ngày 16/5/2005.
Những đề tài khoa học, luận án, luận văn, các tác phẩm và một số bài
báo, tạp chí trên đã thể hiện kết quả nghiên cứu tổng thể toàn diện và sâu sắc
về tư tưởng đại đoạn kề dân tộc của Hồ Chí Minh và tư tưởng đó trong thực
tiễn cách mạng Việt Nam. Đây là những tri thức hết sức quan trọng cho
những người nghiên cứu tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh tiếp theo. Tuy
nhiên, nghiên cứu về vấn đề đại đoàn kết các dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng sơn
trong thời kỳ đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì từ trước đến nay chưa có
một công trình nào nghiên cứu.
3. Mục đích nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hoá những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh về đại đoàn kết các dân tộc thiểu số và qua sự khảo sát, nghiên cứu thực
trạng khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn hiện nay, đề xuất
7
một giải pháp chủ yếu tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc tỉnh
Lạng Sơn.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá và phân tích nhằm nhận thức sâu sắc nội dung cơ bản tư
tưởng đại đoàn kết dân tộc thiểu số của Hồ Chí Minh.
- Xác định các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc xây dựng khối đại
đoàn kết các dân tộc thiểu số và phân tích làm rõ thực trạng khối đại đoàn kết
các dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay.
Chương 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam.
Chương 2: Tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số
ở tỉnh Lạng Sơn dưới ánh sang tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện
nay. 9
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
Đại đoàn kết các dân tộc thiểu số là một trong những nội dung cơ bản,
quan trọng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết các dân tộc ở Việt
Nam.
Xuất phát từ đặc điểm đất nước ta là một quốc gia đa dân tộc với 54
dân tộc anh em sống xen kẽ với nhau. Trong đó dân tộc thiểu số thường cư trú
ở những vùng trọng yếu của Tổ quốc như biên giới và hải đảo.
Bởi vậy, vấn đề đại đoàn kết dân tộc nói chung và đại đoàn kết các dân
tộc thiểu số nói riêng không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát
triển đất nước mà còn là ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp bảo vệ, giữ gìn
nền độc lập dân tộc.
1.1. Khái niệm và vai trò của đại đoàn kết các dân tộc thiểu số
trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1. Khái niệm đoàn kết và đại đoàn kết các dân tộc thiểu số
Đoàn kết là một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử nhân loại và
đã được sử dụng một cách rộng rãi. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ lịch sử, quan
niệm về đoàn kết cũng có sự khác nhau. Đến giữa thế kỷ XIX, C.Mác và
Ph.Ăngghen trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, đã nêu khẩu
hiệu “Vô sản các nước đoàn kết lại”. Kế thừa và phát triển tư tưởng tập hợp
Đoàn kết rộng rãi và lâu dài: Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà
còn lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn
chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta
còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ, đồng
thời phải củng cố. Nền có vững nhà mới chắc, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi.
Trong chính sách đoàn kết cần phải chống lại hai khuynh hướng sai lầm cô
11
độc hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc. Phải lấy công tác mà củng cố đoàn
kết. Phải lấy đoàn kết để đẩy mạnh công tác [25, tr.438].
Từ những quan niệm nêu trên của Hồ Chí Minh và qua nghiên cứu
những bài nói, bài viết, chủ trương về đoàn kết, đại đoàn kết của Người, có
thể khái quát quan niệm đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, là: một hệ thống
những quan điểm, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp giáo dục, tổ chức
hành động của các lực lượng cách mạng nhằm phát huy đến mức cao nhất
sức mạnh của dân tộc, quốc tế trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc,
và CNXH. Nói một cách khác, đó là chiến lược xây dựng, củng cố, mở rộng,
tăng cường lực lượng cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
tộc, xã hội, con người [33, tr.132-133].
Đoàn kết các DTTS là một bộ phận không tách rời của tư tưởng Hồ Chí
Minh về ĐĐKDT, Hồ Chí Minh tuy không nêu ra khái niệm cụ thể nào về
đoàn kết các dân tộc thiểu số, nhưng qua nghiên cứu những di sản của Người
để lại (trong Hồ Chí Minh, Toàn tập, 12 tập, Nxb.CTQGHN, 1995 và 1996),
cho thấy: từ năm 1941 đến năm 1969, trong gần 30 năm, có đến 64 tài liệu
của Người đề cập đến mối quan hệ giữa các dân tộc trong đại gia đình các dân
tộc Việt Nam; trong đó, để gọi các dân tộc trong nước ta, Người dùng các
thuật ngữ: “dân tộc đa số”, “DTTS”, “đồng bào Thượng du”, “anh em thiểu
số”, “anh, chị em các dân tộc” , “đồng bào các dân tộc”…, không có một tài
liệu nào Người dùng thuật ngữ: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, sắc tộc. Trong 64 tài
liệu đó, theo thống kê (chưa đầy đủ), có hơn 30 lần Hồ Chí Minh dùng cụm từ
trong cuộc chiến tranh chống ngoại xâm và xây dựng CNXH. Chính vì thế
đoàn kết có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành bại của cách mạng
Việt Nam. Vai trò đó, được Người thể hiện ở các luận điểm sau:
Thứ nhất, đoàn kết là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã đề cập đến sự cần thiết và con đường tập hợp,
đoàn kết các lực lượng cách mạng từng nước trong cuộc đấu tranh chống kẻ
13
thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng về
đoàn kết của chủ nghĩa Mác-Lênin, ngay từ năm 1924, trong bài Về Bắc Kỳ,
Trung Kỳ và Nam Kỳ, trên cơ sở phân tích cơ cấu giai cấp - xã hội ở Đông
Dương, truyền thống đoàn kết của người Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã nêu
ra luận điểm: “cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương
Tây”. Trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, sự phân hoá giai cấp diễn ra
không sâu sắc như ở phương Tây, bởi vì, “nếu nông dân chẳng có gì, thì địa
chủ không có vốn liếng gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần
thiết thì đời sống của địa chủ chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không
biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột họ
là máy móc” [20, tr.464]. Bên cạnh đó, dưới sự thống trị của thực dân, mâu
thuẫn bao trùm và chi phối các mâu thuẫn khác là mâu thuẫn giữa toàn thể
dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Do đó,“chủ nghĩa dân tộc là
một động lực lớn của đất nước”. Từ chỗ phát hiện ra, chủ nghĩa dân tộc là
một trong những động lực lớn của đất nước, Hồ Chí Minh đi đến kết luận
rằng“đã là con Lạc cháu Hồng thì ít nhiều ai cũng có tinh thần Ái Quốc” [1,
tr.81]. Vì thế, cách mạng thuộc địa, cụ thể là cách mạng Việt Nam, muốn
giành được thắng lợi phải phát huy sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc chân
chính đó, phải tập hợp, đoàn kết tất cả những người yêu nước chống thực dân
pháp, đế quốc xâm lược; phải có chế độ khoan hồng, độ lượng với những
người “lầm đường” kêu gọi họ trở về với con đường chính nghĩa của dân tộc,
để không ngừng củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết cả trong cuộc chiến tranh
các châu lục trên thế giới trong hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân
của Người. Đặc biệt, khi Người được trang bị lý luận của Chủ nghĩa Mác-
Lênin đã giúp Người nhận thức sâu sắc, đầy đủ những giá trị của đoàn kết
cũng như nguyên nhân thất bại của các phong trào đấu tranh chống Pháp của
dân tộc Việt Nam trước đó. Cũng bắt đầu từ đó, Người luôn có niềm tin sâu
sắc và sức mạnh của khối ĐĐK đối với sự thành bại của cách mạng, Người
15
chỉ rõ: “Việc gì khó cho mấy, quyết tâm làm thì chắc làm được, ít người làm
không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm thì phải nổi” [21, tr.261].
Người cũng chỉ cho dân tộc chúng ta bài học lịch sử quý báu rằng: Sử ta dạy
cho ta bài học “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta
được độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài
xâm lấn. Vậy, nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn…
khôi phục lại độc lập, tự do” [22, tr.217].
Đánh giá tổng kết mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng
cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo, Hồ Chí Minh luôn khẳng định và đề
cao vai trò của đoàn kết. Trả lời câu hỏi “Vì sao có cuộc thắng lợi cách mạng
tháng Tám năm 1945”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một phần là vì tình hình quốc
tế thuận tiện cho ta. Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết” [23, tr.19].
Tổng kết năm năm đầu thực hiện đường lối kháng chiến, kiến quốc, Người
cũng khẳng định: “Do chí khí quật cường của dân tộc ta, do sự hy sinh anh
dũng của bộ đội và dân quân ta, do khối đại đoàn kết chặt chẽ của toàn dân
ta… mà ta đã vượt qua tất cả mọi bước khó khăn và xoay chuyển tình thế”
[24, tr.666]. Người đã đúc kết thành chân lý của cách mạng: “Đoàn kết là sức
mạnh của chúng ta. Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành
công, đại thành công” [28, tr.349].
Đoàn kết các DTTS có vai trò không tách rời vai trò đoàn kết nói
chung, đồng thời theo Hồ Chí Minh, đoàn kết các DTTS còn có vai trò rất
riêng đối với cách mạng Việt Nam. Cụ thể:
Nam bộ… Những vùng rừng núi có nhiều thành phần DTTS sinh sống làm
căn cứ địa cho cách mạng cả nước, Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện sự vận
dụng sáng tạo những lý luận cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, truyền
thống đánh giặc giữ nước của ông cha ta mà còn thấy rõ tầm quan trọng của
đoàn kết các DTTS, trong việc củng cố chính trị, quốc phòng, biên giới và
kinh tế của Tổ quốc.
17
Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Miền núi có một vị trí cực kỳ quan trọng về
kinh tế, chính trị quốc phòng của cả nước” [28, tr.608]. Đồng bào các DTTS,
“rất trung thành và chịu khó”,“rất thật thà và rất tốt”, lại cư trú chủ yếu ở
miền núi, mà miền núi là “rừng vàng”, địa thế hiểm trở. Địa thế hiểm trở của
miền núi cộng với lòng yêu nước nồng nàn của đồng bào các DTTS tạo thành
một sức mạnh to lớn cho cách mạng, Người viết:“Lòng yêu nước của đồng
bào, nhập với địa thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch”
[25, tr.19].
Với Hồ Chí Minh, trong kháng chiến hay trong thời kỳ xây dựng đất
nước, đoàn kết các DTTS ở miền núi luôn giữ vị trí “đầu nguồn”. Lòng nồng
nàn yêu nước, truyền thống đoàn kết, tính trung thực, thật thà, chịu khó của
các DTTS là cơ sở để Người tin tưởng sâu sắc rằng: “Đồng bào miền núi có
truyền thống cần cù và dũng cảm. Trong thời kỳ kháng chiến, đồng bào miền
núi đã có những công trạng vẻ vang và oanh liệt. Ngày nay, Trong công cuộc
xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh để thực hiện hoà bình, thống nhất
Tổ quốc, đồng bào miền núi đang cố gắng góp phần xứng đáng của mình”
[28, tr.608].
Những lần gặp gỡ, tiếp xúc hay trong các thư gửi đồng bào các DTTS,
điều mà Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu là: đồng bào có đoàn kết không?
Khi có điều kiện trực tiếp lên thăm đồng bào các dân tộc, nắm bắt tình hình
thực tế, Hồ Chí Minh cũng luôn căn dặn một điều rằng: Các dân tộc miền núi
phải đoàn kết chặt chẽ. Nói chuyện tại cuộc mít tinh ngày 7/5/1959, khi
bào người Kinh đứng lên kháng chiến chống ngoại xâm. Hưởng ứng phong
trào Cần vương, ở miền núi có các phong trào do Hà Văn Mao (người dân tộc
Mường), Cầm Bá Thước, Đốc Hạnh, Đốc Thiết (người dân tộc Thái)… dựng
cờ, tụ binh. Dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, nhiều đồng bào người DTTS đã
tham gia phong trào cách mạng, như ở phía bắc có Hoàng Đình Kinh, Hoàng
Đình Giong dân tộc Tày, Hoàng Văn Thụ dân tộc Tày… Có thể nói, trong
19
suốt 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, từ Bắc tới Nam không lúc nào không
bùng lên các cuộc đấu tranh kiên cường giành quyền sống, quyền tự do của
đồng bào các DTTS.
Trên cơ sở của sự hiểu biết sâu sắc về truyền thống đoàn kết của dân
tộc, đồng thời thấy rõ âm mưu “chia để trị” của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh
luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, qua đó củng cố,
tăng cường mối quan hệ bền chặt giữa các dân tộc trong sự nghiệp giải phóng
dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Ngay từ những ngày đầu của cách mạng, Người đã quan tâm đến những
thanh niên các DTTS, đưa ra nước ngoài, tập hợp họ thành đội ngũ, trực tiếp
huấn luyện, đào tạo để sau này đưa về nước hoạt động cách mạng, làm nòng
cốt cho cơ sở Đảng ở địa phương đồng bào các dân tộc ở miền núi. Trước khi
đặt chân về Tổ quốc, tháng 12 năm 1940, đến biên giới Việt - Trung tại 2 làng
Nậm Quang và Ngàm Tây (Tĩnh Tây - Trung Quốc), Người cũng đã mở lớp
huấn luyện cấp tốc cho 40 thanh niên dân tộc ở Cao Bằng, sau đó đưa họ về
nước mở rộng phong trào cách mạng và tổ chức đường dây liên lạc về nước.
Sau hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài, trở về nước, Người đã chọn
vùng rừng núi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống làm “đại bản
doanh” để xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng cách mạng trong cả nước.
Sống, làm việc và gắn bó với đồng bào các DTTS, được đồng bào cưu mang,
đùm bọc, che chở, nhường cơm xẻ áo, hết lòng giúp đỡ cách mạng mặc dù đời
sống của đồng bào các DTTS còn rất thiếu thốn, Hồ Chí Minh càng thấy rõ