ĐẠI HỌC QUỐC GIA hµ NỘI
TRUNG T©m ®µo t¹o, BỒI DƯỠNG GIẢNG Viªn Lý luËn chÝnh TRỊ ĐỖ THỊ THANH LOAN
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGµnh KINH
TẾ trong n«ng nghiÖp
ë tØnh ninh b×nh LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 60. 31. 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS PHAN HUY ĐƯỜNG
1.2.3. Nhóm nhân tố thuộc về trình độ phát triển của phân công lao động trong nƣớc và quốc
tế
1.2.4. Nhóm nhân tố thuộc về các lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh
1.2.5. Nhóm nhân tố thuộc về cơ chế chính sách
23
23
24
25
26
27
1.3. Kinh nghiệm một số địa phƣơng trong nƣớc về chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế trong nông nghiệp
29
1.3.1. Tổng quan kinh nghiệm một số địa phƣơng trong nƣớc
29
1.3.2. Bài học kinh nghiệm chung rút ra tham khảo và vận dụng để chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
32
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NINH BÌNH THỜI GIAN QUA
34
2.1. Đặc điểm của Ninh Bình liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
nông nghiệp
34
2.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.3.3. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết
67
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẨY
MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG NÔNG
NGHIỆP Ở TỈNH NINH BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI 70
3.1. Quan điểm, định hƣớng cơ bản chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông
nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
70
3.1.1. Bối cảnh mới
70
3.1.2. Quan điểm, phƣơng hƣớng
73
3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông
nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
83
3.2.1. Xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong nông nghiệp ở tỉnh
Ninh Bình
83
3.2.2. Hoàn thiện chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
85
3.2.3. Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng
87
3.2.4. Đào tạo nguồn nhân lực trong nông nghiệp
89
Giáo dục - đào tạo
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
GD-§T
Tổng sản phẩm quốc nội
Gi¸o dôc - §µo t¹o
LLSX
KT- XH
Lực lượng sản xuất
Kinh tÕ - X· héi
NSNN
Ngân sách nhà nước
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
QHSX
Quan hệ sản xuất
TPKT
Thành phần kinh tế
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: "Chuyển dịch mạnh cơ cấu
nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng
Ninh Bình, một tỉnh ở phía Nam vùng châu thổ sông Hồng, với địa hình
đa dạng bao gồm: biển, vùng ven biển, vùng đồng bằng gò đồi bán sơn địa và
vùng núi đá, đất đá Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh (1992) đến nay, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh
uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói
chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng có những thay đổi và đạt được
nhiều thành tựu đáng khích lệ. Kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển từ sản
xuất thuần nông, tự túc- tự cấp sang kinh tế nông nghiệp hàng hoá nhiều thành
phần, từng bước gắn với việc phát huy lợi thế và tiềm năng kinh tế của từng
địa phương, từng vùng sinh thái. Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch này vẫn còn
chậm; cho đến nay nền kinh tế của tỉnh vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp là
chính, sản xuất nhỏ còn phổ biến, hiệu quả thấp, chưa thật sự gắn với thị
trường. Có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là do tốc độ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong nông nghiệp nói riêng còn chậm, đã và đang trở thành vấn đề bức xúc và
thách thức đặt ra đối với Ninh Bình hiện nay.
Làm thế nào để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành tế trong nông
nghiệp nhằm phát huy thế mạnh của tỉnh và tạo điều kiện phát triển kinh tế- xã
hội của Ninh Bình trong thời gian tới? Lời giải cho vấn đề đặt ra mang tính
bức thiết có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc và quan trọng đối với Ninh
Bình trong thời gian tới.
Để góp phần vào việc tìm ra lời giải nói trên tác giả chọn đề tài: “Chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình” nghiên cứu
làm luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị là trên ý nghĩa đó. 5
2. Tình hình nghiên cứu
Cùng hướng với luận văn đã có một số sách, đề tài, công trình và bài báo
nghiên cứu đăng tải như:
một số nước mà tác giả có thể kế thừa một cách có chọn lọc Tuy nhiên, việc
nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh
Bình với tư cách là một luận văn khoa học độc lập, toàn diện và hệ thống trên
cả các mặt lý luận, thực tiễn và giải pháp vẫn còn để ngỏ.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm đưa ra phương hướng và giải
pháp cơ bản thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông
nghiệp ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế trong nông nghiệp.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế trong nông nghiệp của Ninh Bình trong thời gian qua, từ đó chỉ ra những
thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những vấn đề bức xúc đó ra cần phải
giải quyết.
- Đề xuất có căn cứ khoa học phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm
đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở tỉnh Ninh
Bình trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn lấy việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp
ở tỉnh Ninh Bình làm đối tượng nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu: quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong
nông nghiệp ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001- 2007. 7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Luận văn lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng
CƠ CỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH KINH TẾ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở MỘT TỈNH
THUẦN NÔNG
1.1. Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông
nghiệp
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông
nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm
- Cơ cấu kinh tế
Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, tất cả các quốc gia dù
đã phát triển hay đang phát triển đều tồn tại một tính quy luật chung là một
nền kinh tế quốc dân bao giờ cũng bao gồm nhiều ngành nhiều lĩnh vực, bộ
phận…chúng không tồn tại biệt lập mà phát triển trong mối liên hệ chặt chẽ
phụ thuộc lẫn nhau trong một chỉnh thể. Đó chính là mặt kết cấu (cấu trúc bên
trong) của nền kinh tế.
Việc nghiên cứu CCKT là xem xét cấu trúc bên trong của quá trình sản
xuất và tái sản xuất mở rộng của nền một kinh tế nhất định. Nền kinh tế đó
được cấu thành bởi những ngành, lĩnh vực, bộ phận nào. Cấu trúc bên trong
của nền kinh tế thường được thể hiện thông qua các mối quan hệ kinh tế,
chúng khó nhìn thấy. Song ta vẫn có thể nhận dạng chúng thông qua quan hệ
tỷ lệ của mỗi bộ phận đóng góp vào GDP hàng năm. Tuy nhiên đó không chỉ
là quan hệ tỷ lệ mang tính số lượng mà còn mang tính chất lượng. Chẳng hạn,
khi phân tích quá trình lao động nói chung, C.Mác đã xem xét ở cả hai mặt
chất và lượng của nó. Theo C.Mác đó là: “Sự phân chia về chất lượng và một
tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội” [18, tr 529]. Tính thống
nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong khái niệm cơ cấu kinh
tế cũng được C.Mác chỉ ra: “Do tổ chức quá trình lao động và phát triển kỹ
9
10
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: Cơ cấu
kinh tế là tổng thế các bộ phận cấu thành nền kinh tế của mỗi nước. Các bộ
phận đó gắn chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các
quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng, phản ánh tính chất, trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội trong
những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế
- xã hội nhất định, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
CCKTNN là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu theo tỷ lệ về số lượng và
chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế – xã hội có liên quan đến
sản xuất nông nghiệp trong khoảng thời gian và không gian nhất định.
CCKTNN là tổng thể phức tạp, do vậy phải đứng trên nhiều góc độ khác
nhau nhìn nhận mới có thể thấy hết những mối quan hệ trong một chỉnh thể
thống nhất của ngành nông nghiệp. Dựa trên góc độ nhìn nhận của ngành nông
nghiệp, có thể khái quát những nội dung chủ yếu của cơ cấu nông nghiệp theo
những quan hệ được xác lập trong thực tiễn nông nghiệp nước ta như sau:
quan hệ giữa nông-lâm-ngư nghiệp; quan hệ giữa trồng trọt, chăn nuôi và
ngành nghề; quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp, các ngành chế biến và dịch
vụ; quan hệ giữa công nghiệp- nông nghiệp - dịch vụ và quan hệ giữa các
thành phần kinh tế trong nông nghiệp.
- Cơ cấu ngành kinh tế
CCNKT là sự biểu hiện trung thành của phân công lao động xã hội trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ khoa học và công nghệ của một
quốc gia.
CCNKT là một chỉnh thể liên kết chặt chẽ nhau như một kiểu cấu trúc mà
mọi bộ phận cấu thành (các ngành kinh tế) có thuộc tính riêng, đặc trưng riêng
nhưng cùng tồn tại và phát triển, tuỳ thuộc vào nhau.
CCNKT là một trong những thước đo quan trọng phản ánh trình độ phát
triển của LLSX và phân công lao động xã hội của mỗi quốc gia.
kinh tế từ một nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng
12
suất lao động thấp thành một nước có cơ cấu công - nông nghiệp và dịch vụ
theo hướng hiện đại, khoa học và công nghệ tiên tiến, năng suất lao động cao
trong các ngành kinh tế quốc dân. Điều đó có nghĩa là tỷ trọng của các ngành
công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp
giảm trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân.
Nông nghiệp là một bộ phận cấu thành trong tổng thể nền kinh tế
quốc dân. Sự vận động của nông nghiệp chịu sự tác động của sự vận động
chung của nền kinh tế, đồng thời nó tác động trở lại nền kinh tế.
Nông nghiệp là ngành sản xuất ra nông sản thiết yếu (lương thực,
thực phẩm…) cho dân cư, nguyên liệu cho công nghiệp cho sản xuất hàng
xuất khẩu và là ngành sản xuất chủ yếu ở nông thôn. Tuy nhiên, tự bản thân
nông nghiệp không thể phát triển nhanh được, do đó việc thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang phát triển tổng hợp: nông
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ gắn bó với nhau là vấn đề quan trọng,
cấp thiết. Phát triển nông nghiệp, công nghiệp nông thôn yêu cầu phải mở
rộng hoạt động dịch vụ, còn dịch vụ được phát triển sẽ đáp ứng “đầu vào”,
“đầu ra” cho nông nghiệp, công nghiệp và thúc đẩy nông nghiệp, công nghiệp
phát triển.
Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của nước ta là giảm tỷ trọng
nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Trong nông - lâm - ngư
nghiệp thì nông nghiệp theo xu hướng giảm tỷ trọng (trồng trọt giảm và chăn
nuôi tăng), trong khi đó, tỷ trọng lâm nghiệp và ngư nghiệp tăng lên.
Nghị quyết đại hội IX của Đảng đã định hướng việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là: “Dựa vào nguồn lực
trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng
một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và trên thế giới, hướng mạnh về
xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản
các hoạt động sản xuất nông nghiệp truyền thống, phân tán, qui mô nhỏ, tự túc
14
tự cấp để tìm kiếm thu nhập cao hơn trong hoạt động phi nông nghiệp, góp
phần tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm nông - lâm - ngư nghiệp, do
đó chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp cũng có nghĩa là
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp là chuyển dịch
theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng lâm nghiệp, ngư
nghiệp nhằm khai thác hết thế mạnh, tiềm năng của tài nguyên như: đất đai, ao
hồ, sông rạch…, đồng thời kết hợp chặt chẽ nông - lâm - ngư nghiệp để hỗ trợ
nhau phát triển.
Từ những vấn đề phân tích trên có thể kết luận: Sự hình thành từng bước
cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá luôn luôn gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế do chính sự
đổi mới công nghệ tạo ra và đến lượt nó, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế lại là
lực đẩy, bảo đảm tính hiệu quả và tính định hướng của quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát
triển và tăng trưởng bền vững với nhịp độ cao trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, cơ
cấu hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp, nhằm giải phóng mạnh mẽ
sức sản xuất, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải
thiện đời sống nhân dân nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và
thành thị, xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại, công bằng, góp phần
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để đạt được mục tiêu trên, một trong những nội dung chính của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động ở nông thôn.
trong nông nghiệp và nông thôn lạc hậu hơn các ngành, các khu vực khác. Sự
lạc hậu này đã níu kéo quá trình CDCCKTNN từ trạng thái lạc hậu sang trạng
thái tiến bộ. Như vậy, việc CDCCKTNN đòi hỏi phải tôn trọng tính khách
16
quan, không áp đặt. Mặt khác, chính do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là
sinh học, lại diễn ra trong không gian rộng, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
khó khăn. Do đó, CDCCKTNN, nông thôn đạt được mức độ cao hay thấp,
nhanh hay chậm trước hết phụ thuộc vào tư duy kinh tế của Nhà nước. Điều
đó trước hết được thể hiện ở việc xác định chiến lược, kế hoạch, hình thức,
biện pháp đúng đắn, khoa học, hợp quy luật thì hiệu quả chuyển dịch
CCNKTTNN cao, LLSX trong nông nghiệp phát triển. Ngược lại việc áp đặt ý
chí chủ quan nôn nóng để có sự hình thành và CDCCNKTTNN thì sẽ đem lại
hậu quả khôn lường.
Cũng như CCKT nói chung, CCKTNN luôn vận động và biến đổi (tức là
nó luôn có sự chuyển dịch nhất định). Sự vận động, biến đổi trong quá trình
CDCCKTNN luôn gắn liền với điều kiện kinh tế – xã hội, điều kiện tự nhiên
và tiến bộ của khoa học công nghệ. Sự tác động của các điều kiện đó làm cho
các bộ phận kinh tế trong nông nghiệp biến đổi, tác động và chuyển hóa lẫn
nhau, tạo ra một CCKTNN mới. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, đây là sự vận động
của các quá trình kinh tế nên nó diễn ra trong thế ổn định tương đối của mỗi
quá trình bộ phận. Đây chính là sự khách quan về mặt nhận thức luận, cần
nắm vững điều đó để tránh sự nôn nóng, chủ quan trái yêu cầu khách quan.
CCKTNN một mặt luôn vận động phát triển, mặt khác cũng luôn giữ được
tính ổn định. Nếu CCKTNN thường xuyên thay đổi, xáo trộn thì hậu quả sẽ
làm cho các quá trình sản xuất kinh doanh không ổn định, quá trình đầu tư
lúng túng, lưu thông hàng hoá gặp trở ngại, gây nên lãng phí, tổn thất cho nền
kinh tế.
Thứ ba, CDCCKTNN không bó hẹp trong một không gian lãnh thổ, mà
luôn gắn liền với quá trình phân công lao động và hợp tác với bên ngoài.
hiện nền kinh tế mở để các địa phương, các vùng và các cơ sở sản xuất kinh
doanh có điều kiện hợp tác, liên doanh, khai thác tiềm năng thế mạnh để tạo
nguồn lực đẩy mạnh sản xuất. Tuy nhiên, cơ cấu về nông – lâm – ngư nghiệp
ở nước ta hiện nay chưa phù hợp. Tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp còn
chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng giá trị nông – lâm – ngư nghiệp. Do đó việc
18
chuyển dịch CCKT nông – lâm – ngư nghiệp cần phải tăng nhanh hơn tỷ trọng
lâm và ngư nghiệp.
1.2.1.2. Về quan hệ chuyển dịch giữa trồng trọt, chăn nuôi và ngành nghề
(quan hệ giữa các ngành của nông nghiệp theo nghĩa hẹp)
Đây là cơ cấu phản ánh mối quan hệ phát triển một cách toàn diện nhằm
đạt hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp theo nghĩa hẹp. Đặc điểm của
trồng trọt là có tính thời vụ cho nên phải phát triển chăn nuôi, ngành nghề là
vừa hỗ trợ cho trồng trọt phát triển như cung cấp phân bón, tiêu thụ sản phẩm.
Trên cở sở đó làm tăng mức thu nhập cho các hộ nông dân, nâng cao hiệu quả
kinh doanh nông nghiệp. Quan hệ này không những làm tăng hiệu quả kinh tế
mà còn góp phần bảo vệ, giữ thế ổn định cân bằng sinh thái, đảm bảo sự phát
triển bền vững của sản xuất nông nghiệp. Với nước ta như hiện nay thì giá trị
trồng trọt chiếm 60%, giá trị chăn nuôi chiếm 30% trong tổng giá trị sản phẩm
nông nghiệp. Như vậy giá trị ngành nghề còn ở mức thấp.
Vì vậy, chủ trương phát triển mọi ngành nghề, phát triển chăn nuôi, đưa
chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính là hoàn toàn đúng đắn: “Phát triển
và nâng cao chất lượng hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm, mở rộng phương
pháp chăn nuôi công nghiệp gắn với chế biến sản phẩn, tăng tỷ trọng ngành
chăn nuôi trong nông nghiệp”. Do vậy, CDCCKTNN theo mối quan hệ trồng
trọt – chăn nuôi và ngành nghề là tăng tỷ trọng, giá trị sản lượng của chăn nuôi
và ngành nghề trong CCKTNN.
1.2.1.3. Về quan hệ chuyển dịch giữa sản xuất nông nghiệp với các ngành
chế biến và dịch vụ (mối quan hệ giữa các ngành trong nội bộ ngành nông
phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ ở thành phố và các khu công
nghiệp còn ở mức độ khiêm tốn nên khả năng thu hút lao động nông thôn vào
các ngành nói trên còn nhiều hạn chế, nên tình trạng dư thừa lao động ở nông
thôn là khá lớn. Trong điều kiện đó việc phát triển mạnh mẽ công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn là quan trọng và cấp thiết, nó là biện
pháp có hiệu quả để sử dụng lao động dư thừa. Có thể nói thúc đẩy
CDCCKTNN, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn có tác
20
dụng “kép”, nó vừa có tác dụng sử dụng có hiệu quả hơn “toàn dụng” lao động
dôi dư ở nông thôn, vừa là phương hướng cơ bản dể CDCCKTNN theo hướng
CNH, HĐH ở nước ta.
1.1.3. Tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế phản ánh hai mặt lượng và chất trong mối tương quan tỷ lệ
giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế. Cho nên, khi đánh giá quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở một tỉnh thuần nông,
cần chú ý cả những quan hệ tỷ lệ về mặt lượng cũng như phân tích sự thay đổi
về chất của các mối tương quan ấy. Hơn nữa trong quá trình phân tích, đánh
giá không thể không chú ý đến những đặc điểm riêng của cơ cấu kinh tế. Đối
với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp ở một tỉnh
thuần nông cần chú ý tới các tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế bao gồm:
1.1.3.1. Cơ cấu hiện vật và giá trị trong GDP
Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới các ngành sản xuất phi vật thể phát
triển nó tạo ra nguồn thu nhập ngày càng lớn so với các ngành sản xuất khác;
mặt khác hầu hết các ngành, các nền kinh tế quốc gia là nền kinh tế mở cửa
với bên ngoài. Liên Hợp quốc dùng 2 chỉ tiêu là GDP và GNP để đánh giá quy
mô và tốc độ tăng trưởng của cải vật chất của mỗi quốc gia. Các nhà kinh tế
học hiện đại sử dông chỉ tiêu GDP như một trong những thước đo khái quát
nhất, phổ biến nhất để đo lường, đánh giá về tốc độ tăng trưởng, trạng thái và
đang làm việc trong nền kinh tế. Bởi vì phân tích cơ cấu lao động xã hội mới
là chỉ tiêu phản ánh sát thực nhất mức độ thành công của nền kinh tế – xã hội
của quá trình CNH, HĐH nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
nói riêng. Bởi vì CNH, HĐH, hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó, không phải chỉ
đơn thuần về sự gia tăng của lĩnh vực công nghiệp (ngày nay là công nghiệp
và dịch vụ) phải là quá trình CNH, HĐH đời sống xã hội con người. Trong đó
cơ sở quan trọng nhất là số lượng lao động đang làm việc trong lĩnh vực phi
nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng lực lượng lao động đang
22
làm việc trong nền kinh tế. Đặc biệt hơn khi tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn
đang chiếm tỷ lệ áp đảo.
1.1.3.3. Cơ cấu hàng xuất khẩu
Trong điều kiện một nền kinh tế đang phát triển theo hướng CNH, HĐH
nhất là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thì cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu
cũng được xem như một trong những tiêu chí cơ bản đánh giá mức độ thành
công của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp. Quy
luật phổ biến của quá trình CNH (đối với phần lớn các nước đang phát triển
hiện nay) xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, thì tỷ trọng trong cơ cấu
GDP và lao động nông nghiệp chiếm phần lớn lao động xã hội, và giá trị xuất
khẩu ít ỏi, phần rất lớn là sản phẩm nông nghiệp hoặc sản phẩm của công
nghiệp khai thác ở dạng nguyên liệu thô (chưa qua chế biến). Trong khi đó,
nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ quá
trình phát triển công nghiệp lại rất lớn nên tình trạng khan hiếm và thiếu hụt
ngoại tệ luôn là một điểm yếu mang tính kinh niên.
Hầu hết các nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa để trở thành một
nước công nghiệp phát triển đều cơ bản trải qua một mô hình chung trong cơ
cấu sản xuất và cơ cấu hàng xuất khẩu là: từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất
khẩu hàng sơ chế sang các mặt hàng công nghiệp chế biến, lúc đầu là các loại
sản phẩm của công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấp như
Như đã phân tích ở trên, cơ cấu kinh tế nông nghiệp được biểu hiện bằng
sự tương quan về số lượng và chất lượng của các mối quan hệ tương tác giữa
các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực nông
nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể. Cơ cấu này
phụ thuộc vào nhiều nhân tố đa dạng và phức tạp, đó là những nhân tố chủ
quan và khách quan sau đây:
1.2.1. Nhóm nhân tố về vị trí địa lý, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên
Cơ cấu kinh tế của một nước, một vùng, bao giờ cũng dựa trên ưu thế về
địa lý và khí hậu. Vì vậy, ở những vị trí địa lý khác nhau và vùng khí hậu
khác nhau thì việc xác định cơ cấu kinh tế cũng khác nhau. Nếu điều kiện