Phát triển du lịch thành phố Hà Nội Luận văn ThS. Kinh tế - Pdf 28


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GV LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỖ THỊ BÍCH HUỆ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ


Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Phan Huy Đường

HÀ NỘI- 2008

3 MỤC LỤC

Mở đầu 1
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch và phát triển du lịch 5
1.1. Khái quát chung về hoạt động du lịch ………………………………… 5
1.2. Vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân ……………… 18
1.3.Khái quát về tình hình phát triển của du lịch Việt Nam ……………… 22
1.4. Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số nước trong khu vực và
một số địa phương ở nước ta …………………………………………… 29
Chƣơng 2: Thực trạng phát triển du lịch ở thành phố Hà Nội
trong thời gian qua ……………………………………………………… 39
2.1. Tiềm năng phát triển du lịch ở thành phố Hà Nội …………………… 39
2.2. Tình hình phát triển ngành Du lịch thành phố Hà Nội …………………45
2.3. Đánh giá tình hình phát triển du lịch Thành phố Hà Nội thời gian qua …… 55
Chƣơng 3: Quan điểm, định hƣớng và giải pháp chủ yếu phát
triển du lịch thành phố Hà Nội ………………………………………… 66
3.1. Quan điểm, định hướng phát triển du lịch thành phố Hà Nội ………… 66

quyết hội nghị TW lần thứ 7 (khoá VII) đã chỉ rõ “phát triển mạnh du lịch,
hình thành ngành công nghiệp du lịch có quy mô ngày càng tương xứng với
tiềm năng du lịch ngày càng to lớn của nước ta” [10, tr.16]. Đây là một chủ
trương đúng đắn vừa phù hợp với xu thế phát triển chung của khu vực và thế
giới, vừa gắn với điều kiện thực tế, với tiềm năng và yêu cầu bức thiết vủa sự
phát triển đất nước ta. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng đã nhấn
mạnh: “phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; nâng
cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế và điều kiện
tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch

5
trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ của khu vực.
Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm,
đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước” [8, tr.178].
Thành phố Hà Nội là thủ đô, là một trong các trung tâm kinh tế – văn
hoá - xã hội của cả nước, là đầu mối giao lưu kinh tế giữa nước ta với các
nước Đông Nam Á và thế giới ở phía Bắc. Thành phố Hà Nội cũng là địa bàn
có lợi thế và tiềm năng du lịch rất lớn. Nhiều năm qua, hoạt động du lịch
thành phố đã đóng góp một phần rất lớn vào ngân sách thành phố nói riêng và
nền kinh tế nước ta nói chung.
Tuy nhiên, những năm gần đây, du lịch nước ta, trong đó có du lịch
Thành phố Hà Nội chưa thực sự thể hiện được là một ngành kinh tế năng động,
còn nhiều hạn chế và vấp phải nhiều thách thức đã được các cơ quan thông tấn,
báo chí khảo sát và đưa ra số liệu đáng lưu ý, như trong số du khách nước
ngoài đến Việt Nam chỉ có 14,5% du khách trở lại lần thứ hai và 13,5% du
khách trở lại lần thứ ba. Đây cũng là một trong các vấn đề buộc chúng ta phải
suy nghĩ, trong đó việc hoạch định chiến lược làm động lực cho du lịch phát
triển chưa được quan tâm.
Để nghiên cứu tiềm năng và sự phát triển của ngành du lịch Thành phố
Hà Nội với mục tiêu đưa ra những căn cứ khoa học và đề xuất những giải

lao động trong du lịch, tài nguyên và môi trường du lịch, nhu cầu của khách
du lịch… Việc đánh giá đúng thực trạng các tiềm năng, hoạt động du lịch để
đề ra phương hướng, giải pháp cho phát triển du lịch của Thành phố Hà Nội
thì còn khá mới mẻ, vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu. Dưới góc độ kinh tế
chính trị, luận văn cố gắng làm rõ những vấn đề đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là thông qua việc phân tích hoạt động
du lịch ở Thành phố Hà Nội những năm vừa qua để hoạch định phương hướng
và những giải pháp phát triển du lịch ở Thành phố Hà Nội những năm tới.
Để thực hiện mục đích đó luận văn thực hiện các nhiệm vụ:

7
- Đánh giá vai trò của du lịch và xu hướng vận động của du lịch trong
nền kinh tế hiện đại.
- Đánh giá về tiềm năng du lịch và ý nghĩa của phát triển du lịch đối
với Thành phố Hà Nội.
- Phân tích sự phát triển của du lịch Thành phố Hà Nội những năm vừa
qua, những vấn đề đặt ra hiện nay trên con đường phát triển của nó.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy phát
triển du lịch ở Thành phố Hà Nội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là phát triển du lịch Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu: tại địa bàn Thành phố Hà Nội năm 1991 đến
nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin,
kết hợp với phương pháp lôgic – lịch sử.
Vận dụng các chính sách của Nhà nước về vấn đề du lịch và phát triển
du lịch ở Việt Nam.
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp chung phổ biến trong nghiên

biến với tốc độ phát triển ngày càng nhanh. Hội đồng Lữ hành và du lịch quốc
tế (World Travel and Tourism Council – WTTC) đã khẳng định du lịch là
ngành kinh tế lớn nhất trên thế giới.
Trong phạm vi một quốc gia, du lịch là nguồn thu ngoại tệ lớn nhất
trong kinh tế đối ngoại, là một trong những ngành kinh tế hàng đầu, ngành
kinh tế mũi nhọn của nhiều nước.
Sở dĩ có xu hướng phát triển như vậy là vì du lịch đã, đang và sẽ trở
thành nhu cầu không thể thiếu, gắn liền với cuộc sống hàng ngày của hàng triệu
người. Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) thì “năm 2000 số lượng khách
du lịch toàn cầu là 698 triệu lượt người với doanh thu đạt được là 467 tỷ
USD; năm 2002 lượng khách là 716,6 triệu lượt với doanh thu là 474 tỷ USD;
dự tính đến năn 2010 sẽ có khoảng 1.006 triệu lượt khách du lịch với doanh
thu dự tính khoảng 900 tỷ USD”[12, tr.8].
Mặc dù hoạt động du lịch đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử và có tốc
độ phát triển ngày càng nhanh, song cho đến nay vẫn còn những nhận thức rất
khác nhau về du lịch và kinh tế du lịch.
Trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch
trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu
ở Khoa Du lịch và Khách sạn – Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội –
Việt Nam đã cho rằng:
“Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn
du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp,
nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm

10
hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi
ích kinh tế , chính trị – xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân
doanh nghiệp” [12, tr.20].
Tại điều 4, chương I, Luật Du lịch Việt Nam, thuật ngữ “Du lịch” được
hiểu như sau: “Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá

Thứ nhất, sự phát triển kinh tế làm nảy sinh nhu cầu du lịch. Khuynh
hướng đi du lịch chỉ nảy sinh và trở thành nhu cầu đối với những người mà
đời sống của họ được thoả mãn nhất định về ăn, ở, mặc. Du lịch đòi hỏi con
người phải có thời gian nhàn rỗi; nếu không được giảm thời gian làm việc,
không kéo dài thời gian nghỉ ngơi thì họ không thể thực hiện được các cuộc
hành trình du lịch tới những nơi danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử để giải
trí, nghỉ dưỡng…Nhu cầu du lịch chỉ nảy sinh khi xã hội phát triển ứng với
một trình độ kinh tế nhất định. Thống kê du lịch cho thấy số lượng khách đến
Đông Nam Á thường là những người thuộc các nước kinh tế phát triển, có
mức thu nhập bình quân đầu người cao.
Về khía cạnh văn hoá, quan hệ du lịch chỉ nảy sinh khi con người có
nhu cầu. Ngoài điều kiện kinh tế, yếu tố văn hoá đóng vai trò hết sức quan
trọng làm nảy sinh nhu cầu đó. Bởi vì, việc tìm hiểu và thưởng thức các danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử, đặc điểm dân tộc… Ở những nơi đến du lịch là
không thể có được đối với những người không có hoặc có trình độ văn hoá
thấp. Trong các nước mà dân cư có trình độ văn hoá cao thì số người đi du
lịch ra nước ngoài tăng lên với tốc độ cao và ngược lại.
Về khía cạnh chính trị, quan hệ du lịch liên quan mật thiết với bầu
không khí hoà bình ổn định và hữu nghị giữa các quốc gia. Các xung đột hoặc
bất đồng về chính trị giữa các nước, các dân tộc trực tiếp theo chiều hướng
bất lợi cho sự phát triển của du lịch quốc tế cũng như du lịch nội địa ở những
nước, dân tộc này. Sự ổn định và phát triển của các nước khu vực Đông Nam
Á là một bằng chứng về sự thu hút mạnh mẽ số lượng khách du lịch trong
nước và quốc tế.
Thứ hai, phải có nguồn lực phát triển du lịch

12
Nguồn lực phát triển du lịch là những tài nguyên có tiềm năng du lịch,
khả năng đón tiếp khách du lịch và những cơ hội để phát triển du lịch. Nguồn
lực phát triển du lịch gồm: nguồn lực nhân văn, nguồn lực thiên nhiên, nguồn

hoạt động kinh tế được thể hiện trong sản phẩm vô hình (phân biệt với hàng
hoá vật chất) như lưu trú, vận chuyển, dịch vụ tài chính, thông tin liên lạc, y tế
và các dịch vụ cá nhân khác. ngành dịch vụ được coi là ngành công nghiệp
thứ ba (ngành công nghiệp thứ nhất là nông nghiệp và khai khoáng, ngành
công nghiệp thứ hai gồm chế tạo và xây dựng). Sản phẩm lữ hành, du lịch,
lưu trú và ăn uống được tạo ra và cung cấp bởi ngành công nghiệp dịch vụ.
Sản phẩm du lịch theo nghĩa hẹp, là những gì du khách mua lẻ hoặc
trọn gói, ví dụ như: vận chuyển, lưu trú… Theo nghĩa rộng, sản phẩm du
lịch là tổng hợp những gì khách mua, hưởng thụ, thực hiện gắn với điểm du
lịch, trang thiết bị và dịch vụ. Nhìn từ góc độ du khách: Sản phẩm du lịch
bao trùm toàn bộ những gì phục vụ cho chuyến đi, tính từ khi rời khỏi chỗ
ở hàng ngày đến khi trở về nhà. Một chỗ trên máy bay, một phòng khách
sạn mà khách sử dụng là một sản phẩm du lịch riêng lẻ. Một tuần nghỉ ở
biển, một chuyến du lịch, một cuộc dự hội nghị là một snr phẩm du lịch
trọn gói, tổng hợp. Từ đó, có thể khái quát: Sản phẩm du lịch là toàn bộ
những đối tượng vô hình hoặc hữu hình do con người hoặc tự nhiên tạo ra
có khả năng cung ứng những hiệu năng và ích dụng nhằm đem lại những
thoả mãn thú vị cho du khách trong việc đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí
và những hoạt động khác của du khách.
Về hình thức tồn tại thì sản phẩm du lịch bao gồm những hàng hoá và
dịch vụ sau:
Thứ nhất là: Dịch vụ du lịch gồm: 1) Dịch vụ vận chuyển nhằm đưa
khách từ nơi cư trú đến các điểm du lịch, giữa các điểm du lịch và trong phạm
vi một điểm du lịch. Để thực hiện dịch vụ này người ta có thể sử dụng máy
bay, tàu hoả, tàu thuỷ, ô tô. 2) Dịch vụ lưu trú, ăn uống là dịch vụ đảm bảo
cho du khách nơi ăn, nghỉ trong quá trình thực hiện chuyến du lịch như: khách
sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, người quen… Ngoài ra, việc tạo ra dịch vụ lưu trú còn

14
bao gồm cả việc cho thuê đất để cắm trại và các hình thức tương tự khác. Để

lịch, thực phẩm, điện nước, thông tin liên lạc… Những hàng hoá này (dưới
dạng hàng hoá vật chất hoặc dịch vụ) đáp ứng những nhu cầu chung của du
khách được mua bán, trao đổi trên thị trường hàng hoá chung và trên thị
trường chỉ dành riêng cho du khách. Sản phẩm du lịch có những đặc thù sau:
Thứ nhất, trong lưu thông, sản phẩm du lịch không được di chuyển từ
nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, địa phương thường trú của khách hàng, tức là
không thể vận chuyển hàng hoá du lịch đến nơi có nhu cầu về du lịch. Việc
mua bán sản phẩm du lịch diễn ra đồng thời và chỉ được thực hiện khi người
tiêu dùng, với tư cách là du khách, vượt qua khoảng cách từ nơi ở đến các địa
điểm du lịch để tiêu dùng chúng. Muốn vậy, khách hàng phải tự lo cho
chuyến đi hoặc tìm đến các đại lý du lịch (Travel Agency). Do đó, trên thị
trường du lịch, xúc tiến và quảng bá du lịch đóng vai trò cực kỳ quan trọng,
trong những trường hợp nhất định, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của
một doanh nghiệp kinh doanh du lịch.
Thứ hai, trên thị trường du lịch, ngoài hàng hoá vật chất và dịch vụ, còn
có cả những hàng hoá vô hình không do lao động kết tinh tạo thành, đó là
những giá trị nhân văn, tài nguyên du lịch thiên nhiên. Những “sản phẩm”
này, sau khi bán rồi người chủ vẫn chiếm hữu nguyên giá trị sử dụng của
chúng, nếu biết trùng tu, bảo dưỡng phù hợp thì giá trị của nó còn tăng lên. Ví
dụ: cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, ánh sáng mặt trời, bãi biển…đã
“bán” rồi, sau đó vẫn tiếp tục được bán cho khách du lịch khác. Bởi vậy,
trong du lịch thường dùng khái niệm “xuất khẩu vô hình” hay “xuất khẩu tại
chỗ” đối với các hàng hoá dạng này.
Thứ ba, các sản phẩm du lịch nếu không được tiêu thụ, không bán được
sẽ không có giá trị và không thể lưu kho. Việc mua, bán, tiêu dùng sản phẩm
du lịch được gắn với không gian nhất định và thời gian cụ thể. Trên thị trường
du lịch, việc sản xuất, lưu thông và tiêu dùng sản phẩm được đồng thời diễn
ra tại cùng một địa điểm.
1.1.3. Các loại hình du lịch


25,5
1960
72,1

17
1970
168,4
1980
279
1991
450
(nguồn: 13, tr.51)
Ngoài yếu tố kinh tế, nhu cầu du lịch còn được tác động bởi sự thay đổi
lối sống. Nhiều người đã cho rằng đi du lịch là yếu tố quan trọng trong đời
sống của mình chứ không phải chỉ là để nghỉ ngơi. Du lịch đã trở thành một
hiện tượng xã hội, một “mốt” của thời đại. Quần chúng hoá du lịch đang trở
thành một xu hướng phổ biến.
Về phía cung, do đặc điểm du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp phục
vụ cho các nhu cầu nghỉ ngơi, đi lại, ăn uống, tham quan, giải trí của du
khách nên hàng hoá du lịch có tính đa dạng. Hàng hoá du lịch có thể là rất cao
cấp, nhưng cũng có thể rất dân dã như: hàng tiêu dùng thường ngày, các tặng
phẩm, đồ lưu niệm, đặc sản của nơi đến du lịch cùng với sự kích thích và
tính hấp dẫn của các khu, điểm du lịch cũng là một nhân tố rất quan trọng làm
tăng xu hướng số người đến du lịch.
So với các ngành khác, hoạt động của ngành du lịch có tỷ suất doanh
lợi cao, vốn đầu tư ít mà thời gian thu hồi vốn nhanh; vì thế số lượng đầu tư
vào du lịch ở nhiều nước ngày càng tăng lên nhanh chóng. Du lịch là một kiểu
sinh hoạt cao cấp, nên người đi du lịch thuộc bất kỳ đối tượng nào và với
nguồn tiền ra sao, thì mức tiêu dùng của họ vẫn cao hơn so với mức tiêu dùng
bình quân của đại bộ phận dân cư ở nước sở tại. Đấy là chưa kể đến một bộ

du lịch còn nhiều mới mẻ, thì xu hướng này đang là mối thách thức trong
cạnh tranh du lịch với các nước đã đi trước. Nó đòi hỏi các nước này phải có
chiến lược phát triển du lịch thích hợp, khai thác có hiệu quả tiềm năng và
lợi thế du lịch của mình; nó đòi hỏi trình độ kinh doanh du lịch phải được
sớm hoàn thiện và phát triển.
- Đa dạng hoá gắn liền với độc đáo hoá sản phẩm du lịch
Xu hướng đa dạng hoá và độc đáo hoá sản phẩm du lịch bắt nguồn từ
nhu cầu ngày càng cao và nhiều vẻ của khách du lịch. Những yêu cầu này

19
thường mang hình thức đặc thù, phụ thuộc vào phong tục tập quán, lịch sử, xã
hội và văn hoá của mỗi vùng, mỗi nước, và phụ thuộc vào chính sở thích của
mỗi khách du lịch. Dựa trên tiêu chí về hình thức đáp ứng nhu cầu người ta
chia sản phẩm du lịch thành hai nhóm: nhóm đáp ứng nhu cầu của sở thích cá
nhân và nhóm đáp ứng nhu cầu của tập thể hoặc công cộng. Tuy nhiên, dù
thuộc nhóm nào thì nhu cầu về sản phẩm du lịch cũng rất đa dạng.
Nhu cầu du lịch của khách thường hướng vào các dịch vụ chủ yếu như
dịch vụ đi lại, ăn uống, tham quan, vui chơi giải trí, giao tiếp… Xu hướng của
nhu cầu này thường dễ bị thay đổi do nhiều nguyên nhân như: thay đổi thời
tiết, thay đổi “mốt”, thay đổi động cơ du lịch, biến động tình hình kinh tế,
chính trị. Tuy nhiên trên thực tế cùng với tiến bộ về kinh tế – xã hội xu hướng
nhu cầu “sản phẩm” “hàng hoá” du lịch ngày càng trở nên đa dạng, phong
phú và ngày càng đòi hỏi phải được hoàn thiện. Các nhu cầu về sản phẩm du
lịch đặc sản và độc đáo cũng đang trở thành một xu hướng kích thích khách
du lịch. Đó là xu hướng của “cầu” du lịch.
Để đáp ứng xu hướng của “cầu” du lịch nói trên, sự tồn tại và phát triển
của “cung” về du lịch là tất yếu. Cung về du lịch là khả năng cung ứng du lịch
bao gồm toàn bộ hệ thống của cải và dịch vụ mà bộ máy du lịch đưa vào phục
vụ du khách.
Do tính chất tổng hợp của cầu “sản phẩm” du lịch, cung du lịch được

lịch còn là một hoạt động xã hội liên quan nhiều mặt đến chính trị, kinh tế,
văn hoá…; sự phát triển của nó phụ thuộc vào sự phát triển tổng hợp của
nhiều ngành nghề, đồng thời liên quan chặt chẽ với nhiều ngành liên quan.
Xã hội hoá và quốc tế hoá du lịch là những hình thức đặc thù của xã hội
hoá và quốc tế hoá sản xuất. Nó được quyết định bởi sự phân công lao động
xã hội và phân công lao động quốc tế. Tự bản thân lĩnh vực du lịch đã chứa
đựng những yếu tố của xã hội hoá và quốc tế hoá. Bởi vì sản phẩm du lịch

21
không phải chỉ riêng ngành du lịch sản xuất. Nó là kết quả tổng hợp của nhiều
ngành, của cả nền kinh tế.
Khách du lịch không phải chỉ là những người trong nước mà còn cả
người nước ngoài. Họ biết được các “hàng hoá” du lịch ở các địa điểm khác
nhau thông qua các phương tiện thông tin, quảng cáo của nhiều nước. Họ đi
đến các điểm du lịch để “mua” hàng hoá đó bằng các phương tiện vận chuyển
của các quốc gia. Các điểm du lịch “bán” hàng (đón tiếp và phục vụ) cho
khách cũng không chỉ thuần tuý có tính chất địa phương mà còn có cả những
quan hệ mang tính chất quốc tế.
Ngày nay cạnh tranh du lịch đã diễn ra trên mọi phương diện, kể cả thu
hút khách, vận chuyển đưa - đón khách, phục vụ và hướng dẫn khách. Nhu
cầu của khách du lịch ngày càng cao đòi hỏi các cơ sở phục vụ du lịch ngày
càng hoàn hảo. Những khách sạn 4 sao, 5 sao hoà hợp với thiên nhiên; các
khu liên hợp du lịch và các làng du lịch chất lượng cao cần được xây dựng;
các tuyến máy bay đường dài đảm bảo liên kết các điểm du lịch trong nước,
trong khu vực và trên thế giới đáp ứng số lượng du khách ngày càng tăng phải
được phát triển… Tất cả những yêu cầu đó đã và đang làm cho xu hướng xã
hội hoá và quốc tế hoá du lịch tăng lên nhanh chóng. Đây là một xu hướng tất
yếu, hợp quy luật.
Xu hướng xã hội hoá, quốc tế hoá đã và đang đưa lại tác dụng nhiều
mặt, đó là:

kinh tế du lịch một cách hợp lý, khoa học.
1.2. Vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân
1.2.1. Du lịch là ngành kinh tế quan trọng của đất nước
Nhiều nhà kinh tế cho rằng du lịch là một ngành “công nghiệp không
khói”. Với những tiềm năng du lịch và khả năng đón tiếp, phục vụ khách;
ngành này có lợi thế là khả năng tự tái sản xuất được (ánh nắng, cảnh quan, di
tích, các nền văn hoá và tập tục…); đồng thời, ở những điểm đến du lịch, du
khách sẽ tiêu thụ một khối lượng “sản phẩm” dưới dạng các món ăn, đồ uống

23
và mua các hàng hoá khác; ngành du lịch sẽ có thu nhập cao hơn so với việc
xuất khẩu sản phẩm đó vì sẽ bán theo giá nội địa, lại tiết kiệm được chi phí
bảo quản, đóng gói, vận chuyển ra nước ngoài.
Du lịch đã mang lại thu nhập ngày càng lớn cho xã hội. Hoạt động du
lịch thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp nhân dân
mang lại thu nhập không chỉ cho những đối tượng trực tiếp kinh doanh du lịch
mà gián tiếp đối với những ngành liên quan, xuất khẩu tại chỗ và tạo thu nhập
cho các cộng đồng dân cư địa phương. Tốc độ tăng trưởng nhanh về thu nhập
có thể thấy rõ trong báo cáo tóm tắt thành tích 45 năm xây dựng và trưởng
thành của ngành Du lịch Việt Nam là năm 1990 thu nhập xã hội từ du lịch
mới đạt 1.350 tỷ đồng thì đến năm 2004, con số đó đã là 26.000 tỷ đồng, gấp
20 lần. Riêng năm 2005, dù gặp nhiều khó khăn, song hoạt động du lịch vẫn
diễn ra sôi động. Ngành đã đón được 3,43 triệu lượt khách quốc tế, khách du
lịch nội địa đạt trên 16 triệu lượt người, thu nhập du lịch đạt 30 ngàn tỷ đồng,
vượt xa chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Đối với ngành Du lịch Hà Nội, năm 2007
tổng lượng khách du lịch đạt trên 6,6 triệu lượt với doanh thu đạt trên 15.000
tỷ đồng. Dự kiến năm 2008, tổng lượng khách du lịch đạt 7,67 triệu lượt với
doanh thu là 20.917 tỷ đồng [29, tr.10].
Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành Du lịch
trong khối ngành dịch vụ trong tổng thu nhập quốc dân. Ở đâu du lịch phát

Đối với những vùng lạc hậu, xa xôi hẻo lánh, kinh tế khó khăn không
thích hợp phát triển công nghiệp thì phát triển du lịch có ý nghĩa quan trọng
đến việc xoá đói giảm nghèo, đi dần đến làm giàu. Hơn nữa, khách du lịch
văn hoá ngày một đông, họ thường đi tham quan các danh lam thắng cảnh, di
tích lịch sử, văn hoá dân tộc. Vì vậy, việc tôn tạo, bảo dưỡng các di tích đó
ngày càng được quan tâm nhiều hơn.
1.2.3. Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động,
giảm tỷ lệ thất nghiệp

25
Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, có nhu cầu về lao động cao, cả về
lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Chính điều này có tác dụng lớn nhằm
giảm áp lực trong việc giải quyết công ăn việc làm cho Chính phủ, giảm tình
trạng thất nghiệp, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Theo như thống kê năm 2000 của thế giới, du lịch là ngành tạo việc làm
quan trọng. Tổng số lao động trong các hoạt động liên quan đến du lịch chiếm
10,7% tổng số lao động toàn cầu. Cứ 2,5 giây, du lịch lại tạo ra được một việc
làm mới, đến năm 2005 cứ 8 lao động thì có 1 người làm trong ngành du lịch.
Một buồng khách sạn từ 1 đến 3 sao trên thế giới hiện nay thu hút
khoảng 1,3 lao động trong các dịch vụ chính và khoảng 5 lao động trong các
dịch vụ bổ sung. Số lao động cần thiết trong các dịch vụ bổ sung có thể tăng
lên nhiều lần, nếu các dịch vụ này được nâng cao về chất lượng và phong phú
về chủng loại. Theo dự báo của WTO, năm 2010 ngành kinh tế du lịch sẽ tăng
thêm khoảng 150 triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương [30, 18/7/2007].
Ở Việt Nam, năm 2005, hoạt động du lịch đã tạo ra việc làm cho cho trên
234.000 lao động trực tiếp và khoảng 510.000 lao động gián tiếp cho nhiều
tầng lớp dân cư., đặc biệt là thanh niên mới lập nghiệp và phụ nữ [29, tr.9].
1.2.4. Du lịch còn góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ đối
ngoại, tăng cường hiểu biết và giao lưu kinh tế, văn hoá với các dân tộc và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status