1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TÂN KHẢI NHÂN BẢO VỆ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2013
3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn Tân Khải Nhân
4
MỤC LỤC
trong pháp luật Việt Nam
15
1.2.1.
Nội dung của việc bảo vệ quyền tự do kinh doanh
15
1.2.2.
Đặc điểm của bảo vệ quyền tự do kinh doanh
18
1.2.3.
Ý nghĩa của bảo vệ quyền tự do kinh doanh
20
1.3.
Những yếu tố tác động đến bảo vệ quyền tự do kinh doanh
22
1.3.1.
Thể chế chính trị
22
1.3.2.
Cơ chế quản lý kinh tế
23
1.4.
Bảo vệ quyền tự do kinh doanh trong pháp luật của một số
nước, những kinh nghiệm Việt Nam có thể tiếp thu
24
1.4.1.
Bảo vệ quyền tự do kinh doanh trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản
24
1.4.2.
Bảo vệ quyền tự do kinh doanh trong định hướng kinh tế thị
trường của Trung Quốc
tranh lành mạnh
50
2.2.
Những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về bảo
vệ quyền tự do kinh doanh, nguyên nhân của những hạn chế
54
2.2.1.
Pháp luật về bảo vệ quyền tự do kinh doanh có sự chồng chéo,
mâu thuẫn
54
2.2.2.
Một số quy định của pháp luật về bảo vệ quyền tự do kinh
doanh không có tính khả thi
56
2.2.3.
Một số quy định của pháp luật về bảo vệ quyền tự do kinh
doanh mang nặng dấu ấn của quản lý độc quyền hành chính
58
2.2.4.
Một số quy định của pháp luật về bảo vệ quyền tự do kinh
doanh chưa cân đối được quyền lợi cho các chủ thể tham gia
quan hệ pháp luật
59
2.2.5.
Quy định bảo vệ quyền tự do kinh doanh chưa đầy đủ, một số
quy định chưa tương thích với pháp luật quốc tế
61
2.3.
Nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong quy định của pháp
luật về bảo vệ quyền tự do kinh doanh
Việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền tự do kinh doanh
phải đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
72
3.2.2.
Việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền tự do kinh doanh phải
đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân
73
3.2.3.
Việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền tự do kinh doanh
phải đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
75
3.2.4.
Việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền tự do kinh doanh
phải phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế
76
3.3.
Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo vệ quyền
tự do kinh doanh ở nước ta hiện nay
76
3.3.1.
Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật về
doanh nghiệp, thương mại dịch vụ để đảm bảo sự thống nhất
trong các quy định về bảo vệ quyền tự do kinh doanh
76
7
3.3.2.
Phân biệt làm rõ tranh chấp thương mại và tranh chấp dân sự
doanh và cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra những thay đổi
đáng kể trong nhận thức xã hội về pháp luật. Số lượng doanh nghiệp phát
triển nhanh, các giao lưu thương mại bùng nổ theo cấp số nhân. Pháp luật, đặc
biệt là pháp luật về bảo vệ quyền tự do kinh doanh đã trở nên cấp thiết luôn
được Nhà nước chú trọng sửa đổi để phù hợp với vai trò bảo vệ và điều chỉnh
các hoạt động tự do kinh doanh.
Ngày 11/01/2007 Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), nói như tiến sĩ Lê Đăng Doanh đó là "một ngày
lịch sử của đất nước" và "vào WTO Việt Nam chấp nhận với mức cạnh tranh
cao hơn trên toàn cầu và sức mạnh cạnh tranh sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát
triển năng động hơn". Tiếp đó, với nhãn quan sắc bén tại Nghị quyết số 9-
NQ/TW ngày 9/12/2011 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của
đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập quốc tế đã đánh giá:
Trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ
trương, chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp, phát huy
vai trò của doanh nghiệp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước. Nhờ đó nhận thức về vai trò của đội ngũ doanh nhân có nhiều
chuyển biến tích cực [11].
Trong Nghị quyết đã đưa ra định hướng: "Đổi mới nội dung và
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp
(…) xây dựng đạo đức, văn hóa kinh doanh, quan hệ lao động hài hòa, thực
hiện tốt trách nhiệm xã hội, bảo đảm doanh nghiệp phát triển bền vững…" [11].
9
Bảo vệ quyền tự do kinh doanh ở nước ta hiện nay có sự tham gia của
rất nhiều các chủ thể, Đảng đưa ra định hướng để Nhà nước thiết lập những
cơ chế hữu hiệu nhằm bảo vệ, xây dựng và cổ vũ quyền tự do kinh doanh.
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, các
chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư được áp dụng đối với cả Nhà đầu tư trong
pháp luật kinh tế ở nước ta và các quan điểm đổi mới đưa pháp luật kinh tế
vào cuộc sống của PGS.TS Trần Trọng Hựu; Góp phần bàn về cải cách pháp
luật ở Việt Nam của PGS.TS Ngô Huy Cương; Các điều khoản độc quyền trong
Hợp đồng nhượng quyền thương mại của TS. Bùi Ngọc Cường; Về vị trí, tính
chất của Chính phủ trong bộ máy nhà nước ở nước ta của PGS.TS Vũ Hồng
Anh; Về thủ tục rút gọn trong quy trình lập pháp của PGS.TS Vũ Hồng Anh;
Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập
đến nhiều khía cạnh và các mức độ khác nhau về việc bảo vệ quyền tự do
kinh doanh. Tuy nhiên, môi trường kinh doanh, các hoạt động kinh doanh nói
riêng và sự vận động của xã hội là không ngừng. Do đó, việc tiên đoán, dự
liệu, phân tích chưa thể bao trùm toàn bộ hệ thống lý luận việc bảo vệ quyền
tự do kinh doanh. Bởi vậy, trên cơ sở khảo cứu các tư liệu quý của các học giả
trước đây, đồng thời bằng kiến thức của mình tác giả đề tài xin đóng góp một
số ý kiến để bổ sung vào hệ thống lý luận của việc "Bảo vệ quyền tự do kinh
doanh theo pháp luật Việt Nam".
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền tự do kinh doanh;
luận giải vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền tự do kinh doanh;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật về bảo vệ
quyền tự do kinh doanh.
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật
để bảo vệ quyền tự do kinh doanh.
11
4. Phạm vi nghiên cứu
Bảo vệ quyền tự do kinh doanh theo pháp luật Việt Nam là một vấn đề
rộng lớn bao gồm nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và pháp luật, tuy
nhiên, trong luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề mang tính lý
luận trong việc bảo vệ quyền tự do kinh doanh, cụ thể như sau:
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vẫn đề lý luận về bảo vệ quyền tự do kinh doanh
trong pháp luật Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyền tự do kinh doanh trong pháp luật
ở nước ta hiện nay.
Chương 3: Yêu cầu, giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về
bảo vệ quyền tự do kinh doanh ở nước ta hiện nay. 13
Chương 1
NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH, BẢO VỆ QUYỀN
TỰ DO KINH DOANH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm, nội dung của quyền tự do kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm kinh doanh
Ngay từ thời kỳ cổ đại con người đã biết đến các hoạt động giao
thương buôn bán, lịch sử nhân loại đã ghi nhận sự lớn mạnh của các các thành
bang thuộc vùng Hy Lạp, Địa Trung Hải, kéo theo đó là thương mại phát triển
vô cùng rực rỡ. Ở Châu Á việc giao thương buôn bán nổi tiếng với con đường
tơ lụa bắt đầu từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh (Trung Quốc) qua Mông
Cổ, Ấn Độ, Afghanistan, Kazakhstan, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, xung
quanh vùng Địa Trung Hải và đến tận châu Âu. Con đường cũng đi đến cả
Hàn Quốc và Nhật Bản. Nó có chiều dài khoảng 7 ngàn km, trải dài trên nhiều
vùng lãnh thổ rộng lớn.
chế độ, lĩnh vực khác nhau như kinh doanh trong nền sản xuất hàng
hóa giản đơn, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh
trong tư bản chủ nghĩa, kinh doanh trong xã hội chủ nghĩa, kinh
doanh trong công nghiệp, kinh doanh trong nông nghiệp, kinh
doanh vận tải… [9, tr. 12].
Tuy nhiên, dù phân chia thế nào thì về cơ bản mục đích của kinh
doanh là làm tăng thêm giá trị vật chất cho xã hội và đối với từng nhà kinh
doanh thì đó chính là lợi nhuận. Nhưng không bao gồm tất cả các hoạt động
kinh doanh, bởi nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhiều nhà kinh doanh đặt mục tiêu
phi lợi nhuận như: việc kinh doanh mang mục đích xã hội, giữ gìn, bảo vệ
những giá trị văn hóa…
15
Ở Việt Nam trước đây trong thời gian nền kinh tế được đặt trong cơ
chế, kế hoạch hóa, tập trung bao cấp. Chúng ta chỉ quen với các khái niệm: kế
hoạch năm năm lần thứ nhất, hợp tác, mậu dịch…còn khái niệm kinh doanh
rất ít được đề cập. Hiện nay, dưới quyết tâm đổi mới nền kinh tế đất nước,
phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, các hoạt động kinh doanh diễn ra thường xuyên, quyền kinh doanh
là một quyền Hiến định thì khái niệm kinh doanh không còn quá xa lạ đối với
đại đa số quần chúng nhân dân.
Khoản 2, Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa kinh doanh
như sau: "2. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các
công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung
ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" [40].
Như vậy, theo như khái niệm nêu trên thì kinh doanh được hiểu một
cách đầy đủ và đúng đắn bao gồm tất cả các hoạt động như: đầu tư, sản xuất,
trao đổi, dịch vụ nếu các hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi. Hoạt động
này không nhất thiết phải bao gồm tất cả các công đoạn để đạt kết quả cuối
cùng mà chỉ cần một trong các hoạt động nêu trên là đủ, miễn sao hoạt động
Đến thế kỷ XVII, XVIII các nhà tư tưởng, nhà cải cách lỗi lạc như
Locke, Rousseau… đã đưa ra học thuyết "pháp luật tự nhiên". Theo quan
niệm của thuyết này thì quyền con người là đặc quyền tự nhiên, đứng trên cao
hơn pháp luật nhà nước. Thuyết pháp luật tự nhiên ra đời để chống lại, phủ
nhận quyền lực, pháp luật của nhà nước quân chủ phong kiến, luật lệ của nhà
thờ thiên chúa giáo. Thuyết pháp luật tự nhiên mang giá trị nhân bản, nhân
đạo sâu sắc. Nó đưa ra những tư tưởng, nguyên tắc để bảo vệ quyền cá nhân
của con người trước quyền lực nhà nước.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng luôn đặt con người cũng
như quyền con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Quyền tự do của
con người là khái niệm mang tính lịch sử, hình thành và phát triển trong cuộc
đấu tranh giai cấp vì sự tiến bộ xã hội, chịu sự chi phối của chế độ kinh tế, chế
17
độ chính trị. Quyền tự do của con người phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước
và cá nhân. Với quan niệm đó quyền con người được xem là giá trị được nhà
nước ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật thì mới trở thành hiện thực.
Một mặt quyền con người mang thuộc tính tự nhiên, do đó không cần
ai ban tặng. Mặt khác, khi chưa được Nhà nước quy phạm hóa bằng pháp luật
thì các quyền con người chưa được xã hội thừa nhận. Vai trò của Nhà nước
chính là chỗ đáp ứng được nhu cầu về quyền cá nhân con người trong xã hội,
biết phát hiện nhu cầu hiện thực của việc xuất hiện quyền con người để sớm
thể chế hóa và bảo vệ bằng pháp luật.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, quyền con người ít được nói
đến, được mặc nhiên đồng nhất với quyền công dân. Việc đồng nhất như vậy
là chưa chính xác bởi vì quyền con người có nội hàm rộng hơn quyền công
dân, ví dụ như con người có thể bị hạn chế quyền công dân nhưng quyền con
người với tư cách là một thực thể tự nhiên thì họ không thể bị hạn chế. Bởi
vậy, không thể đồng nhất quyền con người với quyền công dân là một.
Nhận thức được rõ quy luật vận động, trong Hiến pháp năm 1992 của
khi thực hiện chức năng quản lý của mình phải tôn trọng, bảo vệ những quyền
của chủ thể kinh doanh. Hai mặt này tồn tại thống nhất trong chế định pháp lý
tự do kinh doanh. Nếu chỉ thừa nhận những quyền của chủ thể mà không bảo
đảm cho nó những điều kiện để thực hiện thì quyền đó cũng chỉ mang tính
hình thức. Sẽ không tồn tại quyền tự do kinh doanh của các chủ thể nếu nó
không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Đối với pháp luật nước ta, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử
cụ thể mà việc bảo vệ quyền tự do kinh doanh từng bước được hình thành và
quan trọng hơn nó trở thành một quyền Hiến định. Hiến pháp năm 1946 quy
định: "Quyền tư hữu tài sản của Công dân Việt Nam được bảo đảm" [28]. Tiếp
đó, Điều 18 Hiến pháp năm 1959 cũng quy định: "Nhà nước bảo hộ quyền sở
hữu của Công dân về của cải, thu về nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và
19
các thứ vật dụng riêng khác" [29]. Đến Hiến pháp năm 1980, những quy định
về sở hữu tài sản được thể hiện khá rõ ở Điều 27: "Nhà nước bảo hộ quyền sở
hữu của Công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh
hoạt, những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao
động riêng lẻ. Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân" [30]. Đặc
biệt, Hiến pháp 1992 quyền tự do kinh doanh và bảo vệ quyền này được quy
định cụ thể: "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp
luật" [32] và "công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để
dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong
doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác" [32].
Như vậy, tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của lịch sử thì trách
nhiệm bảo vệ quyền tự do kinh doanh được pháp luật từng bước thừa nhận.
Thực tế ở nước ta đã chứng minh việc bảo vệ quyền tự do kinh doanh góp
phần tạo đà tăng trưởng cho nền kinh tế đất nước. Kể từ sau khi đổi mới đến
nay có thể nói nền kinh tế nước ta đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, mọi
mặt trong đời sống xã hội đều thay đổi. Người dân được kinh doanh những gì
phạm quyền tự do kinh doanh ở nước ta hiện nay lại do chính cơ quan Nhà
nước tác động lên các chủ thể và trong nhiều trường hợp chính pháp luật lại là
rào cản lớn nhất cho hoạt tự do kinh doanh. Đơn cử như việc quy định về
năng lực nhà thầu trong đấu thầu, các đơn vị mời thầu tự đưa ra một số quy
định về năng lực nhà thầu để hạn chế bớt khả năng trúng thầu của các đơn vị
khác nhằm đưa những nhà thầu được chỉ định từ trước trúng thầu. Trong
trường hợp này, do pháp luật có quy định chưa rõ ràng về tiêu chí, năng lực
nhà thầu nên các đơn vị mời thầu sẽ lách qua khe hở của pháp luật, gây bất lợi
cho các chủ thể khác, đây chính là một dạng cạnh tranh không lành mạnh mà
rào cản lớn nhất lại xuất phát từ chính quy định của pháp luật.
Bên cạnh hình thức tự bảo vệ, pháp luật còn xây dựng thiết chế bảo vệ
quyền tự do kinh doanh bằng biện pháp hành chính. Với phương thức này thì
chủ thể có quyền yêu cầu, đề nghị cơ quan quản lý Nhà nước có biện pháp
ngăn chặn các chủ thể khác xâm phạm đến quyền tự do kinh doanh của mình.
21
Tuy nhiên, trên thực tế quyền tự do kinh doanh thường bị xâm phạm bởi
chính các cơ quan quyền lực của Nhà nước, ví dụ như hoạt động ghi mã
ngành trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ ghi
nhận ngành nghề kinh doanh có trong hệ thống mã ngành của Việt Nam mà
không ghi nhận những ngành nghề không có trong hệ thống. Đây là hành vi
xâm phạm nghiêm trọng quyền tự do kinh doanh, đối với việc này, giải pháp
tốt nhất đó là chính phủ phải chỉ đạo cơ quan có trách nhiệm bãi bỏ ngay
những quy định về ghi mã ngành, tôn trọng tiêu chí “công dân được làm
những gì pháp luật không cấm.
Mặt khác, ngoài việc thiết lập cơ chế bảo đảm cho công dân thực hiện
quyền tự do kinh doanh, nhà nước phải thiết lập các thiết chế bảo vệ quyền tự
do kinh doanh tránh sự vi phạm từ chính nhà nước, các cơ quan nhà nước, các
tổ chức xã hội, công dân, bởi vậy, việc xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp mà
trung tâm đó là Tòa án được hết sức chú trọng. Thông qua tòa án, các chủ thể
- Bảo vệ quyền tư hữu về tài sản
Quyền tư hữu về tài sản là một trong những quyền cơ bản, quan trọng
nhất của công dân nên pháp luật của bất kỳ quốc gia nào cũng có những quy
định để bảo vệ quyền tư hữu. Theo quy định của pháp luật nước ta hiện nay
thì việc bảo vệ quyền tư hữu được thực hiện ở hai mức độ. Một mặt, nhà nước
quy định phạm vi những quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản, tạo cơ sở
pháp lý vững chắc để chủ sở hữu tài sản thực hiện các quyền sở hữu của mình
một cách an toàn, đầy đủ nhất. Mặt khác, nhà nước quy định những biện pháp
pháp lý cụ thể để dựa vào đó, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp bảo vệ
quyền sở hữu của mình.
Quyền tư hữu được nhà nước và pháp luật bảo vệ bằng cách nó được
ghi nhận trong Hiến pháp và trở thành quyền hiến định. Bên cạnh đó, quyền
năng này còn được bảo vệ bằng các biện pháp dân sự, hình sự, hành chính.
Như vậy, nội dung quan trọng nhất của việc bảo vệ quyền tư hữu về tài sản là
pháp luật quy định những cơ sở pháp lý để chủ sở hữu thực hiện quyền sở
23
hữu, đồng thời cũng ghi nhận những biện pháp để dựa vào đó chủ sở hữu có
thể bảo vệ tài sản của mình.
- Bảo vệ quyền tự do thành lập doanh nghiệp
Với nguyên tắc tự do kinh doanh trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, việc thành lập doanh nghiệp được coi là quyền cơ
bản của nhà đầu tư. Tuy nhiên việc thành lập doanh nghiệp có tác động không
nhỏ đến lợi ích của xã hội. Vì vậy thành lập doanh nghiệp phải được thực hiện
trong khuân khổ của pháp luật. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì nội
dung của việc bảo vệ quyền tự do thành lập doanh nghiệp ở nước ta hiện nay
được ghi nhận theo các cách sau:
Một là, pháp luật đảm bảo quyền tự do kinh doanh của chủ đầu tư
như: mở rộng các đối tượng được thành lập doanh nghiệp, các nhà đầu tư
được phép lựa chọn loại hình, địa điểm, ngành nghề kinh doanh, đảm bảo
cạnh tranh diễn ra công bằng, hai là, những công cụ pháp luật được xây dựng
để kiểm soát chống độc quyền. Bởi vậy, nội dung bảo vệ quyền tự do cạnh
tranh chính là đảm bảo các điều kiện để cạnh tranh diễn ra lành mạnh và kiểm
soát chống việc độc quyền trong kinh doanh.
- Bảo vệ quyền tự do định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp
Dưới tác động của quy luật cạnh tranh và sự tự do hóa các hoạt động
kinh tế, mâu thuẫn phát sinh trong hoạt động kinh tế nảy sinh ngày càng
nhiều. Nội dung cơ bản của việc bảo vệ quyền tự do định đoạt trong giải
quyết tranh chấp được quy định trong pháp luật nước ta gồm các vấn đề chủ
yếu sau: pháp luật cho phép chủ thể tham gia quan hệ tranh chấp được tự do
thỏa thuận phương pháp giải quyết tranh chấp có thể bằng thương lượng, hòa
giải, thông qua trọng tài thương mại hoặc giải quyết tranh chấp bằng con
đường Tòa án.
25
1.2.2. Đặc điểm của bảo vệ quyền tự do kinh doanh
- Quyền tự do kinh doanh được bảo vệ bởi toàn bộ hệ thống pháp luật
nước ta
Toàn bộ hệ thống pháp luật của nước ta bao gồm tổng thể các quy
phạm pháp luật, mục tiêu, định hướng pháp luật đều đề cao vai trò vị trí của
việc bảo vệ quyền tự do kinh doanh. Trong hệ thống các quy phạm pháp luật
đều ghi nhận quyền của chủ thể khi tham gia các hoạt động kinh doanh, các
biện pháp bảo vệ quyền tự do kinh doanh khi bị xâm phạm. Bên cạnh đó, mục
tiêu và định hướng của pháp luật của nước ta hiện nay là hướng tới một xã hội
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền công dân và quyền con người,
mặt khác bảo vệ quyền tự do kinh doanh là một bộ phận hợp thành của quyền
công dân, do đó có thể khẳng định rằng quyền tự do kinh doanh được bảo vệ
bởi toàn bộ hệ thống pháp luật của nước ta.
- Quyền tự do kinh doanh được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật chuyên ngành
Ngoài việc quyền tự do kinh doanh được bảo vệ bởi toàn bộ hệ thống