Pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp. Luận văn ThS. Luật - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
––– o0o –––
NGUYỄN THỊ THU HÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TS. DOÃN HỒNG NHUNG
Hà Nội - 2013 MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH
LẬP DOANH NGHIỆP 9
1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của góp vốn thành lập doanh nghiệp
theo pháp luật Việt Nam 9
1.1.1 Khái niệm góp vốn 9
1.1.2 Bản chất pháp lý của góp vốn 12
1.2 Khái niệm, phân loại tài sản góp vốn 13
1.2.1 Khái niệm tài sản góp vốn 13
1.2.2 Phân loại tài sản góp vốn 17
1. 3 Lƣợc sử pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp 19
1.4.1 Giai đoạn trước năm 1986 19
1.4.2 Từ năm 1986 đến nay 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN 24
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 24
2.1 Pháp luật thực định về góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 24
2.1.1 Chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam 24
2.1.2 Hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp 28

BLDS năm 2005
Công ty THHH
Công ty THHH 1
Công ty THHH 2
KTTT
LDN năm 1999
LDN năm 2005
Bộ luật Dân sự năm 2005
Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Kinh tế thị trường
Luật Doanh nghiệp năm 1999
Luật Doanh nghiệp năm 2005
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những mốc quan trọng trong lịch sử pháp luật về doanh nghiệp của
Việt Nam là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 5
thông qua ngày 12/6/1999. Luật Doanh nghiệp năm 1999 thể hiện sự hợp nhất Luật
Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, hướng tới những cải
cách tương đối toàn diện về doanh nghiệp đánh dấu thời kỳ mở đầu thực hiện chủ
trương Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá đất nước cùng với việc hội nhập quốc tế.
Ở mức phát triển toàn diện hơn, Luật Doanh nghiệp năm 2005 được Quốc
Hội khoá X kỳ họp thứ 10 thông qua đã quy định đầy đủ hơn, rõ nét hơn về các vấn
đề liên quan đến việc góp vốn thành lập, kinh doanh và các hoạt động khác của

Hơn nữa, trong nền KTTT, lĩnh vực kinh tế tư nhân ngày càng được ưu tiên
phát triển. Việc làm ăn kinh doanh của người dân được thực hiện dưới hình thức
doanh nghiệp (pháp nhân) là một điều tất yếu và đang được khuyến khích thúc đẩy.
Trong bối cảnh đó, góp vốn kinh doanh trong nền KTTT ngày càng trở nên phức tạp
hơn. Việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định về góp vốn giúp cho các
chủ thể kinh doanh hiểu biết thêm kiến thức pháp luật và dễ dàng quyết định việc góp
vốn của mình một cách an toàn và hiệu quả hơn. Mặt khác, Nền KTTT xuất hiện
nhiều yếu tố kinh tế mới ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp như vấn đề “tài sản
ảo”, “giá trị thương hiệu”, những yếu tố này cần phải được hiểu rõ và phải được
pháp luật điều chỉnh theo xu hướng thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Góp vốn
thành lập doanh nghiệp tạo điều kiện cho phát huy nhiều năng lực sản xuất, tạo công
ăn việc làm cho người lao động. Các doanh nghiệp kinh doanh làm giàu cho cá nhân,
tổ chức. Dân giàu, nước mạnh là mục tiêu lớn mà Nhà nước ta luôn quan tâm.
Như vậy, pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp là mảng đề tài đã và
đang được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ. Việc nghiên cứu tổng quát các
quy định pháp luật về vốn, góp vốn, tài sản góp vốn giúp cho ta nhận thức rõ hơn
các quan điểm, quan niệm về các vấn đề này một cách có hệ thống và qua đó áp 3
dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả. Qua việc nghiên cứu các quy định này,
đặc biệt là quy định về tài sản góp vốn, pháp luật Việt Nam cần điều chỉnh theo xu
hướng đa dạng hóa các hình thức tài sản góp vốn.Tuy không còn là mới mẻ trong
công tác lý luận và thực tiễn cuộc sống, nhưng để nghiên cứu một cách toàn diện,
đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đất nước phát triển theo xu hướng toàn cầu hoá
nền kinh tế, thì việc nghiên cứu khía cạnh góp vốn thành lập doanh nghiệp càng trở
nên cần thiết.
Xuất phát từ các lý do nêu trên, đề tài nghiên cứu “Pháp luật Việt Nam về
góp vốn thành lập doanh nghiệp” tác giả nghiên cứu cố gắng đóng góp một phần
các yêu cầu mà lý luận và thực tiễn đang đặt ra.

dân sự năm 2005.
Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), “Công ty, vốn, quản lý và
tranh chấp theo luật doanh nghiệp năm 2005” Cuốn sách đáp ứng được các yêu cầu
mới từ khi Luật doanh nghiệp năm 2005 ban hành như: Những khái niệm và định
chế đã tồn tại ở các nước đã khá lâu mà nay do nhu cầu hội nhập chúng ta bị buộc
phải đem vào; việc thực hiện Luật Công ty kể từ năm 1990 đến nay đã để lại một số
thực tiễn mà bây giờ có thể trình bày để độc giả có thông tin áp dụng trong hoàn
cảnh của mình; Cuốn sách cũng đưa ra những sửa đổi của Luật doanh nghiệp năm
2005 so với Luật doanh nghiệp năm 1999.
Phạm Tuấn Anh (2009), “Góp vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt
Nam” Luận văn thạc sỹ luật học. Luận văn đã nghiên cứu một cách khái quát, có hệ
thống các vấn đề pháp lý về vốn góp, hình thức góp vốn, thực trạng pháp luật Việt
Nam về vấn đề góp vốn dựa trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành về góp
vốn thành lập doanh nghiệp và trên cơ sở tham khảo pháp luật của một số nước về
vấn đề này, Luận văn cũng đã đưa ra được một số định hướng cơ bản nhằm giải
quyết tồn tại của pháp luật về góp vốn thành lập công ty tại Việt Nam.
Hồng Vân (2009), “Góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam”, Luận
văn thạc sỹ Luật học. Luận văn đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận của pháp luật 5
về góp vốn nói chung và pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất nói riêng.
Qua đó, Luận văn đã đánh giá một cách toàn diện pháp luật Việt Nam về góp vốn
bằng quyền sử dụng đất. Luận văn đã đưa ra các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện
các quy định pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất; Hoàn thiện các quy
định pháp luật về thị trường bất động sản ở Việt Nam; Nâng cao năng lực quản lý
Nhà nước về đất đai; Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tuyên truyền phổ biến
giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả của việc góp vốn bằng quyền sử dụng
đất tại Việt Nam.
Ngoài ra, các công trình nghiên cứu chủ yếu được công bố dưới hình thức

Ba là, kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
góp vốn thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện
đại hoá đất nước.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Góp vốn thành lập doanh nghiệp là một đề tài có phạm vi rộng nên trong
khuôn khổ một luận văn thạc sỹ, chúng tôi sẽ tập trung vào nghiên cứu các đặc thù
của pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp như chủ thể góp vốn, thủ tục góp
vốn, hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp đối với loại hình doanh nghiệp là:
Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh theo Luật doanh
nghiệp Việt Nam năm 2005. Luận văn không nghiên cứu pháp luật về góp vốn đối
với các loại hình doanh nghiệp đặc thù như hợp tác xã, văn phòng Luật sư, các tổ
chức tín dụng hoặc các mô hình góp vốn liên doanh, liên kết khác.
Trong từng nội dung nghiên cứu, luận văn đưa ra nhận xét, đánh giá và kiến
nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về góp vốn thành lập doanh
nghiệp. Đặc biệt trong các hình thức góp vốn, luận văn đi sâu hơn phân tích hình
thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên nền tảng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn đã
sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu truyển thống kết hợp với phương
pháp nghiên cứu hiện đại, như: phương pháp thống kê tổng hợp, phương pháp so
sánh phân tích, phương pháp thu thập tài liệụ,… để hệ thổng, khái quát, phân tích, 7
tổng hợp, làm rõ và bình luận những nội dung nghiên cứu chính của đề tài, nằm đạt
được kết quả nghiên cứu tốt nhất.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Pháp luật việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp là một mảng đề tài
rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực tài sản, đất đai, đầu tư, thương mại, Khi tiếp
cận nghiên cứu, luận văn đi sâu vào những vấn đề có tính chất nguyên tắc và các
9
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của góp vốn thành lập doanh
nghiệp theo pháp luật Việt Nam
1.1.1 Khái niệm góp vốn
Trước khi nghiên cứu các quy chế về góp vốn, chúng ta cùng tìm hiểu các
quan điểm về vốn trong sản xuất kinh doanh đã được đề cập từ trước tới nay:
Theo quan điểm của lý thuyết kinh tế cổ điển và tân cổ điển: Vốn bao gồm
các sản phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ sản xuất (máy móc, thiết bị, phương
tiện, nhà xưởng sản xuất, văn phòng, nguyên vật liệu….). Nghĩa là vốn được nhìn
nhận dưới góc độ tài sản là hiện vật là chủ yếu. [31; Tr518-520]
Đứng trên quan điểm của nền kinh tế thị trường: Coi doanh nghiệp cũng là
hàng hoá. Giá trị của doanh nghiệp gồm giá trị hữu hình và giá trị vô hình. [65]
Như vậy, các quan niệm trên về vốn chỉ thể hiện được vai trò của vốn trong
những điều kiện lịch sử cụ thể, với các yêu cầu nghiên cứu cụ thể. Nhưng đứng trên
phương diện pháp lý về quản lý vốn hiện nay, các quan điểm này chưa đáp ứng
được yêu cầu về quản lý và hoạch toán vốn đối với doanh nghiệp.
Chúng ta có thể xây dựng hoặc quan niệm về vốn trong nền kinh tế thị
trường theo xu thế hội nhập thì vốn phải được hiểu bao hàm cả phương diện pháp lý
và phương diện kinh tế.
Về phương diện pháp lý: Vốn được hiểu và gắn liền với quyền và trách
nhiệm của chủ thể góp vốn, vốn có thể là một điều kiện bắt buộc để thành lập và
kinh doanh trong một số ngành nghề kinh doanh nhất định.
Về phương diện kinh tế: Vốn là một yếu tố không thể thiếu tham gia vào quá
trình kinh doanh dưới dạng tài sản để mang lại giá trị thặng dư; Vốn là một trong

11
thành lập công ty chỉ cần khai báo sẽ có bao nhiêu vốn chứ không bị bắt buộc phải
có một số vốn nhất định như trước.
Từ khái niệm về vốn, có thể hiểu một cách chung nhất góp vốn là sự đóng
góp của hai hay nhiều đối tác để tạo nên số vốn nhất định. Do việc góp vốn liên
quan đến quyền lợi riêng hoặc quyền lợi chung của các thành viên góp vốn nên việc
góp vốn có nhiều vấn đề phức tạp dễ dẫn tới nguy cơ như đồng vốn không sinh lời,
thâm hụt thậm chí mất vốn và nghiêm trọng hơn còn dẫn tới tranh chấp về đồng vốn
góp. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta vẫn thường thấy có rất nhiều hình thức
góp vốn từ buôn bán nhỏ lẻ cho đến mở công ty kinh doanh hoặc là “hùn vốn” buôn
bán, “khoán trắng” vốn cho người khác hoặc góp vốn vào công ty hay góp vốn để
thành lập Công ty.
Có thể thấy “góp vốn” là một khái niệm rất thông dụng trong đời sống dân sự
cũng như trong quy định pháp lý. Từ khi Luật Công ty năm 1991 ra đời, khái niệm
này đã được nghi nhận một cách rõ nét và cụ thể hơn.
Tại Điều 9 Luật Công ty năm 1991 đã quy định:“Phần vốn góp của mỗi
thành viên có thể bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, tài sản bằng hiện vật hoặc
bản quyền sở hữu công nghiệp. Phần vốn góp bằng hiện vật hoặc bản quyền sở hữu
công nghiệp phải được đại hội đồng thành lập xem xét, chấp thuận, định giá và
được ghi vào điều lệ công ty; Phần vốn góp này phải được nộp đầy đủ ngay sau khi
công ty chính thức thành lập”
Theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999: “Góp vốn là việc đưa tài sản vào
công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản
góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử
dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác
ghi trong điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”
Theo Điều 4 khoản 4 Luật Doanh nghiệp 2005: “Góp vốn là việc đưa tài sản
vào công ty để trở thành chủ sở hữu chung của Công ty. Tài sản góp vốn có thể là

tài sản hay đưa tài sản riêng của mình vào công ty sử dụng chung nhằm mục đích 13
kiếm lời. Hành vi tự nguyện chuyển giao tài sản này không phải là hành vi cho thuê
tài sản hay bán tài sản. Khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản hay quyền sử dụng, thì
người chuyển giao có được một quyền lợi từ việc bán hoặc cho thuê là một khoản
tiền nhất định từ giá bán hay giá thuê. Còn trong hành vi góp vốn thì người góp vốn
không nhận được bất kể khoản tiền nào từ việc góp vốn đó. [22; tr. 49-52]
Như vậy, góp vốn là việc một người thông qua hành vi chuyển quyền sở hữu
tài sản hoặc quyền sử dụng của mình cho công ty để đổi lấy một số quyền lợi nhất
định từ công ty hay trở thành chủ sở hữu đối với phần vốn góp của mình vào công
ty đó. Góp vốn phải được phân biệt với phần vốn góp. Phần vốn góp là tổng giá trị
các tài sản của chủ thể góp vào công ty.
1.2 Khái niệm, phân loại tài sản góp vốn
1.2.1 Khái niệm tài sản góp vốn
Tài sản là một khái niệm khá phổ biến trong đời sống hàng ngày. Điều 172
BLDS năm 1995 quy định: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được
bằng tiền và các quyền tài sản”
Khái niệm tài sản được quan niệm rộng hơn và cụ thể hơn trong Điều 163
Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và
các quyền tài sản”
Khái niệm tài sản quy định trong BLDS năm 2005 đã mở rộng hơn BLDS
năm 1995 về đối tượng nào được coi là tài sản, không chỉ những “vật có thực” mới
được coi là tài sản mà cả những vật hình thành trong tương lai cũng có thể được coi
là tài sản.
BLDS năm 2005 không định nghĩa trực tiếp vật hình thành trong tương lai,
song tại Điều 320 khi quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đã viết: “Vật
dùng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của Bên bảo đảm
và được phép giao dịch. Vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện

thế nào là động sản. Quan niệm này cũng chưa chỉ ra bản chất của tài sản, thậm chí
khi nói đến quyền tài sản thì không biết để vào động sản hay bất động sản. 15
Như vậy, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, BLDS năm
1995 trước đây cũng như BLDS năm 2005 hiện hành đều dựa vào tiêu chí tài sản là
đối tượng của quyền sở hữu phải trị giá được bằng tiền và có thể được đưa vào giao
lưu dân sự. Trên tinh thần đó, Điều 163 BLDS năm 2005 đã liệt kê các loại tài sản
là đối tượng của quyền sở hữu bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài
sản. Diễn giải chi tiết điều này, cuốn Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005
do PGS.TS Hoàng Thế Liên làm chủ biên đã giải thích:
1.Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, bao gồm cả động vật, thực vật, vật với ý
nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí). Vật được coi là tài sản phải là vật hữu
hình, cảm nhận được bởi năm giác quan của con người và chiếm giữ một phần trong
không gia. Vật được coi là tài sản khi vật đó đáp ứng được một nhu cầu nào đó về
vật chất hoặc tinh thần của con người. Tuy nhiên không phải bộ phận nào của thế
giới vật chất cũng đều được coi là vật. Có những bộ phận của thế giới vật chất ở
dạng này thì được coi là vật, nhưng ở dạng khác thì không được coi là vật. Ví dụ
Oxi là một bộ phận của thế giới vật chất, đáp ứng được một nhu cầu rất quan trọng
của con người là để thở, nhưng nếu ôxi còn ở dạng không khí chung thì chưa thể coi
đó là đối tượng của quyền sở hữu. Chỉ khi ôxi được cho vào bình, tức là con người
có thể nắm giữ, quản lý được thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và mới có thể
trở thành một tài sản được pháp luật điều chỉnh.
2. Tiền theo quy định tại Điều số 63, BLDS năm 2005, tiền là một trong những loại
tài sản. Có thể đồng ý với quan điểm khi phân biệt đặc điểm pháp lý khác nhau giữa
tiền với vật. Hai loại tài sản này khác nhau ở những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất: vật có thể do nhiều chủ thể khác nhau tạo ra, còn tiền thì chỉ có
Nhà nước độc quyền phát hành. Ở mỗi một quốc gia khác nhau, Nhà nước ban hành
một loại tiền nhất định và được coi là đại diện cho chủ quyền của một quốc gia.

chuyển giao tài sản, quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá,…Các quyền này phải đáp ứng yêu cầu trị
giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự. Khác với vật
là tài sản hữu hình, quyền tài sản là tài sản vô hình”. [6;Tr 356-366]
Nghiên cứu về khái niệm “quyền tài sản” bằng cách gắn kết Điều 163 quy
định về tài sản “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” và 17
Điều 181 BLDS năm 2005 “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể
chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”.Từ các quy định ta
có thể khẳng định quyền tài sản trước hết là tài sản và phải đáp ứng đủ hai điều
kiện: Phải trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao cho người khác trong giao
dịch dân sự. Tuy nhiên quy định này không đúng trong mọi trường hợp. Tất cả
những quyền không đáp ứng được hai điều kiện này thì không được coi là tài sản.
1.2.2 Phân loại tài sản góp vốn
Từ các lập luận nêu tại phần 1.2.1 trang 11 của luận văn, có thể phân loại
quyền tài sản như sau: Quyền đối vật và quyền đối nhân. Quyền đối với vật được
biểu hiện như quyền cầm cố, quyền thế chấp, quyền hưởng hoa lợi,… Quyền đối
nhân của một người thường tương ứng với nghĩa vụ tài sản của người khác. Ví dụ
quyền yêu cầu người khác phải làm là một việc hoặc không phải làm một việc.
Hoặc cũng có thể hiểu quyền tài sản là một loại tài sản vô hình. Để tồn tại
với ý nghĩa là một tài sản vô hình, các tài sản vô hình ngoài việc đáp ứng hai điều
kiện được quy định tại điều 181 BLDS năm 2005, cần phải có một số đặc điểm sau
đây:
Một là, tài sản vô hình cần phải nhận dạng được. Việc nhận dạng tài sản vô
hình có thể thông qua một số chứng cứ hữu hình để có thể mô tả được loại tài sản
vô hình đó. Ví dụ một sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật khoa
học, mới chỉ hình thành trong ý nghĩ của người sáng tạo thì chưa coi là tác phẩm và
người đó chưa được pháp luật bảo vệ quyền tác giả. Chỉ khi người có ý nghĩa sáng

Có thể thấy việc liệt kê các tài sản góp vốn như Luật Doanh nghiệp năm
2005 của Việt Nam là không thực tế và còn có nhiều hạn chế. Các quy định này
không làm sáng tỏ hơn các qui định về tài sản trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm
2005. Theo pháp luật Việt Nam, tài sản góp vốn chủ yếu là “vật chất liệu” còn các
quyền tài sản cũng được nhắc tới nhưng rất mờ nhạt. Do đó, việc góp vốn bằng
quyền tài sản còn gặp nhiều khó khăn trên thực tế do chưa có những quy định cụ thể
và hợp lý. Ngoại trừ quyền sử dụng đất là một loạt vật quyền thông dụng và phổ
biến trong đời sống dân sự đã được nhiều văn bản pháp lý chuyên ngành quy định 19
khá rõ ràng. Song cho đến thời điểm này, việc áp dụng các quy định của pháp luật
về góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào thực tiễn vẫn còn chứa đựng nhiều bất cập.
Như vậy, tài sản bao gồm tiền hiện vật (hiện vật ở đây được hiểu theo nghĩa
rộng nhất bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình). “hiện vật” phải mang lại
lợi ích cho con người đồng thời trị giá được bằng tiền.
1.3 Lƣợc sử pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập doanh
nghiệp
Trong lịch sử lập pháp ở Việt Nam, pháp luật về doanh nghiệp cũng đã hình
thành từ rất sớm. Có thể khái quát sự hình thành và phát triển các quy định pháp
luật về vấn đề góp vốn thành lập doanh nghiệp thành hai giai đoạn: Giai đoạn trước
năm 1986 và giai đoạn từ năm 1986 đến nay.
1.3.1 Giai đoạn trƣớc năm 1986
Do hoàn cảnh lịch sử đất nước thời kỳ đầu đặc biệt những năm trước 1945,
khi triều đình Nhà Nguyễn còn tồn tại song song với ách đô hộ của thực dân Pháp
xâm lược đất nước, tình hình kinh tế đất nước còn quá nghèo nàn lạc hậu, nhìn
chung hệ thống pháp luật không phát triển, pháp luật về kinh doanh, kinh tế cũng
chịu ảnh hưởng trong giai đoạn đó. Tuy nhiên khi nói đến thời kỳ này về khía cạnh
lập pháp, pháp luật nước ta chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống pháp luật của nước
Pháp. Tại các Bộ Luật Dân sự Bắc kỳ năm 1931 và Bộ Luật Dân sự Trung kỳ năm


Xuất phát từ hình thức sở hữu của Nhà nước (tức là của toàn
dân) về tư liệu sản xuất là chủ yếu và hình thức sở hữu của hợp tác xã (tức là hình
thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động) là chủ yếu nên nền kinh tế thời kỳ này
chưa khởi sắc. Tuy nhiên tại Điều 25 Hiến pháp có nhắc tới quyền công dân “Công
dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội
họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để
công dân được hưởng các quyền đó”. Quyền tự do lập hội lần đầu tiên được đề cập
trong bản Hiến pháp này.
Sau khi thống nhất đất nước (năm 1975), nền kinh tế bắt đầu được phục hồi.
Bản hiến pháp năm 1980 tiếp tục quy định các quyền công dân trong đó có quyền tự
do kinh doanh (tự do lập hội). “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do 27

Trích đoạn Những khó khăn, tồn tại trong hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp Nguyên nhân của những khó khăn và tồn tại Hoàn thiện các quy định pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp Hoàn thiện pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status