SKKN Giảm tỉ lệ học sinh yếu kém môn vật lý lớp 12 thông qua việc hướng dẫn học sinh học tổ, nhóm - Pdf 28

Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Điều 28.2 của Luật Giáo dục đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập
cho học sinh”
Tuy nhiên, với đối tượng học sinh của trường đa số là học sinh yếu kém, các em ít tự
giác học tập, do đó vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để các em chịu học, tự học để có kiến
thức thì sẽ làm bài đạt hiệu quả. Theo chúng tôi để các em chịu học và tự học thì giáo viên
phải là người hướng dẫn cho các em học cách học, giao việc cụ thể cho các em và phải có
biện pháp kiểm tra đánh giá. Đồng thời, phối hợp tổ chức cho các em thi đua với nhau trong
học tập. Giáo viên là người theo dõi sự tiến bộ của các em động viên khen trưởng kịp thời
nhằm hướng các em ý thức tự học và để giúp các em học sinh lớp 12C2 Trường THPT
Nguyễn Trung Trực học tổ, nhóm môn Vật lí đạt hiệu quả. Ngay từ đầu năm học chúng tôi
nhận thấy lớp có phong trào học tổ nhóm, vào các ngày thứ bảy, chủ nhật có một số em vào
trường học nhóm. Hơn nữa lớp có một số em rất siêng học và học rất khá môn Vật lí. Đó
cũng chính là cơ sở để tôi thực hiện đề tài này.
Học tổ nhóm là một trong những hình thức tự học, mà các em cùng một nhóm, có thể
là nhóm bạn thân, nhóm bạn gần nhà, có cùng mục đích là học tập để cùng tiến bộ. Đây là
hình thức học tập mà học sinh không phải đối mặt với thầy cô, nên tâm lý học tập nhẹ nhàng,
thoải mái, chủ động hỏi bạn bè cùng nhóm khi chưa rõ, chưa hiểu, chưa làm được. Các em
khá trong nhóm có điều kiện trao đổi với nhau về các bài toán khó, học hỏi lẫn nhau. Những
học sinh khá giỏi trong lớp cùng luyện tập với các học sinh yếu hơn và đảm nhận trách nhiệm
của người hướng dẫn. Tất cả thành viên trong nhóm đều được lợi, học sinh yếu được giúp đỡ.
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương là hai lớp 12C2, 12C3 trường
THPT Nguyễn Trung Trực trong năm học 2014-2015. Lớp thực nghiệm là lớp 12C2 được
thực hiện giải pháp thay thế qua việc giáo viên Phan thị Kim Huê hướng dẫn cho học sinh học
tổ nhóm trước khi thi học kì I. Lớp đối chứng là lớp 12C3 do giáo viên Ngô Hoàng Đức giảng
dạy, không thực hiện việc hướng dẫn cho học sinh học tổ, nhóm.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 1

Còn đa số học sinh yếu kém rất ít khi hỏi thầy cô hoặc thắc mắc vấn đề gì. Mặc dù các em
yếu kém có thể vẫn chưa hiểu bài, chưa tự làm được bài tập. Một phần các em sợ hỏi thầy cô,
thầy cô hỏi lại kiến thức cũ thì phát hiện chỗ hỏng kiến thức của các em. Bởi thế, trong dân
gian có câu " Học thầy không tài học bạn". Trong thực tế các em học sinh yếu kém thường
hỏi bạn bè học khá hơn khi không hiểu bài hoặc không làm được bài tập mà nhất là các em
thường trao đổi với các bạn cùng nhóm hoặc bạn thân.
2. Nguyên nhân
Đầu vào học sinh của trường là yếu, mà đã yếu kém thì các em thường bị hỏng kiến
thức ở các lớp dưới, lười học, ít tự học ở nhà, không có khả năng tự giải bài tập, do đó các em
thường không hoàn thành các yêu cầu hướng dẫn tự học ở nhà của giáo viên Trong đó, có
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 3
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
nguyên nhân giáo viên giảng dạy không hướng dẫn học sinh việc tự học và học tổ nhóm ở
nhà.
3. Giải pháp thay thế
Để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy và giúp các em học sinh yếu kém tiến bộ trong
học tập, Tôi đã nghiên cứu đề tài: “Giảm tỉ lệ học sinh yếu kém môn vật lý lớp 12 thông qua
việc hướng dẫn học sinh học tổ, nhóm”, nhằm đưa ra các giải pháp giúp học sinh lớp 12
phương pháp tự học, phương pháp học tập bộ môn đạt hiệu quả, tự học tổ nhóm và các em
học sinh khá giỏi trong lớp giúp đỡ bạn cùng tiến bộ trong học tập để đạt kết quả cao hơn
trong các kỳ thi sắp tới.
Vấn đề nghiên cứu:
Hướng dẫn học sinh lớp 12 học tổ, nhóm môn Vật lí có làm giảm tỉ lệ học sinh yếu
kém lớp 12C2 của trường THPT Nguyễn Trung Trực hay không?
Giả thuyết nghiên cứu:
Việc hướng dẫn học sinh lớp 12 học tổ, nhóm môn Vật lí có làm giảm tỉ lệ học sinh
yếu kém lớp 12C2 của trường THPT Nguyễn Trung Trực.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 4
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
III. PHƯƠNG PHÁP

năm giảng dạy lớp 12 cuối cấp. Giáo viên có lòng nhiệt huyết, nhiệt tình, có trách nhiệm cao
trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh.
* Phân công thực hiện:
- Giáo viên Phan Thị Kim Huê: Dạy lớp thực nghiệm, hướng dẫn học sinh học tổ
nhóm. Viết báo cáo tiến trình thực hiện.
- Giáo viên Ngô Hoàng Đức: Dạy lớp đối chứng, chuẩn bị đề kiểm tra, tiến hành cho
học sinh kiểm tra trước tác động, chấm bài kiểm tra, báo cáo điểm số. Thu thập dữ liệu kết
quả học sinh trong năm học trước. Lập bảng điểm lớp thực nghiệm và đối chứng.
2. Thiết kế nghiên cứu
Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương:
Chọn hai lớp 12C2 và 12C3 là hai lớp của trường THPT Nguyễn Trung Trực. Lớp
12C2 là lớp thực nghiệm, lớp 12C3 là lớp đối chứng. Lấy kết quả bài kiểm tra 1 tiết của cả hai
lớp để làm bài kiểm tra trước tác động.
Bảng 3. Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương bằng T-Test độc lập
Đối chứng Thực nghiệm
TBC 4,54 4,6
p = 0,85
Giáo viên sử dụng kết quả bài kiểm tra này và nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm
chứng T-test độc lập ở bài kiểm tra trước tác động p=0,85 >0,05. Kết quả kiểm tra cho thấy
điểm trung bình của cả hai nhóm và còn suy ra sự chênh lệch điểm trung bình của 2 nhóm
Thực Nghiệm và Đối Chứng trước tác động là không có ý nghĩa. Kết luận được kết quả học
tập của 2 lớp trước tác động là tương đương nhau.
Sau đó giáo viên dạy lớp 12C2 tiến hành tác động hướng dẫn học sinh học tổ nhóm
trước khi thi học kỳ I và lấy kết quả bài thi học kỳ I (đề của Sở GD&ĐT Tây Ninh) làm bài
kiểm tra sau tác động. Cụ thể:
- Bài kiểm tra trước tác động, giáo viên ra một đề cho hai lớp cùng làm.
- Bài kiểm tra sau tác động: Đề thi học kỳ I của Sở GD&ĐT Tây Ninh (đề chung cho
cả tỉnh)
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 6
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

(Kèm theo phụ lục số 1)
4. Đo lường và thu thập dữ liệu
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 7
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Lấy kết quả bài kiểm tra 1 tiết 30 câu, 45 phút là kết quả bài kiểm tra trước tác động.
Bài kiểm tra sau tác động là bài thi học kỳ I là đề chung của Sở GD&ĐT, đề thi gồm 40 câu
hỏi trắc nghiệm khách quan.
Quy trình kiểm tra và chấm bài kiểm tra:
Ra đề kiểm tra: Ra đề kiểm tra 1 tiết và đáp án, sau đó lấy ý kiến đóng góp của các
giáo viên trong tổ Vật lí để bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp.
Tổ chức kiểm tra hai lớp cùng một thời điểm, cùng đề. Sau đó tổ chức chấm điểm theo
đáp án đã xây dựng .
Đề thi học kỳ I do nhà trường chấm bằng máy sau đó thông báo kết quả.
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
Phân tích dữ liệu
Bảng 5: So sánh điểm trung bình sau khi tác động:
Đối chứng Thực nghiệm
Điểm trung bình 4,9 5,83
Độ lệch chuẩn 1,01 1,24
Giá trị p của T-test 0,0002
Chênh lệch giá trị
trung bình chuẩn SMD
0,92
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 8
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

Biểu đồ so sánh kết quả điểm trung bình giữa hai lớp trước và sau tác động.
Như đã chứng minh ở bảng 3, kết quả hai nhóm trước tác động là tương đương.
Dựa vào bảng so sánh điểm trung bình sau tác động cho thấy: Bằng biện pháp hướng
dẫn học sinh 12 ôn tập trắc nghiệm với kiểm chứng điểm trung bình bằng T-test cho kết quả p

Kết luận:
Việc hướng dẫn học sinh lớp 12 học tổ, nhóm môn Vật lí thông qua: Phân loại các
đối tượng học sinh trong lớp, tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu kém, hướng các em vào
các nhóm thích hợp. Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà và phương pháp học tập bộ môn.
Giao nhiệm vụ cho các tổ nhóm và hướng dẫn học sinh thực hiện học tổ nhóm, kết hợp với
sự kiểm tra của giáo viên

đã làm giảm tỉ lệ học sinh yếu kém, tăng kết quả học tập của học
sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Trung Trực.
Để nâng cao hiệu quả giảng dạy, giáo viên phải là người chịu khó, kiên trì, không nản
lòng trước sự chậm tiến của học sinh, phải biết phát hiện ra sự tiến bộ của các em dù là rất
nhỏ để kịp thời động viên khuyến khích, làm niềm tin cho các em tiến bộ hơn trong học tập.
Khuyến nghị:
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 10
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Đối với các cấp lãnh đạo cần quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất như: Trang thiết bị
máy tính có kết nối Internet cho mỗi tổ bộ môn, máy phôtô… để có thể hỗ trợ giáo viên phôtô
tài liệu phục vụ cho việc ôn tập cho học sinh.
Đối với giáo viên: Tích cực tự học, tự bồi dưỡng về công nghệ thông tin, biết khai thác
thông tin trên mạng Internet để sưu tầm các tài liêu ôn tập vừa sức với các em. Cập nhật các
đề thi theo hướng mới để các em có dịp tiếp cận các dạng đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo
trong kì thi Tốt nghiệp – Đại học sắp tới.
Với kết quả của đề tài này, chúng tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp cùng trường
quan tâm, chia sẻ, vận dụng để hướng dẫn cho học sinh toàn khối 12 của trường học tổ, nhóm
đạt hiệu quả nhằm nâng cao tỉ lệ thi Tốt nghiệp – Đại học của học sinh.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 11
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng - Bộ giáo dục và đào tạo - Cựu nhà giáo
cán bộ quản lý cơ sở giáo dục.

Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 13
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Nhóm 2 gồm 10 học sinh: La Quốc Hưng nhóm trưởng, Nguyễn Thị Kiều Phương
nhóm phó, Trọng Hồng phúc, *Thành Tài, Tuyết Sang, *Tuấn Thiện, *Kiều Oanh, *Thanh
Trúc, Đắc Thịnh, Kim Thơ. Nhóm có 4 bạn HS yếu kém.
Nhóm 3 gồm 11 học sinh: Huỳnh Văn Trung Tính nhóm trưởng, Phạm Văn Sang
nhóm phó, *Thanh Vân, Hiếu Vinh, *Hoàng Vĩnh, Thúy Vy, *Bảo Trinh, Kim Ngân, *Huyền
Trân, Bá Triệu, Ngọc Triệu. Nhóm có 4 bạn HS yếu kém.
Các em còn lại không tham gia nhóm.
Về địa điểm , thời gian:
Nhóm 1: Học tại nhà em Võ Thị Thúy Hằng vào các buổi chiều thứ bảy, Sáng chủ nhật
(cố định), trước khi thi kiểm tra thì thêm một số buổi.
Nhóm 2: Học tại Trường vào các buổi chiều thứ bảy, Sáng chủ nhật (cố định), trước
khi thi kiểm tra thi thêm một số buổi.
Nhóm 3: Học tại Trường vào các buổi chiều thứ bảy, Sáng chủ nhật (cố định), trước
khi thi kiểm tra thì thêm một số buổi.
Bước 2 Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà và phương pháp học tập bộ môn:
- Đối với giáo viên:
+ Phần dặn dò của giáo viên phải kĩ, phần chuẩn bị bài mới cần có hệ thống câu hỏi từ
dễ đến khó về những kiến thức trọng tâm của bài mới.
+ Khi kiểm tra bài cũ, giáo viên phải kiểm tra tập bài học, vở bài tập và vở tự học của
học sinh.
+ Giáo viên quy định mỗi em phải có 1 quyển vở tự học ghi những công thức học sinh
hay quên như công thức tính chu vi, diện tích… Soạn bài và học công thức phải ghi trong vở
tự học.
- Trong tiết dạy:
+ Giáo viên đặt câu hỏi từ dễ đến khó, để học sinh yếu có thể trả lời các câu để tạo
hứng thú cho các em học tập. Khi giảng bài trên lớp, tôi thường đặt câu hỏi và quy định điểm
cho câu hỏi. Ví dụ: Em nào trả lời được câu hỏi này cô cho 8 điểm, 9 điểm hay 10 điểm. Câu
hỏi 8 điểm không khó, chỉ yêu cầu học sinh tập trung nghe giảng là trả lời được, tôi thường

Giáo dục và Đào tạo phát hành.
+ Học sinh yếu kém phải làm lại các bài tập đã sửa trên lớp vào vở tự học.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 15
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
* Chuẩn bị bài mới:
+ Học sinh phải ghi câu hỏi soạn bài cẩn thận, đầy đủ.
+ Phải có tập bài soạn, có sách giáo khoa, kết hợp đọc câu hỏi và đọc sách giáo khoa
để trả lời các câu hỏi vào tập soạn.
+ Trong quá trình soạn bài nếu học sinh có vướng mắc gì thì phải ghi chép lại, khi vào
lớp học sinh phải chú ý nghe giảng, nếu chưa hiểu vấn đề gì thì có thể hỏi bạn bè hoặc thầy
cô.
- Học thuộc công thức để vận dụng vào giải bài tập và trả lời câu hỏi trắc nghiệm
công thức.
Theo thống kê số liệu các đề Thi tốt nghiệp THPT năm 2007 đến năm 2013, số câu có
dùng công thức trên tổng số câu của đề thi trên 62%.
Trong Vật lí, công thức Vật lí rất quan trọng. Công thức giúp học sinh giải được các
bài tập định lượng (mức độ 3) mà còn giải được các bài tập định tính (ở mức độ 1-2).
Ví dụ: Tại một nơi xác định, chu kì dao động điều hòa của con lắc tỉ lệ thuận với:
A. Chiều dài con lắc.
B. Gia tốc trọng trường.
C. Căn bậc hai chiều dài con lắc.
D. Căn bậc hai gia tốc trọng trường.
Để giải được câu trắc nghiệm này, các em phải thuộc công thức:
2
l
T
g
π
=
T l⇒ :

2
l k
λ
=

1
( )
2 2
l k
λ
= +
Đồng thời cách ghi này cũng đồng dạng với cách ghi công thức vân sáng và vân tối
trong bài giao thoa ánh sáng.
Vị trí vân sáng
k
x ki=
Vị trí vân tối
'
1
'
2
k
x k i
 
= +
 ÷
 
Giáo viên cần ghi thêm những công thức quan trọng mà sách giáo khoa không đề cập
được rút ra từ quá trình giải các bài tập.
Ví dụ: Công thức liên hệ giữa li độ và vận tốc:

Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Công thức tính lực căng dây của con lắc đơn ở li độ
α
bất kì:
( )
0
3cos 2cosmg
τ α α
= −
Kết thúc chương, giáo viên cần cho học sinh tự thống kê lại công thức có trong chương
trình. Sau đó giáo viên chỉnh lí lại cho khoa học và thêm vào những công thức tổng hợp mà
trong bài học không thể có được.
Ví dụ: Công thức tính cường độ dòng điện:
C
R L
L C
U
U UU
I
Z R Z Z
= = = =
- Đối với học sinh:
+ Học thuộc công thức.
+ Ghi công thức vào vở tự học, các đại lượng trong công thức, đơn vị, mỗi công thức ít
nhất 5 lần.
+ Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cách học thuộc công thức bằng cách viết nhiều
lần trên giấy hoặc trên bảng.
+ Các bảng tóm tắt công chức phải trở thành “vật bất li thân đối với học sinh”.
- Một số lưu ý để học sinh tự học ở nhà đạt hiệu quả:
* Nên có phương pháp học thích hợp:

- Một điều các em cũng nên tránh là học bài khi bụng đang đói: Khi chúng ta học,
chúng ta cũng sử dụng rất nhiều năng lượng và nếu bắt đầu với một dạ dày trống rỗng, nó sẽ
ngăn cản chúng ta tập trung và cảm thấy khó chịu vì đói. Vì vậy, hãy cố gắng ăn một cái gì đó
trước khi các em bắt đầu học, nhưng cũng không nên ăn quá nhiều, có thể các em sẽ cảm thấy
buồn ngủ hoặc mệt mỏi.
- Ánh sáng: Nơi tốt nhất để học là nơi có đủ ánh sáng. Ánh sáng tự nhiên là tốt nhất
nếu có thể. Đối với những người phải học vào ban đêm, một ngọn đèn sáng là được, miễn là
nó không ở phía sau làm in bóng của các em lên sách vở mà các em đang cố gắng để đọc.
Ngoài ra, khi các em học nơi thiếu ánh sáng, mắt các em sẽ mau mệt mỏi và nó cản trở sự tập
trung.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 19
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
- Tránh quá sức: Khi chúng ta làm việc quá sức, cảm thấy mệt mỏi, chúng ta sẽ không
thể tập trung. Vì vậy, cần có thời gian nghỉ giải lao để giải toả căng thẳng. Khi quay trở lại
làm công việc của mình, chúng ta sẽ dễ tăng cường tập trung hơn.
Nếu các em thực hiện tốt, các em sẽ có thể tăng mức độ tập trung và dần dần tăng khả
năng tự học của mình hiệu quả hơn. Học có phương pháp và có hứng thú, như vậy là các em
đã chuẩn bị sẵn sàng để vượt qua các kỳ thi.
Bước 3. Giao nhiệm vụ cho các tổ nhóm và hướng dẫn học sinh thực hiện.
- Trong 15' đầu giờ mỗi buổi học: Nhóm trưởng và nhóm phó có nhiệm vụ kiểm tra
vở tự học công thức của các bạn trong nhóm, truy bài công thức và nội dung bài cũ. Nhóm
trưởng nhắc nhở các bạn trong lớp khi các bạn chưa hoàn thành. Nhóm trưởng báo cáo lại kết
quả cho giáo viên khi giáo viên yêu cầu.
- Trong các tiết bồi dưỡng ôn tập tại trường:
+ Ôn công thức sau khi kết thúc chương: Đầu năm học giáo viên cho cả lớp phôtô
quyển tóm tắt công thức đầy đủ và phù hợp với các em. Sau khi kết thúc mỗi chương học,
giáo viên yêu cầu học sinh học thuộc và ôn lại công thức cả chương. Giáo viên quy định rõ
thời gian khi nào trả bài công thức.
+ Làm bài tập theo yêu cầu của giáo viên: Trong một số tiết bài tập bồi dưỡng, giáo
viên có thể giao cho mỗi nhóm một phiếu học tập khoảng 10 bài tập trắc nghiệm.

ngồi nghiêm túc.
- Kiểm tra việc làm bài tập về nhà của học sinh:
- Học sinh không làm bài tập về nhà thì không được lên bảng sửa bài và bị điểm
không.
- Giáo viên gọi 1-2 em lên bảng sửa bài tập, các em còn lại ngồi dưới lớp tập trung
theo dõi đễ nhận xét bài bạn.
- Khi làm bài tập mới 1-2 em lên bảng, các em còn lại làm bài tại chỗ, giáo viên có thể
gọi bất kì em nào lên nộp, nếu em nào không làm sẽ bị điểm không.
- Kiểm tra việc học công thức của học sinh.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 21
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
+ Yêu cầu học sinh học công thức ở nhà trong vở tự học (mỗi công thức viết ít nhất 5
lần) để giáo viên kiểm tra lúc các em trả bài, phân công nhóm trưởng và lớp phó học tập kiểm
tra thường xuyên và báo cáo cho giáo viên, giáo viên kiểm tra đột xuất.
+ Kiểm tra mỗi đầu tiết học (kiểm tra bài cũ).
+ Kiểm tra trước khi làm bài tập: Gọi học sinh nhắc lại công thức có liên quan đến bài
toán.
+ Kiểm tra trong giờ bồi dưỡng hoặc tiết ôn tập bằng nhiều hình thức.
Ví dụ: Yêu cầu mỗi học sinh trong nhóm viết ra giấy khoảng 10 công thức trong một
chương khác với nhóm kia. Sau đó cho nhóm này chấm bài nhóm kia. Cách này học sinh vừa
là thí sinh vừa là giám khảo nên các em rất hứng thú. Giáo viên kiểm tra lại và nếu có thưởng
phạt càng tốt.
Giáo viên có thể giao cho mỗi nhóm số lượng công thức ngang nhau (Dựa vào bảng
tóm tắt công thức). Chia bảng ra làm 3, mỗi nhóm cử thành viên của nhóm luân phiên lên
bảng viết công thức và thi đua với nhau về thời gian. Với cách làm như vậy, tất cả học sinh
trong nhóm đều hoạt động, kích thích học sinh yếu kém học tập. Giáo viên nhận xét cộng
điểm hoặc khen thưởng cho nhóm hoàn thành sớm.
- Kiểm tra việc hoàn thành các đề cương và tài liệu ôn tập.
Trước khi giải đề cương trên lớp, giáo viên yêu cầu nhóm trưởng báo cáo sự hoàn
thành các bài tập trong đề cương Sở GD&ĐT, tài liệu ôn tập. Giáo viên kiểm tra xác suất lại.

tiến bộ điển hình, các nhóm có nhiều học sinh tiến bộ và đồng thời tuyên dương các bạn học
sinh khá giúp đỡ bạn tiến bộ. Động viên khen thưởng kịp thời là động cơ để các em tích cực
trong việc học tổ nhóm, tham gia đều hơn.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 23
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
PHỤ LỤC 2: Bảng điểm lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
TN_12C2 ĐC_12C3
STT Họ và tên TTĐ STĐ STT Họ và Tên KT TTĐKT STĐ
1
Đặng Thị Hoài Ân
7,3 7,5 1
Ngô Huỳnh An
4 4,8
2
Thái Công Danh
4,3 5 2
Nguyễn Thị Hoa An
3,7 3,3
3
Nguyễn Trường Duy
8,3 8,8 3
Lê Quốc Bảo
2,3 4
4
Ng Thụy Kỳ Duyên
5 4,8 4
Đặng Dương Bình
5 6
5
Trần Huỳnh Mỹ Duyên

2,7 4,5 11
Võ Thành Đạt
3 3,3
12
Trần Vương Linh
3,3 5,5 12
Trần Đông Đông
9 7
13
Hồ Thị Thanh Ngân
3 4,8 13
Biện Thị Mỹ Giang
4,7 4,8
14
Nguyễn Thị Ánh Ngọc
3,3 4,3 14
Phạm Thị Ngân Hà
3 4
15
Nguyễn Thị Yến Nhi
5 5,3 15
Nguyễn Ngọc Mỹ Hân
4 4,3
16
Phạm Thị Ý Nhi
4,3 5,3 16
Võ Thị Xuân Hiền
3,7 3,8
17
Lê Thị Kiều Oanh

6 4,5 23
Nguyễn T Hồng Ngọc
3 4
24
Phạm Văn Sang
6 7,5 24
Trần Thị Kim Ngọc
5,3 5,8
25
Nguyễn Thành Tài
3,7 5,5 25
Huỳnh Thanh Phong
5 5,3
26
Phạm Tuấn Thiện
2,3 4,5 26
Lê Thanh Phong
4 4,5
27
Nguyễn Đắc Thịnh
4,7 5,8 27
Nguyễn T Kim Phụng
4 5,5
28
Lê Thị Kim Thơ
5,3 6,8 28
Nguyễn Hồng Phương
4,7 4,5
29
Phạm Trung Thu

35
Võ Thanh Trúc
3 4,8 34
Đặng Thị Nguyên Thư
6,7 5,3
36
Huỳnh Cẩm Tú
5 6,3 36
Nguyễn Đức Trọng
7,3 6,5
37
Hà Thanh Vân
4 4,5 37
Võ Thị Cẩm Vân
3,7 4,5
38
Nguyễn Hiếu Vinh
4,7 6 38
Nguyễn Đặng Thúy Vi
3,7 4
39
Nguyễn Hoàng Vĩnh
3,3 5,5 39
Nguyễn Phong Vũ
4 5
40
Nguyễn Thị Thúy Vy
4,7 6,3 40
Phan Hoàng Vũ
5 5,8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status