Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa ngắn ngày và một số biện pháp kỹ thuật thâm canh phục vụ sản xuất tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ


TRẦN VĂN MẠNH

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG LÚA NGẮN NGÀY VÀ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH PHỤC VỤ SẢN XUẤT
TẠI VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

HUẾ, NĂM 2015 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã
được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn
gốc. Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

, 19 6 5
Tác giả luận án
Trần Văn Mạnh Trần Văn Mạnh

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận
được sự giúp đỡ về nhiều mặt của các cấp lãnh đạo, các tập thể và cá nhân.
Qua đây, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới PGS.TS.
Nguyễn Minh Hiếu và TS. Nguyễn Như Hải, là những người thầy hướng dẫn
khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên
cứu và hoàn thành luận án này;
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban đào tạo, Đại học Huế; Lãnh đạo
Trường Đại học Nông Lâm Huế, Phòng Đào tạo Sau đại học cùng các thầy,

FAO: Food and Agriculture Organization (Tổ chức Nông nghiệp và lương
thực Liên hợp quốc)
GCT: Giống cây trồng
HT: Hè Thu
Kg: Kilôgam
KL1.000 hạt: Khối lượng 1.000 hạt
KT: Kỹ thuật
MT: Miền Trung
N/P/K: Đạm/Lân/Kali
NLN: Nông Lâm nghiệp
NSLT: Năng suất lý thuyết
NSTT: Năng suất thực thu
QCVN: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
SD: Độ lệch chuẩn
SE: Sai số chuẩn
TB: Trung Bình
TCN: Tiêu chuẩn nghành
TCVN: Tiêu chuẩn quốc gia
TGST: Thời gian sinh trưởng
TLGN: Tỷ lệ gạo nguyên
TLGX: Tỷ lệ gạo xay
TTKKNG, SPCT: Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng

iv
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv

2.2. Nội dung nghiên cứu 48
2.2.1. Tuyển chọn giống lúa mới có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất và
chất lượng khá, thích nghi với điều kiện sản xuất tại vùng Duyên hải Nam Trung
bộ 48
2.2.2. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật hoàn thiện quy trình thâm canh
giống lúa ngắn ngày được tuyển chọn trên đất phù sa không được bồi hàng năm
48
2.2.3. Xây dựng mô hình hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh giống lúa ngắn
ngày được tuyển chọn tại vùng nghiên cứu 48
2.3. Phương pháp nghiên cứu 48
2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 49
2.3.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp đánh giá 51
2.3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 56
CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 57
3.1. Kết quả nghiên cứu tuyển chọn giống lúa mới có thời gian sinh trưởng ngắn,
năng suất và chất lượng khá, thích nghi với điều kiện sản xuất tại vùng Duyên
hải Nam Trung bộ 57
3.1.1. Một số đặc điểm nông sinh học của các giống lúa thí nghiệm 57
3.1.2. Phản ứng của các giống lúa thí nghiệm với một số loại sâu bệnh hại 59
3.1.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí nghiệm 60
3.1.4. Kết quả đánh giá tính thích nghi và độ ổn định về năng suất của các giống
lúa thí nghiệm tại vùng nghiên cứu 67
3.1.5. Đánh giá chất lượng của các giống lúa thí nghiệm 71

vi
3.2. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật hoàn thiện quy trình thâm
canh giống lúa mới cực ngắn ngày triển vọng trên đất phù sa không được bồi
hàng năm tại vùng nghiên cứu 75
3.2.1. Kết quả nghiên cứu liều lượng bón đạm và lượng giống gieo sạ thích hợp
đối với giống lúa MT18cs trên đất phù sa không được bồi hàng năm tại Quảng

Xuân 69
Bảng 3.7. Độ ổn định về năng suất của các giống lúa thí nghiệm trong vụ Hè
Thu 70
Bảng 3.8. Chỉ số môi trường của các điểm thí nghiệm (Ij) 71
Bảng 3.9. Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa thí nghiệm 72
Bảng 3.10. Đặc tính chất lượng gạo của các giống lúa thí nghiệm 73
Bảng 3.11. Chất lượng cơm của các giống lúa tham gia thí nghiệm 74
Bảng 3.12. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa MT18cs trong
vụ ĐX 2012- 2013 tại Quảng Ngãi 76
Bảng 3.13. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa MT18cs trong
vụ Hè Thu 2013 tại Quảng Ngãi 77
Bảng 3.14. Ảnh hưởng lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón đến khả năng đẻ
nhánh và chiều cao cây của giống lúa MT18cs 80
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ đến khả năng đẻ nhánh và chiều
cao cây của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013
tại Quảng Ngãi 81
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khả năng đẻ nhánh và chiều cao
cây của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại
Quảng Ngãi 82

viii
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón đến chỉ số
diện tích lá, diện tích lá đòng và độ tàn lá của giống MT18cs trong
vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi 83
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ đến chỉ số diện tích lá, diện tích
lá đòng và độ tàn lá của giống MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và
HT2013 tại Quảng Ngãi 85
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá, diện tích lá
đòng và độ tàn lá của giống MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và
HT2013 tại Quảng Ngãi 85

Bảng 3.32. Ảnh hưởng của thời vụ gieo sạ đến thời gian sinh trưởng, khả năng
đẻ nhánh và diện tích lá đòng của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX
2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi 107
Bảng 3.33. Ảnh hưởng của thời vụ gieo sạ đến tình hình sâu bệnh hại của giống
lúa MT18cs 110
Bảng 3.34. Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất
của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại
Quảng Ngãi 111
Bảng 3.35. Ảnh hưởng của thời vụ gieo đến năng suất của giống lúa MT18cs
trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi 113
Bảng 3.36. Một số đặc điểm nông học của giống MT18cs ở các mô hình trong
vụ ĐX 2013-2014 và HT 2014 116
Bảng 3.37. Tình hình sâu bệnh hại đối với giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2013-
2014 và HT 2014 117
Bảng 3.38. Các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa MT18cs 117
Bảng 3.39. Năng suất của giống lúa MT18cs tại các mô hình 118 x
DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu hình Tên hình Trang

Hình 3.1. Biểu đồ năng suất các giống lúa thí nghiệm vụ ĐX2011-2012 64
Hình 3.2. Biểu đồ năng suất các giống lúa thí nghiệm vụ ĐX2012-2013 64
Hình 3.3. Biểu đồ năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ HT2012 67
Hình 3.4. Biểu đồ năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ HT2013 67
Hình 3.5. Tương quan giữa lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón với hệ số
diện tích lá xanh giai đoạn kết thúc đẻ nhánh của giống MT18cs . 86
Hình 3.6: Tương quan giữa lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón với hàm

nước, đảm bảo an ninh lương thực mà còn dư một lượng lớn để phục vụ xuất
khẩu [125].
Theo thống kê, xuất khẩu gạo năm 2014 đạt gần 6,38 triệu tấn, trị giá
2,96 tỷ USD, giảm 3,25% về lượng nhưng tăng nhẹ 1,03% về kim ngạch so
với năm 2013 và đứng thứ 3 trên thế giới sau Ấn Độ, Thái Lan [126]. Góp
phần vào thành tích to lớn trên trước hết phải kể đến sự đóng góp quan trọng
của các giống lúa mới cùng với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chủ
trương chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (DHNTB) có diện tích lúa gieo cấy
hàng năm khoảng 373,3 ngàn ha, chiếm 4,78% diện tích lúa cả nước. Năm
2014, sản lượng lúa toàn vùng đạt 2,185 triệu tấn, chiếm 4,87% sản lượng lúa
cả nước; năng suất lúa bình quân toàn vùng đạt 58,5 tạ/ha, cao hơn năng suất
bình quân cả nước 1,1 tạ/ha [125]. Mặc dù diện tích và sản lượng lúa toàn
vùng so với cả nước không lớn nhưng đây là vùng có điều kiện thời tiết, khí

2
hậu diễn biến khá phức tạp khá bất lợi cho sản xuất nông nghiệp; Tình hình
hạn hán, thiếu nước ngày càng có nguy cơ cao gây ảnh hưởng xấu cho sản
xuất lúa. Trước những thách thức đó, đòi hỏi các nhà khoa học, phải nghiên
cứu và đưa ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả nhất nhằm giảm thiểu tác
động của thời tiết, tăng năng suất, sản lượng lúa, đảm bảo được an ninh lương
thực và phát triển nông nghiệp bền vững của vùng.
Những năm gần đây, các giống lúa mới có năng suất cao và biện pháp
kỹ thuật mới được đưa vào sản xuất đã nâng cao năng suất và sản lượng lúa
gạo của vùng. Tuy nhiên, giống lúa được sử dụng chủ yếu trong sản xuất tại
các địa phương trong vùng đa số là những giống lúa có năng suất cao nhưng
phẩm chất gạo thấp, một số giống có thời gian sinh trưởng dài, khả năng
chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận kém như Q5, Khang
dân 18, DV108, Ải 32, IR17494, Xi23, NX30 Vì thế, việc nghiên cứu tuyển
chọn giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, có năng suất, chất lượng khá, ít

thời gian sinh trưởng ngắn, sinh trưởng phát triển tốt, năng suất, chất lượng
khá bổ sung vào cơ cấu giống lúa, góp phần đảm bảo ổn định năng suất và sản
lượng lúa của vùng Duyên hải Nam Trung bộ trong điều kiện biến đổi khí hậu
phức tạp như hiện nay.
- Khuyến cáo cho sản xuất quy trình thâm canh giống lúa mới ngắn ngày
triển vọng (thời vụ gieo; mật độ sạ và liều lượng đạm) phù hợp để thâm canh lúa
trên đất phù sa không được bồi hàng năm tại vùng Duyên hải nam Trung bộ.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đề tài luận án tập trung nghiên cứu nguồn vật liệu 9 giống lúa thuần
mới thuộc nhóm ngắn ngày, được thu thập từ các nguồn lai tạo trong nước và
nhập nội.
- Nghiên cứu về đặc điểm nông học, tiềm năng cho năng suất, chất
lượng, tính chống chịu sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận; khả năng
thích nghi với điều kiện sinh thái vùng Duyên hải Nam Trung bộ của 9 giống
lúa mới. Thí nghiệm được thực hiện liên tục 4 vụ (Đông Xuân 2011-2012, Hè
Thu 2012; Đông Xuân 2012-2013 và Hè Thu 2013); được bố trí tại 3 địa điểm

4
tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ (Trại Giống cây trồng Nam Phước, tỉnh
Quảng Nam; Trạm Khảo nghiệm và Hậu kiểm giống cây trồng Sơn Tịnh, tỉnh
Quảng Ngãi; Trại Giống cây Nông nghiệp Hòa An, tỉnh Phú Yên).
- Sử dụng một giống lúa mới cực ngắn ngày được tuyển chọn làm đối
tượng để nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật (thời vụ gieo sạ; lượng
giống gieo sạ và liều lượng bón đạm). Các thí nghiệm được thực hiện liên tục
2 vụ (Đông Xuân 2012 -2013 và Hè Thu 2013), trên đất phù sa không được
bồi hàng năm, có độ phì trung bình tại Trạm Khảo nghiệm và Hậu kiểm giống
cây trồng Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
- Xây dựng mô hình thâm canh giống lúa mới được tuyển chọn và biện
pháp kỹ thuật mới của đề tài nghiên cứu đề xuất được thực hiện 2 vụ (Đông
Xuân 2013 -2014 và Hè Thu 2014), tại 6 Trạm giống cây trồng ở các tỉnh

1.1.1. Nghiên cứu về những đặc điểm nông sinh học của cây lúa
Lúa là cây trồng đa dạng kiểu hình, mỗi giống có những đặc điểm riêng
mà ta có thể dựa vào đó để nhận biết như chiều cao cây, kích thước lá, màu
sắc thân lá, dạng bông, dạng hạt, màu sắc hạt, thời gian sinh trưởng [32]. Các
nhà chọn tạo và khảo nghiệm giống trước khi chuẩn bị cho bất kỳ chương
trình chọn tạo và khảo nghiệm giống nào cũng cần có những thông tin đầy đủ
về các đặc điểm nguồn vật liệu khởi đầu của giống. Do vậy, việc nghiên cứu
đặc điểm hình thái, đặc điểm nông học, khả năng chống chịu của các giống
lúa đã được tiến hành từ lâu và thu được nhiều kết quả có ý nghĩa.
Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ lúc nảy mầm cho đến
khi chín, thường thay đổi từ 90 - 180 ngày tùy theo giống và điều kiện ngoại
cảnh. Trong canh tác lúa hiện đại, các nhà nông học hết sức quan tâm đến thời
gian sinh trưởng của các giống lúa vì đây là yếu tố có tương quan chặt đến
năng suất và việc bố trí thời vụ, cơ cấu luân canh của người nông dân trong cả
một năm.
Theo Suichi Yosida (1985) cho rằng thời gian sinh trưởng ở cây lúa chia
làm 2 giai đoạn chính là giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh
thực. Tuy nhiên, có thể chia thành 3 giai đoạn là sinh trưởng dinh dưỡng, sinh
thực và chín. Thời gian sinh trưởng của cây lúa thường chiếm từ 90 - 180 ngày
từ khi nảy mầm cho đến khi chín, thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào
giống và môi trường sinh trưởng. Trong điều kiện nhiệt đới, giai đoạn sinh
trưởng sinh thực (thời kỳ làm đòng) cần khoảng 30 ngày, thời kỳ chín chiếm 30
ngày và thời gian còn lại dành cho giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng [73].
Như vậy, thời gian sinh trưởng của cây lúa dài hay ngắn phụ thuộc vào
thời gian sinh trưởng dinh dưỡng.

6
Yosida (1981) cho rằng những giống lúa có thời gian sinh trưởng quá
ngắn thì không thể cho năng suất cao do sinh trưởng dinh dưỡng bị hạn chế.
Ngược lại, những giống lúa có thời gian sinh trưởng quá dài thì cũng cho

gen lùn lặn tạo cho thân ngắn nhưng không ảnh hưởng đến chiều dài bông,
điều này rất có ý nghĩa trong chọn giống [32].
Chiều cao cây là một trong những tính trạng quan trọng liên quan đến
khả năng chống đổ, khả năng hấp thụ ánh sáng mặt trời và chịu phân bón của
giống. Thân rạ cao dễ đổ ngã sớm, bộ lá rối tăng hiện tượng bóng rợp, tạo
điều kiện cho sâu bệnh cư trú, gây cản trở quá trình vận chuyển sản phẩm
quang hợp về hạt làm cho hạt bị lép, lửng và giảm năng suất. Chiều cao cây
lúa thích hợp từ 90-100 cm, có thể cao đến 120 cm, trong một số điều kiện
nào đó được coi là lý tưởng về năng suất [76]. Thân cây lúa dày hơn thì khả
năng tích lũy chất khô tốt hơn. Thân cứng và dày có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc chống đổ ngã và dẫn tới chỉ số thu hoạch cao hơn [82]. Nếu thân lá
không cứng khoẻ, không dày, thì dễ đổ ngã, tán lá che khuất lẫn nhau làm gia
tăng một số bệnh hại dẫn đến năng suất giảm [113].
Sự phát triển của các lóng đốt quyết định đến chiều cao cây và liên
quan tới khả năng chống đổ. Hiện nay, các giống lúa mới thấp cây đang dần
thay thế các giống lúa cao cây vì chúng có khả năng chống đổ tốt hơn khi đầu
tư thâm canh để đạt năng suất cao [20].
Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh là một đặc điểm của cây lúa, đặc điểm
này có ảnh hưởng đến năng suất lúa. Trong quá trình sinh trưởng, nhánh lúa là
những cành mọc lên từ nách lá của mỗi đốt trên thân chính hoặc trên các nhánh
khác trong thời gian sinh trưởng dinh dưỡng, cây lúa đẻ nhánh theo quy luật
chung. Tuy nhiên, các giống lúa khác nhau thì thời gian đẻ nhánh khác nhau.
Nguyễn Văn Hiển (2000) nghiên cứu các tổ hợp lai có nhận xét rằng
kiểu đẻ nhánh chụm và đứng thẳng là lặn, kiểu đẻ nhánh xòe là trội. Các kết
quả nghiên cứu cho rằng tính đẻ nhánh khỏe là tính trạng di truyền số lượng,
có hệ số di truyền từ thấp đến trung bình và chịu ảnh hưởng rõ rệt của các
điều kiện ngoại cảnh [32].

8
Theo Bùi Huy Đáp (1970) khi nghiên cứu về đặc tính đẻ nhánh cho biết

trình hô hấp cũng có tương quan thuận với chỉ số diện tích lá. Chỉ số diện tích
lá phụ thuộc vào giống, mật độ cấy, lượng phân bón. Diện tích lá tăng dần
trong quá trình sinh trưởng, tăng mạnh nhất là thời kỳ đẻ nhánh rộ và đạt tối
đa trước lúc trổ bông. Các giống lúa thấp cây, lá đứng có thể tăng mật độ cấy
để nâng cao hệ số diện tích lá. Các giống lúa cao cây, xoè nên hạn chế khả
năng tăng mật độ vì dễ dẫn tới hiện tượng các lá che khuất lẫn nhau, khi đó
không những không tăng được lượng quang hợp mà còn tạo điều kiện cho sâu
bệnh gây hại nặng [22].
Nguyễn Văn Hiển (2000) cho rằng, tính trạng lá đứng thẳng được kiểm
tra bởi một gen lặn có hệ số di truyền cao, cặp gen này có tác động đa hiệu
vừa gây nên thân ngắn, vừa làm cho bộ lá đứng thẳng cứng và ngắn [32].
1.1.2. Những nghiên cứu về yếu tố cấu thành năng suất của cây lúa
Năng suất lúa được tạo thành bởi 4 yếu tố: số bông/đơn vị diện tích, số
hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt.
Số bông trên một đơn vị diện tích bị tác động bởi 3 yếu tố: số nhánh
hữu hiệu, điều kiện ngoại cảnh và biện pháp kỹ thuật (mật độ cấy, tưới
nước, bón phân ). Số bông có tính quyết định đến năng suất và hình thành
sớm nhất, yếu tố này phụ thuộc nhiều vào mật độ gieo cấy, khả năng đẻ
nhánh, khả năng chịu đạm. Các giống lúa mới thấp cây, lá đứng, đẻ khỏe,
chịu đạm có thể gieo cấy dày để tăng số bông trên đơn vị diện tích [22]. Số
bông có thể đóng góp 74% năng suất, trong khi đó số hạt và khối lượng hạt
đóng góp 26% [25].
Trên ruộng lúa cấy, số bông/m
2
phụ thuộc nhiều vào năng lực đẻ
nhánh, chỉ tiêu này xác định chủ yếu vào khoảng 10 ngày sau khi đẻ nhánh tối
đa. Ở ruộng lúa gieo thẳng số bông/m
2
phụ thuộc nhiều vào lượng hạt gieo và
tỷ lệ mọc mầm [73].

hạt. Muốn có sự vận chuyển tổng hợp tốt hơn thì bộ lá có cấu tạo dày, xanh
đậm hơn, tuổi thọ lá kéo dài là một đặc tính rất quan trọng và cần thiết. Bộ lá
thẳng đứng thì cây lúa sử dụng ánh sáng hữu hiệu tốt hơn [119].
Tỷ lệ hạt chắc trên bông được quyết định ở thời kỳ sau trỗ, nếu gặp
điều kiện bất lợi ở thời kỳ này tỷ lệ hạt lép sẽ rất cao. Tỷ lệ hạt chắc có ảnh
hưởng đến năng suất lúa rõ rệt, ngoài ra tỷ lệ hạt chắc còn phụ thuộc vào
lượng tinh bột được tích luỹ trên cây và đặc điểm giải phẫu của cây. Trước
khi trỗ bông, nếu cây lúa sinh trưởng tốt, quang hợp thuận lợi thì hàm lượng

11
tinh bột được tích lũy và vận chuyển lên hạt nhiều, làm cho tỷ lệ hạt chắc cao.
Mạch dẫn vận chuyển tốt thì quá trình vận chuyển tinh bột tích luỹ trong cây
đến hạt được tốt làm tỷ lệ hạt chắc sẽ cao. Tỷ lệ hạt chắc còn chịu ảnh hưởng
của quá trình quang hợp sau khi trỗ bông. Sau khi trỗ bông, quang hợp ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình tích lũy tinh bột trong phôi nhũ. Ở giai đoạn
này, nếu điều kiện khí hậu không thuận lợi cho quá trình quang hợp thì tỷ lệ
hạt chắc giảm rõ rệt [36]. Phần trăm gié hoa chắc được xác định trước, trong
và sau khi trỗ gié. Những điều kiện thời tiết không thuận lợi như nhiệt độ thấp
hoặc cao vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm và lúa trỗ, có thể gây ra bất thụ.
Các điều kiện thời tiết không thuận lợi lúc chín có thể ức chế sự sinh trưởng
tiếp của vài gié hoa cho ra những gié hoa lép [105].
Vì vậy, để có tỷ lệ hạt chắc cao phải bố trí thời vụ gieo cấy hợp lý, sao
cho khi lúa làm đòng, trỗ bông và chín gặp được điều kiện ngoại cảnh thuận
lợi và cây lúa phải được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cũng như chế độ tưới
tiêu phải hợp lý [25].
Khối lượng 1.000 hạt của một giống tương đối ổn định do kích thước
hạt, kích thước của vỏ trấu khống chế rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên, kích thước
vỏ trấu có lệ thuộc vào sự biến đổi chút ít bởi bức xạ mặt trời trong 2 tuần
trước khi nở hoa [73].
Khối lượng 1.000 hạt là yếu tố cuối cùng tạo năng suất lúa, yếu tố này

- Hiệu suất quang hợp thuần (NAR)
- Hệ số diện tích lá (LAI)
- Thời gian quang hợp (t)
P = NAR x LAI x t
Để tạo ra năng suất quần thể cao cần tác động vào 3 yếu tố trên một
cách hợp lý trong mối quan hệ của chúng [25].
Quang hợp còn là động lực quan trọng giúp cây xanh sinh trưởng, phát
triển tạo năng suất và cung cấp khí oxy cho bầu khí quyển, giúp cho việc hô
hấp và duy trì sự sống của các sinh vật trên trái đất.

13
Từ các kết quả nghiên cứu, sản lượng hạt của cây lúa được xác định
chủ yếu bởi mức độ hydratcacbon. Các hydratcacbon như các loại đường và
tinh bột bắt đầu tích luỹ mạnh mẽ vào khoàng 2 tuần trước khi trỗ bông và đạt
đến mức cực đại trong các bộ phận của cây, chủ yếu là trong bẹ lá và thân vào
lúc trỗ bông, sau đó lại giảm lúc chín rộ và có thể tăng trở lại chút ít lúc gần
chín hoàn toàn. Các hydratcacbon tích luỹ được có 3 chức năng trong việc tạo
ra hạt lúa:
- Cung cấp một phần hydratcacbon cho hạt
- Giúp cho hạt sinh trưởng được trong các điều kiện thời tiết khác nhau
- Làm cho năng suất hạt được ổn định dưới những điều kiện thời tiết
bất thuận trong thời gian chín [73].
1.1
Nhiều giống cây trồng có những nhược điểm như: Thời gian sinh
trưởng dài, khả năng chịu hạn, chịu lạnh, chịu úng kém, cao cây, dễ đổ, chống
chịu sâu bệnh kém… nên khả năng gieo trồng bị hạn chế. Trên cơ sở những
thành tựu đạt được ở lúa mì, vận dụng lý thuyết về dãy biến dị tương đồng
của Vavilop (1951), Chang T.T và Jenning (1970) đã tìm kiếm gen lùn ở cây
lúa nước. Các giống mới như De-geo-woo-gen và Taichung native 1 của Đài
Loan hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu đề ra. Năm 1966, giống lúa thấp cây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status