Bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung theo quy định của pháp luật chứng khoán ở Việt Nam - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ HÀ TRANG BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG THEO
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt MỞ ĐẦU
1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ BẢO VỆ QUYỀN, LỢI
ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN TẬP TRUNG

chứng khoán trên thị trường chứng khoán tập trung
38
2.1.1.
Các quy định của pháp luật chứng khoán về bảo vệ quyền
tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch chứng khoán
của nhà đầu tư
38 2.1.2.
Thực trạng bảo vệ quyền tham gia thị trường và thực hiện các
giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư
43
2.2.
Bảo vệ quyền được cung cấp thông tin
54
2.2.1.
Quy định của pháp luật chứng khoán về bảo vệ quyền được
cung cấp thông tin của nhà đầu tư
54
2.2.2.
Thực trạng bảo vệ quyền được cung cấp thông tin của nhà
đầu tư
58
2.3.
Bảo vệ quyền sở hữu tài sản đầu tư
65
2.3.1.
Quy định của pháp luật chứng khoán về bảo vệ quyền sở hữu
tài sản đầu tư

Luật Chứng khoán cần có quy định chi tiết, cụ thể về quyền
và nghĩa vụ của nhà đầu tư
83
3.1.2.
Hoàn thiện các chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng
khoán và thị trường chứng khoán
84
3.1.3.
Bổ sung các quy định về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực
chứng khoán
85 3.1.4.
Bổ sung các chế tài hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp
luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
86
3.2.
Các giải pháp khác
87
3.2.1.
Các giải pháp kỹ thuật
87
3.2.2.
Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giám sát và quản lý
thị trường
90
3.2.3.
Nâng cao chất lượng tin tức báo chí
91 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HASTC
: Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
HOSE
: Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
SGDCK
: Sở Giao dịch chứng khoán
Thị trường OTC
: Giao dịch chứng khoán phi tập trung
TTCK
: Thị trường chứng khoán
TTCKTT
: Thị trường chứng khoán tập trung
TTGDCK
: Trung tâm Giao dịch chứng khoán
UBCKNN
: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
mọi nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế
như hiện nay. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Trong năm 2006 và đầu năm 2007, cơn sốt chứng khoán đã ghi một
dấu ấn đặc biệt trong nền kinh tế Việt Nam với tốc độ tăng trưởng cao, chỉ số
VnIndex đạt mức cao nhất 1.170,67 điểm vào ngày 12/3/2007, mức độ vốn
hóa đạt 278.523 tỷ đồng, chiếm 65,47% so với GDP của năm 2006. Năm
2008 là một năm thực sự khó khăn đối với TTCK Việt Nam. Vào ngày
20/6/2008, chỉ số VNIndex giảm thấp nhất với 366,02 điểm. Vào thời điểm
này, giá trị vốn hóa của toàn thị trường vẫn đạt 168.747 tỷ đồng, chiếm
36,57% so với GDP năm 2007. Với sự tăng trưởng ấn tượng cũng như các
giai đoạn thăng trầm, thử thách nhà đầu tư như vậy, chứng khoán đã và vẫn
đang là một đề tài hấp dấn đối với những người nghiên cứu về nó, đồng thời
với cả những người không am hiểu về nó.
Thị trường chứng khoán chính thức của Việt Nam còn rất non trẻ với
8 năm kể từ khi thành lập và đi vào hoạt động. Tuy vậy, mức độ quan trọng của
TTCK trong bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế Việt Nam đang dần dần được
xác lập, thu hút được sự tham gia của nhiều nhà đầu tư trong nước và nước

2

ngoài. Cho đến tháng 8/2008, đã có khoảng 400.000 tài khoản giao dịch
chứng khoán được mở, trong đó có hơn 11.000 tài khoản của nhà đầu tư cá
nhân nước ngoài, hơn 770 tài khoản của nhà đầu tư tổ chức nước ngoài

[16].
Tuy số lượng tương đối đông đảo như vậy, nhưng có một thực tế là các nhà
đầu tư khi tham gia vào TTCK đôi khi không nắm bắt được hoặc không sử
dụng có hiệu quả cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi cho mình khi tham gia vào
một sân chơi tài chính bậc cao. Đồng thời, các quy định pháp luật chứng
khoán của Việt Nam ban đầu cũng còn nhiều lỗ hổng trong việc định ra các

ngoài, nhưng chưa phân tích được sự tương thích giữa trình độ phát triển của
TTCK Việt Nam với các quy định pháp lý đó. Ngoài ra, hàng năm, Ngân
hàng Thế giới đã đưa ra một báo cáo về giá tình hình quản trị doanh nghiệp,
trong đó có đánh giá về thực trạng bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư ở Việt Nam
nhưng chỉ ở mức độ đánh giá thực tiễn mà chưa đi sâu phân tích các quy
phạm pháp luật liên quan đến vấn đề này.
Hiện đã có một số công trình nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi của nhà
đầu tư trên TTCK như luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Thanh Tú về "Bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
tập trung theo pháp luật Việt Nam" (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,
2006); hoặc bài nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Quỳnh Chi về "Hoàn thiện
các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán", đăng trên Tạp chí Kiểm sát,
số 19 năm 2006. Cách tiếp cận của các công trình nghiên cứu trước đây chủ
yếu tập trung vào các quyền của nhà đầu tư với tư cách là cổ đông của tổ chức
phát hành, tổ chức niêm yết theo hệ thống pháp luật về chứng khoán trước khi
Luật Chứng khoán 2006 được ban hành. Luận văn này tiếp cận theo một
hướng khác, đó là nghiên cứu về việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư
theo các quy định của Luật Chứng khoán 2006 và các văn bản hướng dẫn thi
hành xuất phát từ mối quan hệ giữa nhà đầu tư với tất cả các định chế của thị
trường, đặt nhà đầu tư vào vị trí là một mắt xích quan trọng của toàn bộ hệ
thống thị trường chứng khoán tập trung (TTCKTT) với sự tham gia của các
công ty niêm yết, các công ty chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán, trung
tâm lưu ký Đồng thời, những kiến nghị mà tác giả có thể rút ra từ việc nghiên

4

cứu này hy vọng sẽ có ý nghĩa thiết thực trong quá trình hoàn thiện pháp luật
về chứng khoán và TTCK của Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển nhanh, mạnh
và bền vững của TTCK.
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Chương 1: Khái quát chung về thị trường chứng khoán tập trung ở
Việt Nam và bảo vệ quyền, lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
tập trung.
Chương 2: Các quy định của pháp luật chứng khoán Việt Nam về bảo
vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung và
thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện việc bảo vệ quyền và lợi ích của
nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung.

6

Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA
NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG

1.1. CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG
Ở VIỆT NAM
Thị trường chứng khoán tập trung là nơi giao dịch các chứng khoán có
độ rủi ro thấp, được đăng ký niêm yết, được giao dịch tại một thị trường có tổ
chức, theo phương thức và địa điểm giao dịch cố định, có cơ chế xác lập giá
và cơ chế thanh toán bù trừ được quy định chặt chẽ. TTCKTT là một khái
niệm được sử dụng để phân định với một phương thức giao dịch chứng khoán
khác, là giao dịch chứng khoán phi tập trung (hay còn gọi là thị trường OTC).
Ở Việt Nam, thời kỳ đầu của sự phát triển TTCK, khái niệm "thị
trường chứng khoán" hầu như được đồng nhất với khái niệm "thị trường
chứng khoán tập trung". Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của
Chính phủ quy định về chứng khoán và TTCK đã định nghĩa: "Giao dịch
chứng khoán là việc mua, bán chứng khoán trên thị trường giao dịch tập
trung" [4, Điều 2]. Điều này không đúng về bản chất. Việc mua, bán, chuyển

- Giao dịch thỏa thuận/khớp lệnh
- Tại một thời điểm có nhiều mức giá
- Giao dịch các chứng khoán có độ
rủi ro cao
- Sử dụng hệ thống mạng điện tử
- Có các nhà tạo lập thị trường

- Cơ chế thanh toán linh hoạt và đa dạng
Để hiểu rõ về TTCKTT, chúng ta có thể xem xét một số đặc điểm
chính như sau:
- Là thị trường có tính tổ chức cao. Khác với các thị trường hàng hóa
thông thường, TTCKTT là một thị trường có tính tổ chức rất cao, mọi hoạt
động của thị trường đều được điều tiết bởi một hệ thống các cơ quan có thẩm
quyền. Các chủ thể tham gia quản lý, điều hành và các định chế trung gian
đều là những tổ chức chuyên nghiệp và phải có đủ năng lực, quyền hạn cũng
như điều kiện để tham gian thị trường. Các định chế khi tham gia thị trường
phải đảm bảo tuân thủ theo những những quy định và nguyên tắc nhất định.
Các định chế tham gia thị trường được điều chỉnh thống nhất bởi hệ thống các
quy định, quy chế của các Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK)/ Trung tâm

8

Giao dịch chứng khoán (TTGDCK), Trung tâm lưu ký chứng khoán nhằm tạo
ra một quá trình hợp tác hiệu quả, thông suốt đảm bảo tính an toàn, hiệu quả
của các giao dịch.
- Là thị trường được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật chặt chẽ.
TTCKTT, khi vận hành mọi hoạt động, hành vi của các chủ thể tham gia thị
trường đều chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật chặt chẽ. Với tính
chất là một thị trường nhạy cảm, nhiều rủi ro và khả năng tác động, ảnh
hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, TTCK đòi hỏi

do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán của tổ chức, cá nhân, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Một trong những bước đi đầu tiên có ý nghĩa khởi đầu cho việc xây
dựng TTCKTT ở Việt Nam là việc thành lập Ban Nghiên cứu xây dựng và
phát triển thị trường vốn thuộc Ngân hàng Nhà nước theo Quyết định số
207/QĐ-TCCB ngày 6/11/1993 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước với
nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng đề án và chuẩn bị các điều kiện để thành lập
TTCK theo bước đi thích hợp.
Đến năm 1996, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) được
thành lập theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ, theo đó UBCKNN là cơ
quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý nhà nước về
chứng khoán và TTCK. Việc thành lập cơ quan quản lý TTCK trước khi thị
trường ra đời trên thực tế là bước đi phù hợp với chủ trương xây dựng và phát
triển TTCK ở Việt Nam, có ý nghĩa quyết định cho sự ra đời của TTCK sau
đó hơn 3 năm.
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được
thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 và chính
thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000
với hai cổ phiếu đầu tiên là REE và SAM đã đánh dấu một sự kiện quan
trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Sự ra đời của TTGDCK
Thành phố Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo ra một kênh huy
động và luân chuyển vốn mới phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại

10

hóa đất nước, là sản phẩm của sự chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế vận hành
theo cơ chế thị trường theo định hướng chủ nghĩa xã hội của Đảng và Nhà
nước ta [21].
Đến ngày 11/5/2007, theo Quyết định số 559/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được

̃
lên

́
i gần 307 ngàn tài khoản trong đó có trên 7 ngàn tài khoản của nhà đầu tư
nước ngoài [26].
Đánh giá về quá trình phát triển của TTCKTT trong những năm qua,
ông Nguyễn Đoan Hùng, Phó Chủ tịch UBCKNN đã đưa ra năm thành quả
mà TTCK Việt Nam đã đạt được:
Thứ nhất, đã hình thành được thị trường vốn trung và dài hạn. Trước
kia, nguồn vốn cho các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng.
Nhu cầu vốn cho nền kinh tế đè nặng lên vai các ngân hàng thương mại. Khi
TTCK ra đời, nó tạo ra một kênh huy động vốn trực tiếp, thu hút nguồn tiền
nhàn rỗi trong công chúng để đầu tư cho doanh nghiệp, san sẻ gánh nặng cho

11

ngân hàng. Đây được coi là giá trị nổi bật, có ý nghĩa lâu dài và đáng được đề
cao nhất của TTCK sau hơn 7 năm hoạt động.
Thứ hai, là yếu tố minh bạch hóa hoạt động của doanh nghiệp. Khi
chưa có TTCK, hoạt động của hầu hết doanh nghiệp có hạn chế lớn là không
công khai, không minh bạch, quản trị doanh nghiệp hầu hết đều yếu kém. Khi
tham gia TTCK, yếu tố đầu tiên phải thay đổi của doanh nghiệp là việc công
khai hóa, minh bạch hóa hoạt động của doanh nghiệp, cải thiện công tác quản
lý và quản trị doanh nghiệp để đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư và của
thị trường.
Thứ ba, TTCK đã tạo ra một kênh hiệu quả trong việc thu hút nguồn
vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài. Bên cạnh nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài thì nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đang ngày một tăng mạnh
mẽ, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế.

nhằm mục đích thu lợi từ việc mua bán chứng khoán của mình. Khác với các
chủ thể tham gia mua bán hàng hoá ở các thị trường hàng hóa thông thường,
nhà đầu tư trên TTCK vừa đóng vai trò là người mua vừa là người bán các
loại chứng khoán trên thị trường. Trên TTCK, nhà đầu tư mua các loại chứng
khoán không nhằm mục đích tiêu thụ hoặc sử dụng các loại chứng khoán mà
họ mua về mà nhà đầu tư thực hiện việc mua đi, bán lại các loại chứng khoán
giao dịch trên thị trường nhằm mục đích kiếm lời từ việc mua bán của mình.
Cùng với sự phát triển của thị trường, khái niệm nhà đầu tư theo quy
định của pháp luật Việt Nam cũng có những thay đổi. Tại khoản 22 Điều 2
Nghị định 48/1998/NĐ-CP qui định: "Người đầu tư là người sở hữu chứng
khoán, người mua hoặc dự kiến mua chứng khoán". Theo khái niệm này, thì
nhà đầu tư chứng khoán có thể bao gồm những người đã mua chứng khoán và
đang nắm giữ chúng hoặc những người có ý định mua chúng. Nghị định
144/2003/NĐ-CP không đưa ra định nghĩa về nhà đầu tư. Đến Luật Chứng
khoán năm 2006 thì khái niệm "Nhà đầu tư" được quy định là tổ chức, cá
nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên TTCK.

13

Với quy định như trên, khái niệm nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam đã được
mở rộng và có nội dung đầy đủ hơn. Theo quy định của Luật Chứng khoán,
nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam bao gồm cả tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước, có sở hữu, tham gia mua bán các loại chứng khoán trên TTCK Việt
Nam. Với quy định nhà đầu tư là các tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức cá
nhân nước ngoài có tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường, Luật
Chứng khoán đã quy định đầy đủ hơn về các đối tượng được phép mua bán
chứng khoán trên TTCKTT. Các tổ chức, cá nhân mua bán chứng khoán ở
đây không còn đơn giản là các cá nhân, các tổ chức đơn thuần mà nó còn
được hiểu là các công ty quản lý quỹ, các công ty đầu tư, các quỹ đầu tư (các
tổ chức đầu tư chuyên nghiệp) cũng được phép tham gia vào TTCK Việt Nam.

trung gian, các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư
chứng khoán thực hiện việc mua bán chứng khoán một cách chuyên nghiệp,
là một trong những lĩnh vực hoạt động chính. Nhà đầu tư tổ chức không
chuyên nghiệp là các tổ chức thực hiện việc mua bán chứng khoán không
thường xuyên và không chuyên nghiệp với mục đích tạo thêm nguồn thu nhập
bổ sung [12, tr. 9-10].
1.3. CÁC QUYỀN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN TẬP TRUNG
Nhà đầu tư trên TTCKTT trong mối quan hệ với tổ chức niêm yết họ
còn có tư cách cổ đông. Điều đó có nghĩa là nhà đầu tư có đầy đủ các quyền
và lợi ích của cổ đông đối với tổ chức niêm yết theo đúng quy định của pháp
luật về doanh nghiệp, ví dụ như quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng
cổ đông, quyền tham gia quản lý doanh nghiệp nếu dồn đủ số cổ phần quy
định, quyền kiểm tra các sổ sách, báo cáo tài chính của doanh nghiệp, quyền dồn
phiếu để bầu thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, quyền khởi kiện ra

15

tòa án nếu thủ tục tiến hành Đại hội đồng cổ đông không theo luật định,
quyền nhận cổ tức Tuy nhiên, các quyền của cổ đông được điều chỉnh bằng
một hệ thống văn bản pháp luật khác là hệ thống pháp luật về doanh nghiệp.
Còn xét từ góc độ pháp luật chứng khoán thì nhà đầu tư có các quyền
đặc trưng liên quan đến việc mua, bán chứng khoán trên thị trường giao dịch
tập trung, đó là quyền được tham gia thị trường để thực hiện việc mua bán
chứng khoán, quyền được cung cấp đầy đủ thông tin thị trường để đảm bảo
việc mua bán chứng khoán được công bằng, minh bạch, và quyền được bảo
vệ tài sản đầu tư.
1.3.1. Quyền tham gia thị trường và thực hiện các giao dịch chứng khoán
Đầu tư chứng khoán là khái niệm chỉ hoạt động mua bán, chuyển
nhượng các loại chứng khoán của các nhà đầu tư trên TTCK. Hiểu theo nghĩa

thì giao dịch của nhà đầu tư mới được coi là thành công và mang lại lợi nhuận
cho họ.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu quyền tham gia thị trường và thực hiện
các giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư là quyền được mở tài khoản giao
dịch chứng khoán và thực hiện các giao dịch mua bán các loại chứng khoán
trên TTCKTT theo nguyên tắc: nhà đầu tư có quyền đặt lệnh nhanh nhất,
thuận tiện nhất. Lệnh giao dịch của nhà đầu tư được tiếp nhận, xử lý một cách
minh bạch nhất, công bằng nhất và không bị xâm phạm bởi bất kỳ một chủ
thể nào. Trong đó:
- Nguyên tắc đặt lệnh nhanh chóng, thuận tiện nhất phản ánh việc nhà
đầu tư có thể đặt lệnh mua bán chứng khoán của mình tại bất kỳ thời điểm
nào trong thời gian giao dịch, việc đặt lệnh của nhà đầu tư được thực hiện một
cách dễ dàng, thuận tiện không bị cản trở hoặc hạn chế. Lệnh đặt được tiếp
nhận, xử lý và truyền vào hệ thống giao dịch một cách nhanh chóng để đảm
bảo thứ tự ưu tiên sớm nhất để khớp lệnh.
- Nguyên tắc lệnh giao dịch của khách hàng được tiếp nhận, xử lý một
cách minh bạch, công bằng và không bị xâm phạm bởi bất kỳ một chủ thể nào

17

phản ánh việc lệnh giao dịch của nhà đầu tư phải được đối xử công bằng,
minh bạch, không có sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư khác nhau. Lệnh
giao dịch của bất kỳ nhà đầu tư nào với số lượng và giá trị như thế nào cũng
được đối xử một cách công bằng với các lệnh của các nhà đầu tư khác, không
có sự phân biệt đối xử. Các lệnh giao dịch của nhà đầu tư phải được đảm bảo
đúng nội dung, bản chất, trình tự và không có sự xâm phạm, tác động của bất
kỳ tổ chức, cá nhân nào tham gia vào quá trình đặt lệnh mua bán chứng khoán
của các nhà đầu tư.
Như chúng ta đã biết, TTCKTT là một thị trường đặc biệt. Thị trường
được tổ chức, quản lý bởi những cơ quan, tổ chức đặc thù, có chức năng và

niêm yết trên thị trường tập trung, nhà đầu tư sẽ đặt lệnh mua/ bán tại công ty
chứng khoán mà mình đã mở tài khoản;
(ii) Khi nhà đầu tư đặt lệnh mua/ bán chứng khoán đảm bảo đúng các
nội dung theo quy định và hợp lệ, Công ty chứng khoán sẽ thực hiện việc
truyền lệnh vào trạm đầu cuối của Công ty chứng khoán đặt tại TTGDCK/
SGDCK để nhập vào hệ thống giao dịch. Các lệnh đã được truyền vào sẽ
được đại diện giao dịch của Công ty chứng khoán nhập vào hệ thống giao
dịch của TTGDCK/ SGDCK để khớp lệnh. Việc nhập lệnh của các đại diện
giao dịch của các công ty chứng khoán sẽ được thực hiện một cách thủ công
bằng cách các đại diện sàn nhập từng lệnh đã truyền vào trạm đầu cuối của
công ty chứng khoán mở tại TTGDCK/ SGDCK vào hệ thống giao dịch của
TTGDCK/ SGDCK đã mở cho từng công ty chứng khoán thành viên.
(iii) Các lệnh mua bán chứng khoán của khách hàng sau khi được nhập
vào hệ thống giao dịch của TTGDCK/ SGDCK sẽ so khớp với các lệnh đối
ứng theo nguyên tắc ưu tiên về giá và thời gian. Theo đó, các lệnh mua có
mức giá cao hơn sẽ được thực hiện trước, các lệnh bán có mức giá thấp hơn sẽ
được thực hiện trước. Trường hợp các lệnh mua hoặc lệnh bán có cùng mức
giá thì lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được thực hiện trước.
Với phương thức nhận lệnh và truyền lệnh như trên, có thể dễ dàng
nhận thấy có rất nhiều chủ thể và yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyền của nhà

19

đầu tư khi tham gia đặt lệnh trên TTCKTT. Với một phương thức giao dịch
mua bán trực tiếp, các nhà đầu tư có thể tự mình thực hiện các giao dịch mua
bán theo ý định của mình mà không chịu tác động của bất kỳ chủ thể nào hoặc
không có bất kỳ yếu tố nào tác động đến quyết định mua bán cũng như
phương thức thực hiện lệnh giao dịch của mình. Ngược lại, khi tham gia
TTCKTT, có sự tham gia của nhiều chủ thể vào một giao dịch mua bán, các
lệnh mua bán chứng khoán của nhà đầu tư chắc chắn sẽ bị chi phối bởi các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status