BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________
Nguyễn Thị Ngân Sương
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
:
TS. HỒ QUỐC HÙNG
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới truyện cổ tích - thế giới của những giấc mơ dân gian, đẹp đẽ vô
ngần. Trong thế giới ấy, những giấc mơ đã thành hiện thực và cũng còn rất
nhiều ước mơ chỉ là ước mơ mà thôi. Khám phá thế giới cổ tích là bước vào
thế giới vô cùng vi diệu của những điều trần tục trong thế giới của những ông
Bụt, bà Tiên và những phép nhiệm màu
kỳ ảo. Do vậy, bước vào thế giới cổ
tích để sống với những ước mơ của dân gian cũng chính là để sống với những
ước mơ của chính mình, mong muốn mình sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Tâm lý của
người sáng tạo truyện cổ tích và những người đọc cổ tích là đón chờ một điều
gì đấy công bằng tốt đẹp, nhìn thấy cái thiện được thưởng xứng đáng và cái ác
bị trừng trị:
“Ở hiền thì lại gặp hiền,
Người ngay thì gặp người tiên độ trì”.
và tin rằng thế giới cổ tích có điều nhân quả. Sức hấp dẫn của truyện cổ tích
rất mạnh và không thể phủ nhận được.
Đề tài “Những hình thức thưởng phạt trong truyện cổ tích Việt Nam”
dựa vào nguồn khảo cứu, sưu tầm của kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
của
nhiều nguồn truyện khác nhau. Bên cạnh đó, cùng với những bài viết, những
công trình nghiên cứu của nhiều người đi trước kết hợp trực tiếp với việc
nghiên cứu tác phẩm, người viết có cơ sở xác tín hơn để nghiên cứu. Đó là
những cơ sở sau đây:
1.1. Kết cấu của truyện cổ tích thường được tổ chức theo mô hình. Mô típ
phổ biến t
hêm
những kiểu mang tính quy luật.
1.3. Tất cả truyện cổ tích nói chung và một số truyện cổ tích có chứa hình
thức thưởng phạt đều gặp nhau ở các mô-típ cơ bản: m
ô- típ chàng trai, cô
gái, người nông dân… nghèo khổ, bất hạnh xuất hiện, gặp khó khăn trở ngại
trong cuộc sống; Bụt, tiên hoặc một ai đó hiện ra giúp đỡ, chỉ dẫn cho họ (trao
cho một công cụ chinh phục), loại trừ hay chiến thắng kẻ khác, cứu được người tốt thoát khỏi hoạn nạn, cho được hưởng cuộc sống hạnh phúc với giấc
mơ thay đổi cuộc đời đã thành hiện thực (làm quan, làm phò mã, lên ngôi trị
vì, giàu sang, cưới được vợ đẹp…); còn kẻ ác, kẻ xấu bị trừng trị (bị trừng
phạt, bị đày đi biệt xứ, hóa kiếp thành những con vật nhỏ bé, dơ bẩn…).
Nghiên cứu hình thức thưởng phạt trong cổ tích vì
vậy không thể tách rời với
việc nghiên cứu về những mô- típ cơ bản để phát hiện ra những cách biểu đạt
riêng của thể loại. Hơn nữa, nghiên cứu truyện cổ tích của các dân tộc khác
nhau trên cơ sở vừa khảo sát vừa đối chiếu so sánh để qua đó nhận diện
những nét khu biệt trong diện mạo văn hóa của từng dân tộc. Từ công việc
nghiên cứu này, chúng ta thấy rõ hơn sự độc đáo và tính đa dạng trong đời
sống văn hóa các dân tộc anh em Việt Nam.
Với những lý do trên, đề tài được chọn theo chúng t
ôi nhằm hệ thống hóa
lại các dạng thức thưởng phạt được xem như là một phần kết cấu quan trọng
của thể loại.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu kết cấu truyện cổ tích từ trước đến nay vẫn được nhiều người
quan tâm. Vì vậy, tình hình tư liệu về nguồn t
ruyện cổ tích rất phong phú.
hư
trong truyện cổ người Việt mà là cây cỏ, con thú…quen thuộc của người dân
miền núi. Như vậy trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã giúp
cho người đọc thấy sự phong phú, đa dạng của các loại mô- típ, kiểu truyện
của nhiều dân tộc có điều kiện sống khác nhau và nét độc đáo của truyện cổ
từng dân tộc trong cách nhìn nhận, phản ánh đời sống hiện thực. Ở đôi chỗ,
hai tác giả cũng có cái nhìn đối
sánh về yếu tố thần kì của truyện cổ tích của
các dân tộc. Công trình nghiên cứu ấy đã khơi nguồn, tạo cơ sở cho chúng tôi
trong cái nhìn nghiên cứu, đối sánh giữa hình thức thưởng phạt của các dân
tộc khác nhau trên dải đất Việt Nam. Trong mục Truyện cổ tích trong Từ
điển văn học, tác giả Chu Xuân Diên nêu lên những đặc điểm cơ bản về
phương pháp sáng tác truyện cổ tích thần kì là vai trò quan t
rọng của yếu tố
thần kỳ trong kết cấu. Quá trình dẫn dắt câu chuyện biểu hiện ở chỗ yếu tố thần kì can thiệp vào cốt truyện dẫn đến kết thúc có tính chất ước mơ là sự đổi
đời của nhân vật chính. Nhân vật được cấu tạo theo hai tuyến thiện- ác, nhân
vật thiện xây dựng theo khuynh hướng lý tưởng hóa tượng trưng cho cái tốt
còn nhân vật ác thể hiện theo khuynh hướng phê phán xã hội thể hiện cho cái
xấu, thế lực tàn bạo. Tuy nhiên công trình chưa thể hiện được tính hệ thống
các mô hình thưởng phạt. Cũng cùng quan điểm n
hư trên, tác giả Lê Chí Quế
(phần Truyện cổ tích trong Văn học dân gian Việt Nam) cũng nhấn mạnh
vai trò của yếu tố thần kì. Theo ông, trong truyện cổ tích thần kỳ, yếu tố này
chi phối mọi hành động của cốt truyện còn trong truyện cổ tích thế sự, yếu tố
này nhạt dần và mất dần lối kết thúc có hậu. Nó chỉ có ý nghĩa tô đậm một
yếu tố nào đó trong kết cấu mà thôi (chẳng hạn như cái chết của nhân vật
trong truyện Trầu Cau). Trong phần viết về truyện cổ tích (sách Văn học dân
2.3. Trong chuyên luận Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học, GS
Chu Xuân Diên đã tập hợp, phân tích những bài nghiên cứu của nhiều tác giả
về truyện cổ tích đã gợi lên những hướng tiếp cận cho chúng tôi trong quá
trình đi sâu vào lý giải các hình thức thưởng phạt. Chuyên luận chỉ ra cơ sở
khoa học và sự thành công của các côn
g trình nghiên cứu chính là việc dựa
vào dân tộc học để bóc tách các lớp lịch sử văn hóa và để lý giải những truyện
cổ tích cụ thể. Ở mục “Tinh thần phê phán xã hội và lý tưởng dân chủ
nhân đạo trong truyện cổ và các thể tài khác ở giai đoạn đầu của chế độ
phong kiến” (Trích “Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam,
1974” của Cao Huy Đỉnh), tác giả đã phỏng đoán khoa học về các mốc lịch sử
xã hội làm cơ sở cho sự hình thành cốt truyện. Theo đó, truyện “Trầu cau”
phản ánh sự xung đột giữa hai quan niệm và hình thái hôn nhân: chế độ quần
hôn thời mẫu hệ và chế độ hôn nhân, gi
a đình, lứa đôi thời phụ hệ còn “Tấm
Cám” phản ánh nền kinh tế phụ quyền và cơ sở xung đột bước đầu có tính
chất giai cấp, truyện “Cây khế” đề cập đến mối quan hệ anh chị em trong gia
đình phụ quyền. Một số công trình khác như: “Qua tục ăn trầu và truyện
trầu cau của người Việt bàn về mối quan hệ anh em, vợ chồng” (Tạp chí
văn học số 1-1984) của Tăng Kim Ngân), “ Chủ đề thử tài kết hôn- Sự biến
đổi từ phong tục dân tộc học đến mô típ truyện cổ tích thần kỳ” (Trích
Tạp chí văn hóa dân gian, số 3- 1997), “Ng
hiên cứu nhân vật xấu xí mà có tài trong truyện cổ tích các dân tộc” (Tạp chí văn học số 4-1985) của
Nguyễn Thị Huế, “Đề tài hôn nhân trong truyện cổ tích thần kì Mường”
của Nguyễn Thái Thuyên, “ Từ nhân vật của truyện cổ tích thần kì đến
những nhân vật ẩn mình trong hình thức thưởng phạt…
2.5. Đáng chú ý hơn nữa là chuyên luận nghiên cứu về truyện cổ tích của
GS. Chu Xuân Diên
về “Về cái chết của mẹ con Cám” (Tạp chí văn hóa dân
gian số 2, 1999). Chuyên luận này đã tập hợp những bài nghiên cứu khác
nhau viết về kết thúc truyện Tấm Cám và cũng từ đó tác giả đã phân tích và
rút ra kết luận là trả t
hù hay trừng phạt. Thông qua công trình này tác giả cũng
đi sâu vào nghiên cứu một số mô típ trong truyện và lý giải nguồn căn của
những mô típ ấy. Tác giả của bài viết rất công phu trong việc tìm hiểu vốn
văn hóa cổ của Việt Nam và các nước trên thế giới. Quan trọng hơn tác giả rất
thận trọng trong cách đánh giá vấn đề, bám sát các nguyên tắc nghiên cứu
phônclo, lý giải các mô típ và các thành tố nghệ thuật khá thuyết phục. Tác
giả đã đưa ra phỏng đoán như sau: “Các tình tiết làm thành đoạn kết của
truyện “Tấm Cám” không phải là do “quyền tự do sáng tạo của dân gian”,
mà là những mô típ, hay nói đúng hơn, những biến thể của những mô típ có
nguồn gốc từ thực tại và quan niệm thực tại của những con người thời xưa.
Những mô típ ấy đã trải qua quá trình được nhào nặn lại không phải là tùy
tiện mà có qui
luật, theo một lôgic không phải lôgic của lối cảm, lối nghĩ, lối
sống hiện đại, mà lôgic của tư duy cổ tích” [9, tr.13]. Trong những mô típ của
truyện “Tấm Cám”, tác giả xác định được mô típ chính của truyện là mô típ
trừng phạt biểu thị cho tư tưởng cái ác bị trừng phạt (theo bản kể của Vũ
Ngọc Phan thì mô típ này chuyển sang dạng mô típ trả thù- và hai mô típ
dùng để miêu tả cái chết “chết do dội nước sôi” và “mẹ ăn thịt con”). Kết thúc
truyện bằn
g hai mô típ song song “cái ác bị trừng phạt”, “mẹ ăn nhầm thịt
con” và chết, cái thiện được ban thưởng. Dù rằng công trình này chỉ đi sâu
nghiên cứu các vấn đề liên quan đến một truyện cổ tích cụ thể nhưng qua đây
khảo sát. Do đó, trong chừng mực có thể chúng tôi cũng không loại trừ những
truyện đồng dạng với nhau trong việc khảo sát vì công việc của đề tài bao
hàm
cả quá trình so sánh các hình thức thưởng phạt giữa các dân tộc với nhau. Do thời gian có hạn, chúng tôi chỉ có thể lấy truyện khảo sát chủ yếu từ nguồn
truyện cổ tích thần kì của các dân tộc thuộc dạng kết thúc có hậu.
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi
sử dụng khoảng 120 truyện của hai
mươi bốn dân tộc anh em để nghiên cứu. Đây là những tộc người tương đối
lớn ở Việt Nam và có đời sống vật chất và tinh thần khá đa dạng, phong phú.
Chúng t
ôi cũng hi vọng và tin tưởng rằng số lượng truyện như thế phần nào
cũng thể hiện những đặc điểm cơ bản nhất của hình thức thưởng phạt của Việt
Nam nói chung và từng nhóm dân tộc nói riêng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã sử dụng những phương
pháp nghiên cứu văn học dân gian như phương pháp nghiên cứu liên ngành và
phương pháp so sánh. Chúng tôi cũng đồng thời vận dụng song song các thao
tác khảo sát, thống kê, hệ thống và phâ
n tích để hỗ trợ cho những phương
pháp nêu trên.
Trong
quá trình tìm hiểu các hình thức thưởng phạt cũng như lý giải các
giá trị thẩm mỹ trong quan niệm xưa của dân gian ở các dân tộc khác nhau,
người viết không tùy tiện suy diễn mà đều dựa vào những cơ sở khoa học và ý
nghĩa thực tiễn của những kết luận. Trong quá trình khảo sát, phân tích, đánh
giá, người viết có liên hệ, so sánh hình thức thưởng phạt của các dân tộc với
như sau:
Danh mục truyện chọn k
hảo sát
Gồm
có 120 truyện của hai mươi bốn dân tộc trên đất nước Việt Nam.
1. Dân tộc Kinh
1. Sự tích chim tu hú
2. Sự tích con m
uỗi.
3. Sự tích con khỉ.
4. Sự tích con mối hay Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho.
5. Bốn người bạn.
6. Con chó, con mèo và anh chàng nghèo khổ.
7. Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng. 8. Ông thần núi xanh và anh chàng họ Lục
9. Lấy chồng dê
10. Mụ dì ghẻ ác nghiệt hay Sự tích con dế.
11. Cô gái muốn lấy chồng hoàng tử
12. Ai mua hành tôi hay Lọ nước thần.
13. Bính và Đinh.
14. Cây khế.
15. Của Thiên trả Địa.
16. Bán tóc đãi bạn.
17. Hai cô gái và cục bướu
18. Sọ Dừa.
19. Cây tre trăm đốt.
20. Chữa bệnh cho Long Vương.
21. Tấm Cám.
2. Chau Bay Cà Đâng hay Chàng Cơm Cháy.
3. Sóc lành, S
óc ác hay Sự tích hoa cỏ may.
4. Niêng Mô-mắc -
mê -đa hay Cô gái mồ côi.
5. Chau Sanh và Chau Thong.
6. Mê Núp.
7. Hai cây khế.
8. Cối xay thần.
9. Niềng Kòn-Tuốc và Niềng Chông-Ầng-Kam.
4. Dân tộc Thái
1. Lúa ch
àng Nai.
2. Chàng Hoa Đất.
3. Nàng Khao, Nàng Đăm.
4. Ý Noọng, Ý Ưởi.
5. Tham thì thâm.
6. Chàng Rùa. 7. Nàng Han.
8. Nàng tiên trứng.
5. Dân tộc Vân Kiều
1. Ta lăn, Ta lê.
2. Sự tích chim thù thì.
3. Cá bống t
hần.
4. Rú Roọc Xađie.
5. Xi Piệc Nhe Nhe.
6. Piềng Riềng.
2. Hố vàng hố bạc.
3. Hoàng tử Rù
a Trắng.
4. Chuyện Hột Nhồi.
11. Dân tộc Gia Rai
1. Chàng Lợn.
2. Bà Pôm và Y Rít.
3. H’Bia Rác lấy chồng chồn.
12. Dân tộc Cơ tu
1. A lan và A ly
2. Ông Hùi.
3. Mụ dì ghẻ ác độc và hai đứa con chồng.
13. Dân tộc Ê-đê
1. H’
Bia Ngo.
2. Ru
m Dú với gái nhà trời.
14. Dân tộc Giáy
1. Hai anh em
mồ côi.
2. Bảy chị em
.
3. Quả bầu ước.
15. Dân tộc H’
rê 1. Nàng tiên thứ chín
2. Hai dòng suối
3. Ú và Cao
1. Gơ-lui Gơ-lát.
6. Cấu trúc khóa luận
Khóa luận gồm có 109 trang (không kể Phụ lục). Ngoài Phần mở đầu (18
trang) và Phần kết luận (3 trang), luận văn gồm hai chương sau đây:
Chương 1: Đặc diểm các hình thức thưởng- phạt trong truyện cổ tích
Việt Nam.
Trong
chương này, luận văn có nhiệm vụ đi tìm các đặc điểm của hình thức
thưởng- phạt trong truyện cổ tích Việt Nam. Từ những nguồn truyện đọc
được, chúng tôi thống kê, sắp xếp chúng theo từng nhóm
riêng: nhóm truyện
chỉ có một hình thức thưởng, nhóm truyện chỉ có một hình thức phạt và nhóm
truyện có hình thức thưởng và phạt. Sau đó, luận văn đi vào miêu tả từng
nhóm có chứa các hình thức thưởng phạt như đã phân loại trên và tìm ra
nguyên tắc, cách thức thưởng và phạt trong từng nhóm nhỏ. Thông qua đó,
chúng tôi cố gắng lập sơ đồ, mô hình hóa các hình thức thưởng phạt của l
oại
hình tự sự gian dân này. Và từ đó chúng tôi đưa ra những đặc điểm của các
hình thức thưởng – phạt.
Để làm đư
ợc nhiệm vụ này, chúng tôi đã tiến hành những bước như sau:
1.1. Giới thuyết về hình thức thưởng – phạt
1.2. Phân loại, m
iêu tả các hình thức thưởng – phạt.
1.3. Đặc điểm các hình thức thưởng – phạt.
Chương 2: Mối quan hệ giữa các hình thức thưởng- phạt và những mô
típ tiêu biểu.
Nhiệm vụ của chương l
Chương 1
:
ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC HÌNH THỨC
THƯỞNG PHẠT TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH
VIỆT NAM
Truyện cổ tích là tấm gương phản chiếu một cách phong phú và chân thực
đời sống dân tộc. Trong t
hể loại này, bên cạnh những phần tưởng tượng chen
lẫn với tâm lý chất phác, ngây thơ, tác giả dân gian bao giờ cũng thể hiện
niềm tin vào khả năng, tài nghệ khéo léo của con người cho đến những phẩm
chất tốt đẹp của họ. Vì vậy, phần lớn kết cục của truyện cổ tích, kẻ có tội
không tránh khỏi hì
nh phạt thích đáng bất kể kẻ có tội ấy thuộc tầng lớp nào
trong xã hội. Hình phạt cho kẻ ác thường rất khốc liệt, có khi tương xứng với
tội ác mà chúng gây ra thậm chí có lúc còn khủng khiếp hơn nhiều lần, còn
người lương thiện, dù là kẻ yếu, cuối cùng cũng chiến thắng và được nhận
phần thưởng. Phần thưởng cũng vô cùng xứng đáng, thỏa mãn ước mơ của
dân gian: giàu sang, sung sướng, hạnh phúc tột đỉnh. Cổ tích thường kết thú
c
bằng hai mô típ song song: cái thiện được ban thưởng, cái ác bị trừng phạt.
Nhờ kiểu kết cấu này mà truyện cổ tích sau khi khép lại đã mở ra cho người
đọc một thế giới kỳ diệu. “… Trong truyện cổ tích người ta bay lên không
trung ngồi trên một tấm thảm biết bay, đi đôi hia bảy dặm, phục sinh người
nhân vật vượt qua những khó khăn hay thử thách nào đó thì lập tức được trao
cho báu vật hay phương tiện t
hần kì để giành chiến thắng cuối cùng. Sự trợ
giúp này tiếp sức cho nhân vật vượt qua khó khăn để giành lấy phần thưởng
cuối cùng. Người em (trong truyện “Chữa bệnh cho Long Vương” của dân
tộc Kinh) liên tiếp có được những vận may từ con cầy hương biết múa và
những hóa thân của nó. Con cầy hương đã giúp anh có được nửa bầy trâu do
người lái buôn tặng thoát khỏi cảnh nghèo khó. Từ cái máng lợn (hóa th
ân
của con cày hương), anh nuôi trâu, nuôi lợn lớn nhanh như thổi. Cái lược chải
vào đầu làm mái tóc xanh và mượt hơn. Từ cái răng còn sót lại của lược
người em lấy làm cần câu thì câu được nhiều cá hơn và sau đó anh vì may
mắn có cơ hội gặp Long Vương để có hạnh phúc tột đỉnh sau này. Còn anh
chàng họ Lục trong “Ông Thần núi xanh và anh chàng họ Lục” may mắn
được ông Thần núi xanh kết bạn và giúp đỡ cho anh bộ óc thông minh để thi
đỗ Trạng nguyên có cơ hội thay đổi toàn bộ cuộc đời của mình. Sự trợ giúp
của những lực lượng siêu nhiên ban cho người lương thiện là những phương
tiện hoặc báu vật thần kì. Bằng những phương tiện như cung tên, chiếc lọ
chứa nước thần, cây đàn thần có khi
cả lốt rùa, lốt cóc xấu xí, họ vượt qua những chặng thử thách, đi tiếp cho đến hết chặng đường đấu tranh gian khổ
của mình.
Từ biểu hiện trên,
chúng tôi quan niệm, thưởng trong cổ tích được hiểu là
ước mơ của dân gian đã được thỏa mãn và đó là sự hạnh phúc, niềm vui, sự
giàu sang phú quý, danh vọng và quyền lực ….Tất cả dành cho những con
người có phẩm chất đạo đức, có cách ứng xử phù hợp với đạo lý làm người.
Phần thưởng dành cho nhân vật cũng đồng nghĩa với sự đền bù: đền bù cho
mình. Có khi là sự ban tặng, cho nhân vật những gì mà họ không có, chỉ mơ
ước thôi. Dân gian thường ban tặng cho nhân vật lý tưởng sắc đẹp tuyệt đối
(mang một diện mạo mới- thường là trở nên xinh đẹp hơn…), sự thông m
inh,
tài trí, sự giàu sang phú quý, có sức khỏe vô địch, có hạnh phúc tột đỉnh (việc
kết hôn với công chúa, cô gái đẹp hay hoàng tử, được bầu làm Xuất hoặc làm
Anha)… Và bao giờ cũng vậy phần thưởng cuối cùng là cao quý nhất, lớn
nhất mà nhân vật đã đạt được. Dân gian nhiều khi chối bỏ cả chức tước và địa
vị để sống cuộc sống thanh bình, yên ổn.
Cuối cùng, hai con người hiền lành, tốt bụng (t
rong truyện “Rú Roọc và
Xađie” của dân tộc Vân Kiều) nên vợ chồng, dựng nhà bên bờ suối bốn mùa
có gió hát bên bờ lau, có chim ca trong rừng rậm. Họ yêu thương nhau hơn cả
chim triền, chim cuốc sánh đôi giữa rừng có bếp lửa vây quanh giữa nhà cùng
với tiếng cười, lời âu yếm của vợ chồng lại có tiếng khóc của trẻ con, ấm áp
hạnh phúc vô cùng. Họ không phải lo sợ sự chia cắt, lo sợ người chị của mình
hãm hại nữa.
Vì
truyện cổ tích thể hiện niềm tin của dân gian về sự công bằng, về sự
chiến thắng cuối cùng của cái thiện cho nên nhân vật chính diện bao giờ cũng
là nhân vật được dân gian trao cho phần thưởng xứng đáng. Trong truyện cổ
tích, chúng tôi nhận thấy những nhân vật được ban thưởng trước hết là n
hững
người có nguồn gốc xuất thân và cuộc đời đau khổ, bất hạnh. Đó là những con
người có hình dạng xấu xí, người mang lốt vật (Sọ Dừa, nàng Cóc, nang Út
trong ống tre, chàng Rùa, chàng Rắn, chàng Trăn, cu Vách- Ốc Sên, chàng
Gù, chàng Ghẻ, em bé Nhọ Nồi…) nhưng ẩn chứa bên trong là những tấm
lòng nhân ái cao đẹp. Hay đó còn là những con người vừa có sức mạnh thể
âm binh, âm tướng ở cõi âm, các thần sông nước, ông Bụt, bà Tiên, các vị
thần (Thổ thần, thần núi…), có khi người giúp đỡ là Vua, là Xuất, A-nha có
1
R.Gamadatốp, Bài ca về những truyện cổ tích của tuổi thơ tôi, Chuyển dẫn theo Đỗ Bình
Trị - Trần Đình Sử, Sách đã dẫn, tr. 150.