1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
1. Văn học dân gian giữa một vai trò quan trọng trong lịch sử văn học dân
tộc. Đó là một trong những kho tàng lưu giữ những điều tinh túy nhất mà ông
cha ta để lại.
Trong kho tàng văn học dân gian các dân tộc, truyện cổ tích là một trong
những thể loại quan trọng trong các thể loại tự sự dân gian. Thể loại này nảy
sinh và phát triển trên cơ sở cuộc sống muôn hình muôn vẻ của các dân tộc và là
một trong những tấm gương trung thành nhất phản ánh cuộc sống đó. Bên cạnh
đó nó còn là một thể loại hấp dẫn, mở ra trước mắt người đọc một “thế giới cổ
tích với chất thơ bay bổng, với ước mơ lãng mạn, với sức cuốn hút kì diệu” [19,
30]. Truyện cổ tích có sức hấp dẫn mạnh mẽ và được lưu truyền rộng rãi từ nông
thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi, nó thu hút tất cả các đối tượng
trong xã hội từ trẻ con đến người lớn, từ người mù chữ đến các học giả.
Truyện cổ tích được xem là “Công trình đan dệt bằng nghệ thuật ngôn từ
(…) những sợi tơ muôn màu của nó lan tỏa khắp bốn phương trời, phủ lên trí
đất một tấm thảm ngôn ngữ đẹp lạ lùng”. [ 30, 170]
Xuất phát từ lòng yêu thích, từ sự say mê khám phá, tiếp cận thế giới
truyện cổ tích. Chúng tôi đã lựa chọn thể loại truyện này để nghiên cứu, tìm hiểu
những nét đặc sắc của thể loại.
Có thể nói, đến với truyện cổ tích con người tìm thấy ở đó tình yêu và khao
khát vươn tới cuộc sống hạnh phúc với bao điều kì lạ mà thực tại không có.
Không một bộ phận truyện dân gian nào có số lượng và thành phần nhân vật
đông đảo, đa dạng và phức tạp như truyện cổ tích. Nếu như những vấn đề của
hiện thực đời sống, những xung đột mâu thuẫn trong gia đình và xã hội được
phản ánh tập trung trong các hình tượng nhân vật chính diện hay phản diện, thì
những khao khát và lí tưởng xã hội, thẩm mĩ của nhân dân lại được thực hiện
qua hình tượng nhân vật trung tâm của truyện cổ tích. Nói tới truyện cổ tích ta
không thể không nói tới các kiểu nhân vật đặc trưng của thể loại này, trong đó
thời lượng trên lớp bị giới hạn về thời gian nên chúng tôi không được tiếp cận
sâu các kiểu truyện, kiểu nhân vật độc đáo trong thể loại. Đây chính là một trong
những lý do khác nữa để chúng tôi quyết định lựa chọn một hình tượng nhân vật
độc đáo trong thể loại truyện cổ tích để nghiên cứu thêm, tìm hiểu sâu hơn về
giá trị của thể loại văn học dân gian này.
II. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay truyện cổ tích vẫn là một vương quốc rộng lớn, mênh mông và
ẩn chứa nhiều điều bí ẩn cần được khám phá, chinh phục. Trong giới nghiên cứu
văn học dân gian đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về truyện cổ tích. Trong
đó có một số ý kiến quan tâm đến nhân vật người mang lốt vật, ở nhiều góc độ,
nhiều phương diện khác nhau.
Tác giả Chu Xuân Diên trong một công trình nghiên cứu về truyện cổ tích
đưa ra ý kiến bàn về nguồn gốc của kiểu nhân vật người mang lốt vật. Ông viết:
3
“Loại truyện cổ tích thần kì cũng có những yếu tố cổ xưa có liên quan đến
những quan niệm thần thoại và tín ngưỡng của con người thị tộc, bộ lạc. Thí dụ
như mẫu đề: người bỏ lốt vật (trong các truyện Lấy chồng Dê, Lấy vợ Cóc)… có
liên quan với quan niệm vạn vật hữu linh và tín ngưỡng vật tổ”. [12, 205]
Đồng thời ông cũng đề cập đến nghệ thuật khắc họa nhân vật này một cách
cụ thể: “Truyện cổ tích thần kì đã miêu tả những nhân vật bất hạnh ấy theo
khuynh hướng lí tưởng hóa. Đó là những con người tuy ở vào những địa vị rẻ
rúm trong gia đình và xã hội nhưng lại có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, có tài
năng, đôi khi có những tài năng phi thường. Đó là những con người vừa đẹp
nết, lại vừa đẹp người, ở một số truyện (như truyện Sọ Dừa, Lấy vợ Cóc ) tuy
lúc đầu xấu xí, dị dạng, nhưng cuối cùng bao giờ cũng trở thành người đẹp
tương xứng với tài năng và phẩm chất của mình”. [12, 205]
Tác giả Lê Chí Quế trong tiểu luận “Truyện cổ tích” cũng đề cập tới nguồn
gốc và sự xuất hiện đặc biệt của các nhân vật mang lốt trong truyện cổ tích:
“Trong kho tàng truyện cổ tích thần kì Việt Nam, cũng như truyện cổ tích thế
đã nhấn mạnh đến tài năng, vật phù phép của nhân vật xấu xí, dị dạng: “Tài
năng của nhân vật xấu xí, dị dạng thường là: hóa phép thành chàng trai có sức
khỏe, trẻ, đẹp hoàn mĩ, nên đủ sính lễ cưới cũng như làm được những công việc
thử thách khó khăn”. Như nhân vật: “Sọ Dừa đã hóa thành chàng trai đẹp, biết
thổi sáo hay để chăn được đàn trâu lớn, lại chặt được củi, kiếm được nhiều dây
mây, chặt tre… Lệnh Trừ (con cóc xấu xí) đã hóa phép lạ đánh thắng giặc, lại
có tiên ông giúp, nên tìm được kiệu Công chúa trong 120 kiệu khác (truyện Lệnh
Trừ). Chàng Ếch biết kéo nhị giỏi và đánh giặc giỏi như trong truyện Ếch lấy
con Vua. Chàng Gù có bàn tay đổ đầy ba vựa thóc (truyện Chàng Gù). Chàng
Chồn có áo lông khi rũ áo thì hóa phép rất nhiều quân lính để đánh giặc (truyện
Chàng Chồn). Chàng Nhọ Nồi đã có chén cơm và con cá ăn mãi không hết trong
(truyện Em bé Nhọ Nồi). Chàng Cóc đã hóa ra nhà cao cửa đẹp trong (truyện
Chàng Cóc)… Các tài năng cùng những vật phù phép đã giúp cho nhân vật vượt
qua thử thách khó khăn nhất của ông bố cũng như thử thách cao nhất lo đủ sính
lễ để cưới cho được cô con gái xinh đẹp con phú ông hoặc con quan, con tướng,
con Vua…”. [10, 211]
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan khi tìm hiểu về “Kiểu truyện người mang
lốt vật trong truyện cổ tích truyện dân gian các dân tộc Việt Nam”, đã có kết
luận về kiểu nhân vật này như sau: “Nhân vật mang lốt thể hiện quan niệm đạo
đức… quan niệm thẩm mĩ của người Việt Nam” [9, 48-52]. Đồng thời tác giả
cũng đưa ra ý kiến về cuộc đời, số phận của nhân vật này: “Tuy hoàn cảnh xuất
thân khác nhau, nhưng các nhân vật này đều trải qua giai đoạn là con vật, nhân
vật thường phải chịu sự đối xử bất công, ghẻ lạnh của cộng đồng, thậm chí của
cả những người ruột thịt. Song cuộc đời đã đem lại cho số phận không may của
họ một sự đền bù xứng đáng, đó là việc nhân vật mang lốt kết hôn với cô gái
xinh đẹp, chàng trai nhân hậu”. [9, 78]
Trên cơ sở khảo cứu những bài viết, những công trình nghiên cứu văn học
dân gian có liên quan tới kiểu nhân vật người mang lốt vật trong truyện cổ tích,
chúng tôi nhận thấy. Các ý kiến trên mới chỉ dừng ở mức độ khái lược khi giới
thiệu, lúc phân tích về các kiểu nhân vật hay chỉ là khảo cứu thể loại cổ tích chứ
- Phương pháp thống kê: sử dụng chủ yếu trong việc khảo cứu, thống kê,
phân loại nhân vật người mang lốt vật trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam.
- Phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong
quá trình tìm hiểu đặc điểm, chức năng, vai trò của kiểu nhân vật người mang
lốt vật.
6
- Cùng với các phương pháp trên, việc sử dụng phương pháp phân tích, hệ
thống hóa đã giúp chúng tôi thấy được nét đặc sắc hấp dẫn của kiểu truyện
người mang lốt trong hàng loạt các kiểu truyện khác trong kho tàng truyện cổ
tích Việt Nam.
VI. Mục đích nghiên cứu
Khi thực hiện khóa luận này, chúng tôi nhằm đạt tới mục đích: Tìm hiểu
sâu về kiểu nhân vật người mang lốt vật trong truyện cổ tích Việt Nam. Chúng
tôi mong muốn hướng tới một giả thuyết: đặt nền móng cơ sở để tiếp tục nghiên
cứu kiểu nhân vật người mang lốt vật trong truyện cổ tích các dân tộc khác trên
thế giới.
V. Những đóng góp của khóa luận
Hoàn thành khóa luận này, chúng tôi mong muốn góp phần vào thư viện
nhà trường một tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn sinh viên có cùng niềm
say mê văn chương hay yêu thích truyện cổ tích Việt Nam.
VI. Cấu trúc đề tài
Gồm 3 phần cơ bản:
- PHẦN MỞ ĐẦU
- PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT TƯ LIỆU VỀ KIỂU NHÂN VẬT NGƯỜI
MANG LỐT VẬT TRONG KHO TÀNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KIỂU NHÂN VẬT NGƯỜI
MANG LỐT VẬT
có sự thù hận, đố kị hay ganh ghét. Trong xã hội đó con người ta sống bình đẳng
với nhau trong sự đầy đủ về vật chất, hạnh phúc về tinh thần. Đồng thời truyện
cổ tích cũng phản ánh cả truyền thống đạo lý của dân tộc, triết lý nhân sinh theo
quan điểm của nhân dân lao động. Sống lạc quan yêu đời, thương yêu đùm bọc
lẫn nhau chính là cốt lõi của triết lý nhân sinh và đạo lý làm người của người
Việt được tác giả dân gian phản ánh đầy đủ trong các câu chuyện cổ tích.
Truyện cổ tích không phản ánh đời sống xã hội bằng trí tưởng tượng mang
tính chất hoang đường huyền thoại như thần thoại, cũng không lý tưởng hóa
hiện thực xã hội, mà sử dụng lối hư cấu cổ tích riêng. Phản ánh hiện thực xã hội
một cách độc đáo, tạo nên một thế giới cổ tích vừa hoang đường kỳ ảo, vừa gần
với thực tại, trong đó có sự biến hóa kỳ diệu của con người như chết đi sống lại
nhiều lần hoặc tái sinh trong kiếp cỏ cây, hoa lá, kiếp con vật đồ vật, rồi trút lốt
thành người… hình thành nên những mô típ nghệ thuật độc đáo, mô típ người
mang lốt vật, mô típ hóa thân từ người sang vật… hoặc kiểu truyện đặc sắc như
(kiểu nhân vật xấu xí mà có tài, kiểu truyện người mang lốt…)
1.1.2. Khái niệm “kiểu truyện”, “kiểu nhân vật”
8
“Kiểu truyện là tập hợp những truyện kể có mô típ cùng loại hình. Trong
một kiểu truyện có nhiều mô típ nhưng không nhất thiết mỗi truyện trong một
kiểu tuyện đó phải có đầy đủ cả mô típ đó nói chung” [15, 24]. Có thể thấy có
tương đối nhiều kiểu truyện khác nhau như: kiểu truyện người “mồ côi”, “con
riêng”, “dũng sĩ”, không thể không nhắc đến một kiểu truyện khá quan trọng đó
chính là kiểu truyện người mang lốt.
“Kiểu truyện người mang lốt là tập hợp những truyện kể về số phận của
những con người không có hình dạng hoàn chỉnh, do nhiều nguyên nhân phải
mang lốt các con vật… là các con vật gần gũi quen thuộc trong đời sống con
người, chúng được các nghệ sĩ dân gian mượn làm cái lốt, rồi trút lốt thành
người đã bộc lộ rõ quan niệm đạo đức cũng như quan niệm của nhân dân lao
động”. [9, 42]
hình hài con người bình thường, hoàn thiện mà mang hình hài các con vật hoặc
một lốt vật kì dị, người dị hình, dị dạng nào đó, có cuộc đời, số phận gặp nhiều
bất hạnh, nhân vật này luôn phải trải qua nhiều khó khăn thử thách. Nhưng sau
khi trút lốt thường trở thành những con người đẹp đẽ, hoàn thiện, hoàn mỹ cân
đối về ngoại hình và tài năng.
Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, đây là kiểu nhân vật xuất hiện khá
phổ biến trong truyện cổ tích thần kỳ. Kiểu nhân vật này xuất hiện mang cảm
quan thẩm mĩ đầy nhân văn của nhân dân lao động, gắn liền với lối tư duy hoang
đường kỳ ảo đầy sáng tạo của tác giả dân gian, bộc lộ rõ quan điểm đạo đức và
quan điểm nhân sinh của nhân dân lao động
1.1.3. Khái quát chung về kiểu truyện người mang lốt
1.1.3.1. Nguồn gốc của kiểu truyện
Theo kết quả của các nhà nghiên cứu thì kiểu truyện người mang lốt hình
thành trên cơ sở hai nguồn gốc chính:
Thứ hất: “kiểu truyện này có nguồn cội từ thần thoại, các nhân vật dị dạng,
đội lốt thú chuyển hóa thành nhân vật của truyện cổ tích thần kì. Sau khi thoát
khỏi lốt thú các nhân vật này trở thành con người trần thế có cái đẹp hài hòa,
cân đối giữa phẩm chất, tài năng với ngoại hình”. [9, 9]
Thứ hai: kiểu truyện này “ít nhiều có liên quan tới tín ngưỡng sùng bái tự
nhiên của con người cổ xưa. Cụ thể là từ tín ngưỡng tô tem vật tổ thời nguyên
thủy (sùng bái loài vật) mà nay không còn giữa nguyên ý nghĩa dân tộc học của
nó nữa…”. [9, 10]
Dù bắt nguồn từ cội nguồn nào đi chăng nữa thì kiểu truyện người mang lốt
đều là kết quả của sự sáng tạo tài tình song không kém phần táo bạo của tác giả dân
gian. Sự nhìn nhận mơ hồ về vạn vật với trí tưởng tượng bay bổng của người xưa,
đã dẫn dắt nhân vật có thể biến hóa từ người sang vật và ngược lại hay nhân vật là
người mang lốt các con vật, lốt vật kì dị, cũng có khi người dị hình, dị dạng. Chính
tính chất ly kỳ đã tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt của kiểu truyện người mang lốt, bên
cạnh đó nó còn góp phần làm nên nét đặc sắc cho thể loại cổ tích với sức sống bề
vững cho những câu chuyện trong kiểu truyện.
Đây là mô típ đóng vai trò quan trọng nhất trong kiểu truyện, nó xuyên suốt
kiểu truyện. Nghĩa là tất cả các câu chuyện đều xuất hiện nhân vật mang lốt.
Hình thức lốt mà các nhân vật chính phải mang thường gặp khá phong phú
và đa dạng. Nhân vật có thể mang lốt một cục thịt hay một bọc thịt như nhân vật
Sọ Dừa trong truyện Truyện Sọ Dừa (Việt) đã mang lốt một cục thịt… Cũng có
khi nhân vật lại mang lốt các con vật như nhân vật chàng Rùa trong truyện
11
Chàng Rùa (Thái) đã mang lốt một con rùa hay trong truyện Chàng Cóc (Ka
Dong) nhân vật đã mang lốt một con cóc… Bên cạnh đó còn có nhân vật mang
lốt người dị hình, dị dạng như: ghẻ lở, dị dạng khác thường. Chẳng hạn, nhân
vật chàng Lút trong truyện Chuyện chàng Lút (Xrê) mang lốt ghẻ lở, lốt dị dạng;
nhân vật nàng OBù trong truyện Cái dây lưng (Việt)…
Trong các hình thức lốt nói trên, hình thức lốt phổ biến, tiêu biểu nhất là lốt
các con vật. Vì thế nói tới hệ thống tư liệu truyện kể về nhân vật mang lốt chủ
yếu liên quan tới kiểu nhân vật mang lốt các con vật.
Tất cả các hình thức nói trên đều thể hiện trạng thái xấu xí, dị dạng ban đầu
của nhân vật, làm nên đặc điểm khác biệt của kiểu nhân vật trong kiểu truyện
người mang lốt .
* Mô típ trút lốt:
Đây là mô típ có ý nghĩa quan trong trong kiểu truyện mang lốt. Nhân vật
dù xuất hiện mang lốt xấu xí, dị dạng, kì dị, đồ vật hay con vật thì đều có sự trút
lốt để trở thành người đẹp đẽ: Nàng Kháy (Mường), Người vợ chim (Hmông),
Nàng ngón út (Chàm)…
* Mô típ thử thách:
Đây là mô típ khá phổ biến và xuất hiện trong hầu hết các câu truyện cổ
tích thuộc kiểu truyện này.
Sự thử thách đối với nhân vật biểu hiện dưới nhiều hình thức, nhiều cấp độ
và trong mối quan hệ của nhân vật. Bao gồm những loại thử thách cơ bản:
+ Thử thách về khả năng làm việc như nhân vật chàng Ếch trong truyện
nhân, mô típ thử thách, mô típ mang lốt, mô típ trút lốt).
Kết cấu cốt truyện cơ bản của kiểu truyện này có thể tóm tắt như sau: Nhân
vật mang lốt sinh ra là kết quả của cuộc hôn phối kì lạ, bất thường giữa người
với thần linh, mang đặc điểm dị dạng, dị hình (mang vẻ ngoài xấu xí có thể là
cục thịt, ghẻ lở, gù… hoặc mang lốt các con vật có thể là con ếch, con cóc, con
dê…). Nhân vật biết nói tiếng người, bị cộng đồng xa lánh, cười chê, xua đuổi.
Trải qua nhiều thử thách, chịu dựng nhiều đau khổ. Nhờ thần linh trợ giúp, nhờ
tài năng kì lạ mà lấy được vợ hoặc chồng, sống hạnh phúc, giàu sang. Sau khi
kết hôn thường trút lốt vĩnh viễn làm người đẹp đẽ hoàn thiện.
Kết cấu cốt truyện của kiểu truyện người mang lốt có thể mô hình hóa dưới
dạng cấu trúc 3 phần như sau:
Phần I (Mở đầu) : Sự ra đời, xuất hiện thần kì, khác lạ của nhân vật mang lốt.
Phần II (Diễn biến cốt truyện): Cuộc phiêu lưu của nhân vật mang lốt trong
cuộc sống, cả trong hôn nhân theo hành trình như sau:
1. Ra đi: - Rời nhà đi nơi xa (thuê nhà).
- Bước vào tình huống, hoàn cảnh khác thường (gây ra trở ngại cho một ai
đó bố hoặc mẹ của người có con mà nhân vật mang lốt muốn lấy làm vợ…).
2. Gặp thử thách, lực lượng thù địch.
13
- Có nhân vật thì có sự trợ giúp của lực lượng thần kì như (Thần tiên, Bụt).
- Có nhân vật chiến thắng bằng tài năng của mình.
Phần kết III (Kết thúc): Nhân vật mang lốt được đổi đời thay đổi số phận
trút lốt trở thành người đẹp đẽ, có cuộc sống hạnh phúc, ấm no, đổi đời. Cá biệt
có truyện, nhân vật vĩnh viễn mang lốt vật không trút lốt làm người hoặc nhân
vật đã có lần trút lốt thành người, nhưng sau một thời gian lại quay về lốt cũ
hoặc một lốt vật nào khác.
Kiểu truyện người mang lốt xuất hiện trong kho tàng truyện cổ tích Việt
Nam mang lại sự phong phú, đa dạng về kiểu truyện, kiểu nhân vật trong thể
loại này. Vượt nên ý nghĩa thông thường của những kiểu truyện cổ tích khác,
2.1. Tư liệu truyện kể xuất hiện kiểu nhân vật người mang lốt vật
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam,
bao gồm truyện cổ tích các dân tộc Việt (kinh) và một số các dân tộc thiểu số
khác như: Tây Nguyên, Thái, Dao, Hmông, Chàm… để tìm hiểu về sự xuất hiện
của các nhân vật người mang lốt vật.
Chúng tôi đã thống kê được 70/486 truyện cổ tích trong kho tàng truyện cổ
tích các dân tộc Việt Nam xuất hiện nhân vật người mang lốt vật. Con số này
cho thấy: Đây là kiểu nhân vật khá phổ biến, xuất hiện ở hầu hết truyện cổ tích
các dân tộc Việt Nam, nhưng xuất hiện nhiều nhất trong hệ thống truyện cổ tích
thần kỳ; ít xuất hiện trong truyện cổ tích thế sự có nhưng không đáng kể; trong
truyện cổ tích loài vật không xuất hiện kiểu nhân vật này. Vì vậy, có thể khẳng
định: nhân vật người mang lốt vật là kiểu nhân vật đặc trưng của truyện cổ tích
thần kỳ. Tuy nhiên không phải truyện cổ tích thần kỳ nào cũng xuất hiện kiểu
nhân vật này. Kiểu nhân vật này chỉ xuất hiện trong tập hợp những truyện cổ
tích nằm trong cùng hệ thống, đó là tập hợp những truyện thuộc kiểu truyện
người mang lốt với tư cách là hình tượng nhân vật trung tâm của kiểu truyện.
Kết quả thu được chúng tôi thống kê cụ thể ở phần phụ lục. [Bảng thống kê]
2.2. Đối tượng mang lốt
Đối tượng mang lốt chủ yếu là những người nghèo khổ, bất hạnh trong xã
hội. Bao gồm các đối tượng cụ thể:
Nhân vật mồ côi, nhân vật người con riêng, người em, người đi ở… mỗi nhân
vật có một cuộc đời riêng, số phận riêng xong có những đặc điểm chung đồng dạng
là nhân vật mang lốt vật. Những nhân vật là người nghèo khổ là người đi ở, người
mồ côi như Sọ Dừa (Truyện Sọ Dừa - Việt) để có cái ăn đã phải đi ở cho phú ông,
không những thế Sọ Dừa phải sống trong cảnh leo người “mẹ góa con côi”, phải đi
ở cho nhà Pơ toa; Chàng Cóc trong truyện Chàng Cóc (Ka Dong) để có tiền nuôi
mẹ đã đi chăn trâu thuê cho chủ làng… Bên cạnh nhân vật nghèo khổ phải đi ở để
có cái ăn sống qua ngày thì cũng có nhân vật nghèo khổ phải tự mình làm việc
kiếm sống như: nhân vật chàng Rùa (Chàng Rùa - Thái) cũng phải vào rừng lấy
củi, phát nương rẫy để kiếm sống hay nhân vật Ếch (Vua Ếch - Hmông) tự kiếm
Khảo sát kiểu nhân vật người mang lốt vật ở phương diện giới tính chúng
tôi thấy rằng:
Trong kiểu nhân vật người mang lốt vật nhân vật mang lốt vật chủ yếu là
nam giới, nhân vật mang lốt là nữ giới có xuất hiện nhưng ít hơn so với nhân vật
mang lốt là nam giới.
Trong tổng số 70 truyện xuất hiện kiểu nhân vật người mang lốt vật, đã có
tới 47/70 truyện xuất hiện nhân vật nhân vật mang lốt là nam giới, chỉ có 23/70
truyện xuất hiện nhân vật mang lốt là nữ giới.
Các nhân vật mang lốt là nam giới chủ yếu xuất hiện ở các truyện cổ tích
16
về nhân vật mang lốt các con vật: cóc, rắn, rùa, ếch, trăn, chồn… như nhân vật:
chàng Rùa (Chàng Rùa - Hmông), con Cóc (Cóc Trời - Cơ Ho), chàng Chồn
(Chàng Chồn - Thái), chàng Rắn (Chàng Rắn - Gia Rai)…
Các nhân vật nam giới, để đi đến mục đích cuối cùng là lấy vợ trút lốt,
thường phải trải qua nhiều biến cố, thử thách khó khăn. Tuy mang cái lốt xấu xí
của các con vật hay vật kì dị, người dị hình, dị dạng, nhưng nhân vật mang lốt
thường kết hôn với những cô gái xinh đẹp, nhân hậu. Đó là những người con út,
em út trong gia đình, có nhan sắc và có tấm lòng nhân ái hơn người, hoặc là
những cô gái con nhà quyền thế đã tự nguyện lấy một người chồng là con vật
xấu xí hay vật dị hình, dị dạng tầm thường. Nếu như dáng vẻ bên ngoài của nhân
vật mang lốt làm cho mọi người sợ hãi và khinh miệt thì đối với những người
con gái ấy, điều đó chỉ đem lại sự thông cảm lớn lao. Một cô gái trước khi theo
chồng là rùa trở về nhà, đã được bố bày cho cách giết rùa. Không theo lời bố
dặn, cô gái trở về nhà sống yên ổn cùng chồng dưới túp lều dột nát (Chàng Rùa-
Hmông); hay nhân vật cô gái trong truyện Con Dê Vàng (Chil - CơH) mặc dù
Dê Vàng bị dân làng ghét bỏ và tìm cách đuổi đi nhưng chỉ có duy nhất một cô
gái thương yêu Dê, nên đã tự nguyện chăm sóc và đồng ý lấy Dê làm chồng.
Trong cái lốt kì dị, dị dạng, những chàng trai mang lốt thường bộc lộ tài
năng phi thường hay tình cảm đạo đức cao cả, nó khiến cho các cô gái quan tâm,
khi kết hôn hoặc cá biệt có nhân vật kết hôn xong mới trút lốt: nhân vật Nàng
Kháy trong truyện Nàng Kháy (Tày) đã mang lốt một quả trứng lạ được chàng
Hoa Long nhặt đem về nhà, sau một thời gian lén lút trút lốt thành cô gái xinh
đẹp, làm việc nhà giúp Hoa Long thì bị phát hiện nên đã vĩnh viễn trút bỏ lốt
quả trứng và kết hôn với Hoa Long sống cuộc hạnh phúc, đầm ấm hay nhân vật
Chim Sơn Ca đã mượn lốt con chim sơn ca nhỏ bé bị thương, được anh thợ săn
chăm sóc cứu chữa, để trả ơn cứu mạng Chim Sơn Ca đã giấu cởi lốt chim trở
thành cô gái xinh đẹp giúp anh thợ săn dệt vải, làm việc nhà và sau một thời
gian bị phát hiện, đã trút bỏ lốt chim, làm vợ anh thợ săn trong truyện Chim Sơn
Ca; nhân vật cô Tiên trong truyện Chàng mồ côi lấy vợ tiên (Cao Lan) sau khi
lấy chàng Mồ Côi, giúp chồng trở nên giàu có đã trút bỏ hình hài kì dị trở thành
một cô gái xinh đẹp; nhân vật nàng Ka Điêng (Nàng ngón út - Chàm) cũng vậy
sau khi lấy Hoàng tử mới trút bỏ lốt vật dị dạng trở thành cô gái xinh đẹp…
Bên cạnh đó cũng có nhân vật nữ giới mang lốt sau khi đã trút lốt kết hôn
bằng tài năng, sự thông minh, tài trí hơn người không những biết khéo léo
khuyên bảo chồng làm ăn, giúp gia đình nhà chồng trở nên giàu có, mà còn giúp
dân làng tiêu diệt kẻ xấu, độc ác được dân làng khen ngợi. Nàng Bạch Nga Long
trong truyện Người lấy Ếch đã giúp gia đình nhà chồng lấy lại được cơ nghiệp
đã mất, thuê thầy giỏi về dạy học cho chồng, nhờ đó mà chồng đã đỗ trạng
nguyên; nàng Tiên sau khi đã trút lốt, lấy chàng trai nghèo, đã khuyên bảo và
cùng chồng làm ăn, không những giúp chồng trở nên giàu có, mà còn giúp dân
làng tiêu diệt chủ bản độc ác (Nàng tiên Ốc - Việt)…
2.4. Nguyên nhân mang lốt
Trong kiểu nhân vật người mang lốt vật các nhân vật mang lốt vật xuất
hiện từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhân vật thường vì lí do nào đó, dẫn đến
18
bản thân mang lốt. Cái lốt con vật hay lốt vật kì dị, cũng có khi là người dị hình,
dị dạng dường như là nơi ẩn thân tuyệt vời nhất trước khi cuộc đời nhân vật có
những bước chuyển biến lớn lao. Việc nhân vật mang lốt các vật nhỏ bé, tầm
bình thường. Chẳng hạn, hai vợ chồng nghèo khổ không con, đi xem bói, đạo sĩ
phán hai ông bà phải bắc được 120 cái cầu, sẽ có con. Quả nhiên bà vợ có mang,
19
nhưng lại đẻ ra “một con cóc” trong truyện Lệnh Trừ (Tày); hai vợ chồng Ca
Đeng lấy nhau đã lâu mà không có con, đã cầu khấn, người vợ mang thai và sinh
ra “một con cóc” (Chàng rể Cóc - Vân Kiều); hai vợ chồng hiếm muộn con cái,
mong mãi người vợ có mang nhưng lại sinh ra một “con cóc” (Người lấy Cóc -
Việt); hai vợ chồng nghèo không con cái, cầu mong mãi không bao lâu người vợ
có mang và sinh ra “một con rùa” (Chàng Rùa - Giáy). Truyện Lấy chồng Dê
(Việt) kể về sự xuất hiện của chàng Dê như sau: một đôi vợ chồng hiếm con, cầu
khấn mãi người vợ có thai và đẻ ra được “một con dê đực”. Câu chuyện Tướng
Cóc ra trận (Pú Péo) kể về sự xuất hiện của nhân vật Cóc như sau: hai vợ chồng
nghèo khổ, sống bằng đôi bàn tay khỏe mạnh,cầu mong có lấy một mụm con,
không bao lâu sau, trước khi người chồng đi lính thì người vợ có mang nhưng
lại sinh ra “một con cóc”.
Ở hầu hết các truyện, các nhân vật mang lốt ra đời không đáp ứng được
lòng mong mỏi của cha mẹ, bởi đứa con mà họ gửi gắm biết bao hi vọng lại
mang hình hài quái dị của một con vật hay một lốt vật kì dị, người dị hình, dị
dạng khác thường mà ta gọi là người mang lốt vật.
Nếu như ở dạng trên, nhân vật mang lốt được sinh ra do có sự tác động kì
lạ, khác thường của một lượng thần kì nào đó, thì ở dạng tiếp theo nhân vật
mang lốt lại được sinh ra theo một quy luật tự nhiên.
Dạng kiểu 2: Bên cạnh đó lại có nhân vật mang lốt vật được người mẹ sinh
ra theo quy luật tự nhiên.
Ở dạng này, nhân vật mang lốt được sinh ra theo quy luật sinh đẻ tự nhiên
như bao đứa trẻ khác. Nhưng điều khác biệt là những nhân vật này ngay từ khi
sinh ra đã mang lốt con vật, lốt vật kì dị hay người dị hình, dị dạng khác thường.
Một đôi vợ chồng sau một thời gian sống với nhau, người vợ có thai nhưng lại
sinh ra một đứa con mang lốt “bụng lợn” (Chàng Bụng Lợn - Thái); anh Lác
lạ… mang thai, cũng có khi đi tắm phát hiện thấy quả lạ trôi lổi vớt ăn và kết quả
là mang thai: Nàng Di Dật uống phải nước lạ trong một hốc nhỏ ở giữa tảng đá
lớn đen sì trong rừng rồi có mang và đẻ ra “một con cóc” (Chàng Cóc - Ka
Dong); một người vợ có tuổi không con cái do uống nước suối từ giữa các hốc đá
phun nên và đã mang thai nhưng lại sinh ra “một vật dị dạng tròn như một quả
dừa” (Phò mã Sọ Dừa - Chàm); nàng Núi uống phải nước đái của lợn rừng, sau
đó mang thai, sinh ra “một con lợn” (Chàng Lợn - Hmông); một bà góa do uống
nước trong một cái sọ người nên đã có thai nhưng lại sinh ra “một cục thịt tròn”
(Truyện Sọ Dừa - Việt); vợ chồng nhà nọ rất muộn con, ngoài năm mươi tuồi mà
chưa chửa đẻ lần nào, vào một hôm sau khi dẫm phải một quả bí ở ngay chân
mình bá đã có thai và sinh ra “một quả bí đỏ” (Cái ná chín rãnh - Chàm).
Hình hài ban đầu của các nhân vật này thực chất chỉ là “lốt vật” của các
nhân vật. Dường như tác giả dân gian sáng tạo ra dạng kiểu sinh nở này, cũng có
thể gắn với mục đích lý giải sự tài chí hơn người ở các nhân vật mang lốt theo
kiểu thần thoại: kết nối thân phận các nhân vật với các thần linh.
Dạng kiểu 4: Nhân vật mang lốt được sinh ra không phải từ sinh đẻ của
người mẹ, mà chui ra từ một quả trứng hay qủa bầu, bí hoặc từ “đầu gối của
người mẹ”.
21
Mô típ “quả bầu mẹ”, không chỉ xuất hiện trong truyện thần thoại mà còn
xuất hiện trong thế giới cổ tích với một vai trò, chức năng tương tự: chức năng
sinh sản. Chỉ có điều ở truyện thần thoại từ trong quả bầu, quả bí này thường
chui ra rất nhiều người, đôi khi cả loài vật nữa. Nhưng trong truyện cổ tích, từ
trong những quả bầu, quả bí ta chỉ thấy xuất hiện một nhân vật duy nhất, nhân
vật đó khi chui ra khỏi quả bầu, quả bí không mang hình dạng con người bình
thường mà lốt các con vật hay vật kì dị, dị dạng nào đó. Tần số truyện xuất hiện
cũng không cao chỉ có 4/29 truyện thuộc loại nguyên nhân sinh đẻ thần kỳ.
Hai vợ chồng hiếm con, cầu khẩn mãi mong trời ban cho một đứa con. Một
hôm hai vợ chồng lên nương trồng bí, trồng được một cây bí khác thường, chỉ
Dạng kiểu 6: Do nhân vật siêu nhiên đầu thai xuống trần gian vào một gia
đình nghèo, hiếm con.
Hai ông bà già không con cái, con trai của thần Mặt Trời thương tình đầu
thai vào nhà ông bà. Bà vợ mang thai và sinh ra “một con ếch nhỏ” (Chàng Ếch
và nàng Công chúa út - Cơ Ho).
Ở đây, nhân vật siêu nhiên xuất hiện giống như một món quà vô giá mà
những cặp vợ chồng nghèo lại hiếm con mong đợi. Mặc dù tần số nhân vật mang
lốt xuất hiện ở nguyên nhân này rất ít chỉ có 1/29 truyện thuộc kiểu nguyên nhân
thần kì, nhưng nó lại góp phần làm tăng thêm sự phong phú, đa dạng cho kiểu
nguyên nhân này.
Có thể coi đây là dạng mô típ đặc trưng của kiểu nhân vật người mang lốt vật.
2.4.2. Nguyên nhân tự thân
Nguyên nhân tự thân chiếm tỉ lệ không cao trong tổng số 70 truyện chỉ có
9/70 truyện có nhân vât từ nguyên nhân này. Bản thân nhân vật mang lốt các con
vật hay lốt vật kì dị, người dị hình, dị dạng ngay từ khi câu chuyện được mở ra
với tư cách độc lập, không qua sinh nở. Nhân vật chàng Chồn ngay từ khi xuất
hiện đã mang lốt một con chồn, nhưng thực chất là thánh Chồn (Chàng Chồn -
Thái). Trong truyện Cóc Trời (Cơ Ho) nhân vật Cóc, mở đầu câu chuyện đã
mang lốt một con cóc nhưng thực chất là con Trời; nhân vật Thuồng Luồng
trong truyện Người chị độc ác (Hmông), ngay từ khi xuất hiện đã mang lốt con
thuồng luồng; chàng Rồng xuất hiện là một con Rồng ở long cung (Vợ chồng
chàng Rồng - Pú Péo). Trong truyện Vợ Cá (Giáy) nhân vật xuất hiện dưới hình
dạng một con cá, được một ông già bắt đưa cho anh mồ côi; nhân vật Cá Anh
Vũ xuất hiện là một con cá anh vũ to bằng bắp chân, vảy lấp lánh, được một ông
cụ tự xưng là thần hổ đưa cho anh Quang Cún về nuôi trong truyện Cô gái vùng
hổ. Câu chuyện Vợ chồng anh mò Ốc (Dáy) nàng Ốc ngay từ khi xuất hiện đã
mang lốt ốc; Nai Ngọc ngay từ khi xuất hiện trong câu chuyện đã mang lốt một
vật kì dị không qua sinh đẻ (Nai Ngọc- RaGla). Ngay từ khi được một đôi vợ
chồng hiếm con nhặt về Bí đã mang lốt một quả bí (Vợ chồng Bí - Hmông).
2.4.3. Nguyên nhân phù phép
bà cụ qua sông, để trả ơn bà đã gả con gái của mình cho (Chàng króa và nàng ti
lụi- Raglai); một chàng trai khôi ngô, tuấn tú nhưng đã mượn lốt một con rắn xấu
xí, giúp Mơ tao qua sông và được Mơ tao hứa gả con gái cho (Chàng Rắn - Gia
Rai); thánh Chồn, vì muốn làm việc giúp hai mẹ con Màn và lấy Màn làm vợ, nên
đã mượn lốt một con chồn (Chàng Chồn - Mường); cô con gái của Vua Thủy Tề,
do muốn giúp hai anh em mồ côi làm việc nhà, đã mượn lốt một quả trứng ở suối
được hai anh mồ côi, đi câu nhặt mang về nuôi (Nàng Vỏ Trứng- Mường); nàng
Kháy muốn giúp chàng Hoa Long, đã mượn lốt một quả trứng lạ trong bụi cây,
được Hoa Long nhìn thấy mang về (Nàng Kháy - Tày).
Có nhân vật lại ẩn mình sau lốt vật để tìm và thử thách lòng người hay lòng
chung thủy của vợ hoặc chồng: nhân vật chồng Trăn đã mượn lốt một con trăn
24
lớn để lấy con gái thứ hai của một bà não bắt cá ở suối (Cô gái lấy Chồng Trăn -
Xơ Đăng); một chàng trai khỏe đẹp, vì muốn tìm và lấy vợ nên đã mượn lốt con
dê vàng trong truyện Con Dê Vàng (Chil - CơH); chàng Rắn thực chất là một
chàng trai trẻ đẹp, nhưng vì muốn lấy Bun Viên làm vợ đã mượn lốt con rắn lấy
cái rìu của mẹ Bun Viên (Chàng Đu Lơ - Cơ Tu); Hoàng tử Rắn con trai út của
Vua Thủy Tề đã mượn lốt một con rắn, để cưới được cô Út và thử lòng gan dạ,
thủy chung của vợ (Hoàng tử Rắn - Cao Lan); vì muốn lấy HBia Rác làm vợ,
chàng Chồn đã mượn lốt con chồn và ra nhiều thử thách để thử lòng chung thủy
của vợ (HBia Rác lấy chồng Chồn - Gia Rai)
Bên cạnh đó lại có nhân vật ẩn sau lốt vật để để thực hiện mục đích trả ơn
người đã cứu mạng mình. Một nàng tiên vì để trả ơn chàng trai nghèo, đã mượn
lốt một quả trứng có vân xanh kì lạ, to hơn cả quả bầu trên nương, được chàng
trai nghèo mang về nhà (Truyện trứng tiên - Cao Lan); chàng Giao Long để trả
ơn cưu mang của một bà lão góa, đã mượn lốt “một con vật thân dài, tựa như
con lươn” bắt cá, tôm giúp bà lão (Giao Long - Việt); một cô tiên để trả ơn
chàng mồ côi giúp mẹ, đã mượn lốt vật có hình hài kì lạ “một cô gái nhỏ xíu” để
giúp và lấy chàng mồ côi làm chồng (Chàng mồ côi lấy vợ tiên - Cao Lan).
các vật sống trên cạn, dưới nước hoặc lưỡng cư như: hổ, gấu, khỉ, dê, chồn, ếch,
trăn, rắn…; dạng lốt người dị hình dị dạng chiếm tỉ lệ trung bình (13/70 truyện)
phổ biến là các dạng lốt: gù, chột, ghẻ lở…; chiếm tỉ lệ thấp nhất là dạng lốt vật
kì dị chỉ có (9/70 truyện) như: quả bí, quả dừa, cái bụng lợn
2.6. Hình thức mang lốt
Việc khảo sát 70 truyện cổ tích Việt Nam bất kỳ thuộc kiểu nhân vật người
mang lốt vật cho thấy, các nhân vật thuộc kiểu này tồn tại ở hai hình thức mang
lốt: hình thức mang lốt tạm thời và hình thức mang lốt vĩnh viễn.
Thông qua bảng thống kê, chúng tôi thấy hình thức mang lốt tạm thời chiếm
số lượng nhiều nhất có 66/70 truyện. Ở hình thức mang lốt này, các nhân vật
mang lốt dù mang lốt các con vật hay lốt vật kì dị, người dị hình, dị dạng nào đi
chăng nữa, thì cái lốt đó chỉ là nơi ẩn dấu tạm thời tuyệt vời nhất trước khi cuộc
đời, số phận nhân vật có bước chuyển lớn lao, đạt đến cái đích của sự hạnh phúc
và trút lốt thành người đẹp dẽ. Ví dụ: nhân vật chàng Cóc trong truyện Chàng
Cóc (Ka Dong) con cóc chỉ là cái lốt nhân vật mang tạm thời, cho đến khi giao
đấu với năm đứa con nhà trời Cóc đã trút lốt trở thành một chàng trai có sức khỏe
và giành chiến thắng rồi kết hôn. Trong truyện Chàng Gù (Chăm) nhân vật Gù
mang lốt người dị hình dị dạng vừa lùn lại gù, chân tay ngắn. Nhưng đây chỉ cái
lốt tạm thời, sau khi lấy vợ Gù đã trút lốt trở thành một chàng trai xinh đẹp
Bên cạnh những nhân vật có hình thức mang lốt tạm thời thì cũng có nhân
vật có hình thức mang lốt vĩnh viễn, nhưng tần số truyện xuất hiện chiếm số
lượng rất thấp chỉ có 4/70 truyện. Các nhân vật có hình thức mang lốt này cũng
có khi mang lốt các con vật hay lốt vật kì dị, người dị hình, dị dạng nào đó như
những nhân vật có hình thức mang lốt tạm thời, nhưng điểm khác biệt của hình
thức mang lốt vĩnh viễn đó chính là cái lốt mà nhân vật đang mang không phải
là nơi ẩn mình tạm thời mà có khi nó đi theo suốt cuộc đời nhân vật như: trong