Thủ tục đăng ký và thẩm tra dự án đầu tư theo pháp luật đầu tư ở Việt Nam - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HỒNG THỦ TỤC ĐĂNG KÝ VÀ THẨM TRA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
THEO PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Quang
Hà Nội - 2010 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN

1.1.2.
1.1.2.1
1.1.2.2
1.1.2.3.
1.2.
1.2.1.
1.2.1.1.
1.2.1.2.
1.2.1.3.
1.2.2.
1.2.2.1.
1.2.2.2.
1.3.
Đầu tƣ và pháp luật về đầu tƣ
Những nhận thức cơ bản về đầu tư
Khái niệm về đầu tư
Phân loại đầu tư
Các hình thức đầu tư
Pháp luật về đầu tư
Khái niệm pháp luật về đầu tư
Sơ lược về lịch sử phát triển của luật đầu tư Việt Nam
Những nội dung cơ bản của pháp luật đầu tư
Khái niệm về đăng ký và thẩm tra dự án đầu tƣ
Đăng ký đầu tư
Khái niệm về đăng ký đầu tư
Vai trò ý nghĩa của việc đăng ký đầu tư
Phân loại đăng ký đầu tư
Thẩm tra đầu tư
Khái niệm thẩm tra và thẩm định dự án đầu tư
Vai trò ý nghĩa của việc thẩm tra dự án đầu tư


2.1.2.2.
2.1.2.3.

2.1.3.

2.2. 2.2.1.

2.2.2.
2.2.3.
2.2.4.
2.2.5.
2.3.
Qui định về hoạt động đầu tư của Singapore
Qui định về hoạt động đầu tư của Trung quốc
Qui định về hoạt động đầu tư Lào
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ĐĂNG KÝ VÀ
THẨM TRA DỰ ÁN ĐẦU TƢ THEO
PHÁP LUẬT ĐẦU TƢ CỦA VIỆT NAM
Đăng ký đầu tƣ
Chủ thể của Luật đầu tư
Trình tự thủ tục dự án đầu tư trong nước và dự án có vốn
đầu tư nước ngoài
Qui định về điều kiện đăng ký dự án đầu tư trong nước và
dự án có vốn đầu tư nước ngoài
Qui định về hồ sơ dự án đầu tư
Qui định về trình tự thực hiện và thời hạn giải quyết đăng
47

47
48
55
56
58
59
2.3.1.
2.3.2.
2.3.3.

2.4.

2.5.

3.1.

3.1.1.

3.1.2.

3.2.

3.2.1.

61
61

62

63

68 73

73

73

75

75

76
82
83
85
87

DANH MỤC CÁC BẢNG

Việt Nam đang thiết lập các quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại với nhiều tổ
chức kinh tế quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế giới, là thành viên mới
nhất (thứ 150) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Những qui định của
pháp luật Việt Nam về đầu tư đã phát huy vai trò quan trọng thu hút đầu tư
trong nước và ngoài nước, góp phần tạo ra tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật về đầu tư còn chưa nhất quán, thiếu ổn định
và có sự phân biệt giữa các nhà đầu tư, đã làm hạn chế sự thông thoáng của
môi trường đầu tư, cản trở dòng vốn đầu tư vào Việt Nam. Hơn nữa, cuộc
cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới vào khu vực đang diễn
ra ngày càng gay gắt, nhất là khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới. Trong bối cảnh đó, các nước trong khu vực đang cải cách mạnh mẽ
môi trường đầu tư theo hướng tự do hoá chính sách đầu tư, thương mại với
các đối tác kinh tế lớn, nhằm tranh thủ nguồn vốn đầư tư, công nghệ kỹ thuật.
Do vậy, việc ban hành một khung pháp lý chung và thống nhất, minh
bạch, ổn định về vấn đề đăng ký và thẩm tra cho các nhà đầu tư là đáp ứng
đòi hỏi khách quan trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và yêu cầu
hội nhập, nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực đầu tư của mọi thành phần
kinh tế.

2
Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội khoá 11 tại kỳ họp thứ 8 đã thông qua
Luật đầu tư, đây là thông điệp quan trọng của Việt Nam trong việc cam kết
phát triển nền kinh tế theo hướng thị trường, xoá bỏ những biệt lệ giữa nhà
đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước, tạo sân chơi bình đẳng cho các
loại hình doanh nghiệp, hạn chế tư duy phân biệt đối sử giữa các thành phần
kinh tế, đồng thời cũng qui định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nhà
đầu tư Việt Nam (Nghị định số 78 ban hành ngày 09 tháng 08 năm 2006 của
Chính Phủ, qui định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài) đã mở ra những cơ hội
mới cho các nhà đầu tư Việt Nam, cải thiện phần nào môi trường đầu tư, phù
hợp với những cam kết của Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích, so sánh, tổng hợp, cũng
được sử dụng ở mức độ phù hợp đề hoàn thành luận văn này.

5.Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết cấu và danh mục tham khảo, luận văn được
chia thành 3 chương:
Chương 1. Lý luận chung về thủ tục Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư
Chương 2 . Thực trạng của việc Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 3 . Giải pháp thực hiện việc Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư.

6. Kết quả đạt được của Luận văn
Ở bình diện lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn
thiện lý luận về pháp luật đầu tư nói chung và thủ tục đăng ký và thẩm tra dự

4
án đầu tư đối với các dự án đầu tư trong nước và dự án có vốn đầu tư nước
ngoài nói riêng.
Về thực tiễn, luận văn sẽ là tài liệu có giá trị, có thể sử dụng làm tài
liệu tham khảo, nghiên cứu, đối với các chủ đầu tư và đối với các cơ quan
quản lý Nhà nước về đầu tư đồng thời làm tài liệu tham khảo đối với các cơ
sở đào tạo liên quan đến lĩnh vực đầu tư. Những đề xuất của luận văn sẽ cung
cấp luận cứ khoa học, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định của
pháp luật về thủ tục đăng ký và thẩm tra các dự án đầu tư nói riêng và Luật
đầu tư 2005 nói chung.
Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô
giáo của trường Đại học Quốc gia Hà Nội, đã giảng dậy và cung cấp nhiều
thông tin bổ ích cho chúng em, đặc biệt là tiến sỹ Vũ Quang, người đã hướng

ra ở mỗi quốc gia mà còn có sự hợp tác đầu tư giữa các quốc gia với nhau.
Vậy thế nào là đầu tư và Luật đầu tư là gì? Chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu.
1.1. Đầu tư và pháp luật về đầu tư
1.1.1. Những nhận thức cơ bản về đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm về đầu tư
Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người,
nhất là đối với những người hoạt động trong lĩnh vực kinh tế xã hội. Tuy
nhiên, thuật ngữ này được hiểu rất khác nhau. Có người cho rằng: đầu tư là
phải bỏ một cái gì đó vào một việc nhất định để thu lại một lợi ích trong
tương lai. Nhưng cũng có người quan niệm đầu tư: là các hoạt động sản xuất
kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
Theo cách hiểu phổ thông, thì khái niệm đầu tư được hiểu là việc: “ bỏ nhân
lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế xã
hội”[36]

6
Trong khoa học kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các
nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong
tương lai lớn hơn những nguồn lực đã sử dụng để đạt được những kết quả
đó.[37]
Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để xây dựng và phát triển kinh tế là
chìa khoá của sự phát triển kinh tế xã hội. Các nguồn lực được sử dụng để đầu
tư có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ. Những kết quả
sẽ đạt được đó, có thể là sự tăng thêm các tài sản chính (tiền vốn) tài sản vật
chất (nhà máy, đường xá, bệnh viện, trường học ) là tài sản trí tuệ (trình độ
văn hoá, chuyên môn quản lý khoa học - kỹ thuật ) và nguồn nhân lực có đủ
điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Trong cơ chế thị trường, hoạt động đầu tư có thể do những chủ thể khác nhau
tiến hành và ngày càng phong phú và đa dạng cả về tính chất lẫn mục đích.
Tuy vây, mọi hoạt động đầu tư suy cho cùng đều nhằm mang lại lợi ích xác

yếu tố sau:
- Căn cứ vào mục đích đầu tư có thể chia đầu tư thành: đầu tư phi lợi
nhuận và đầu tư kinh doanh.
+ Đầu tư phi lợi nhuận: là việc sử dụng các nguồn lực để thực hiện các
hoạt động không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận.
Ví dụ: Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ cho nhân
dân.
+ Đầu tư kinh doanh: là hoạt động đầu tư sử dụng các nguồn lực để
kinh doanh thu lợi nhuận
- Căn cứ vào tính chất quản lý của nhà đầu tư với vốn đầu tư có thể
chia đầu tư thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

8
+ Đầu tư trực tiếp: là hoạt động đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư
trực tiếp tham gia quản lý các hoạt động đầu tư mà không có sự tách bạch
giữa người bỏ vốn và người quản lý. Theo Luật đầu tư 2005, đầu tư trực tiếp
là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động
đầu tư. Đầu tư trực tiếp gồm có: đầu tư trực tiếp trong nước (là việc các cá
nhân tổ chức trong nước bỏ vốn ra để kinh doanh theo hình thức pháp luật qui
định) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (là hoạt động đầu tư do các tổ chức và cá
nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với tổ chức, cá nhân của nước sở tại bỏ
vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi
trong kinh doanh).
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được tiến hành thông
qua các dự án - gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Như vậy, đầu tư trực
tiếp nước ngoài là một loại quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài thông qua
việc di chuyển nguồn lực đầu tư trên phạm vi quốc tế với mục đích kinh
doanh thu lợi nhuận.
+ Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư mà ở đó nhà đầu tư không trực
tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Như vậy, đầu tư gián tiếp không cần

đầu tư như: thành lập Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần,
tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã.
+ Đầu tư thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp doanh): là hình
thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giao kết giữa các nhà đầu tư
nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận mà không thành lập pháp nhân.
Các bên hợp doanh thực hiện hoạt động kinh doanh với tư cách pháp lý của
mình thay vì thành lập ra một pháp nhân kinh tế mới.
Ví dụ: Hợp đồng hợp doanh của Tổng công ty than Việt Nam.

10
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (2/1999) giữa Tổng công ty than Việt Nam
(VINACOAL) và công ty CAVICO Ltd của Mỹ và Canada khai thác than tại
mỏ than núi Béo (Quảng Ninh). Trị giá hợp đồng khoảng 356 tỷ VND, trong
đó bên Việt Nam đã đầu tư 65 tỷ, phần còn lại là đầu tư mới.
Trách nhiệm: Bên nước ngoài đảm nhận khoan, nổ mìn, bốc xúc đá.
Bên Việt Nam đảm nhận xúc và sàng tuyển than.
Tỷ lệ ăn chia: Bên nước ngoài 66,7% tổng lợi nhuận.
Bên Việt Nam 33,3% tổng lợi nhuận.[20]
Trích nguồn: Vụ quản lý dự án Bộ kế hoạch đầu tư 1999.

+ Đầu tư thông qua hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
(BOT): là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với
nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng, kinh
doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư
chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam.
Ví dụ: Việt Nam, dự án BOT đầu tiên được cấp giấy phép tháng
3/1995 là hợp đồng triển khai xây dựng nhà máy nước Bình An được ký giữa
Uỷ ban nhân dân TpHồ Chí Minh với tập đoàn Emas Utilities Sadec Malayxia
với công suất 100.000m khối /ngày, sau 25 năm hoạt động, khai thác và bán
nước cho Tp Hồ Chí Minh với giá 0.2 USD/1m khối, toàn bộ nhà máy sẽ

Các hình thức đầu tư gián tiếp:
+ Đầu tư thông qua mua chứng khoán (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và
các giấy tờ có giá khác)
+ Đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán.
+ Đầu tư thông qua ngân hàng doanh nghiệp bảo hiểm…

12
Trong các hình thức đầu tư này nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý,
điều hành quá trình thực hiện hoạt động đầu tư và sử dụng các nguồn lực đầu
tư. Nhà đầu tư, đầu tư theo hình thức gián tiếp này về cơ bản chỉ được hưởng
các lợi ích kinh tế từ hoạt động đầu tư.
1.1.2. Pháp luật về đầu tư
1.1.2.1. Khái niệm pháp luật về đầu tư
Khi tiến hành các hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải hoạt động trong
một không gian và thời gian địa điểm cụ thể, mà ở đó có nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến hoạt động đầu tư, chi phối đến hoạt động đầu tư, trong đó có pháp
luật về đầu tư. Sự tồn tại và phát triển của hoạt động đầu tư, chính là cơ cở
thực tiễn cho sự ra đời và phát triển của Luật đầu tư.
Trong quá trình xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu, việc thu hút vốn
đầu tư nước ngoài của các quốc gia ngày càng mạnh. Để cạnh tranh thu hút
nguồn vốn đầu tư, các nước đều chú trọng đến việc cải thiện môi trường đầu
tư, trong đó có việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Tuy nhiên cho
đến nay khoa học pháp lý Việt Nam vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất
về pháp luật đầu tư.
Nhưng căn cứ vào đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư là các quan hệ đầu tư
kinh doanh, hơn nữa các quan hệ đầu tư kinh doanh phát sinh trong quá trình
các nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản khác nhau để tạo lập cơ sở tiến
hành các hoạt động đầu tư (bao gồm chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự
án đầu tư). Vì vậy có thể định nghĩa: “Luật đầu tư là hệ thống các qui phạm
pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã

định hướng xã hội chủ nghía. Với quan điểm huy động tối đa các nguồn lực
để phát triển kinh tế, hệ thống pháp luật về đầu tư Việt Nam đã thực sự được
quan tâm, các văn bản về pháp luật đầu tư được xây dựng và hoàn thiện theo

14
hướng ngày càng đảm bảo môi trường pháp lý đầu tư thông thoáng và an toàn
cho các nhà đầu tư muốn bỏ vốn kinh doanh. Đặc điểm nổi bật của hệ thống
pháp luật về đầu tư Việt Nam ở thời kỳ này là có sự phân chia thành hai lĩnh
vực: đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài để điều chỉnh. Cụ thể như sau:
Đối với pháp luật về đầu tư trong nước:
Quyết định 217/ Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 14/11/1987 là văn bản
pháp luật đầu tiên cụ thể hoá nghị quyết đại hội Đảng khoá VI, về chuyển
hoạt động của các đơn vị cơ sở kinh tế quốc doanh, sang hạch toán kinh
doanh xã hội chủ nghĩa, thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp nhà nước. Việt Nam đã qui định nhiều văn bản pháp luật qui
định về vấn đề đầu tư của Nhà nước vào doanh nghiệp Nhà nước trong điều
kiện mới như: Nghị định số 50/ HĐBT ban hành điều lệ xí nghiệp công
nghiệp quốc doanh, nghị định số 27/HĐBT ban hành về Điều lệ liên hiệp xí
nghiệp…
Với cơ chế thị trường, mà giai đoạn đầu là nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, một yêu cầu có tính nguyên tắc căn bản là phải đảm bảo quyền tự
do và sự bình đẳng trong đầu tư kinh doanh, trong đó nhiệm vụ quan trọng đặt
ra là phải mở rộng quyền đầu tư cho các chủ thể thuộc mọi thành kinh tế, vì
vậy Nhà nước đã ban hành và từng bước xây dựng, hoàn thiện các văn bản
mới về đầu tư như: Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990
được thay thế bằng Luật doanh nghiệp năm 1999 và sau này là Luật doanh
nghiệp 2005; Lụât khuyến khích đầu tư trong nước 1994 được thay tế bằng
Luật sửa đổi luật khuyến khích đầu tư 1998…
+ Đối với pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Cùng với chủ trương huy động tối đa nguồn lực trong nước, Đảng và

không chỉ tạo điều kiện cho người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam mà còn

16
tạo cơ hội, điều kiện cho các đối tác trong nước để mở rộng hợp tác với nước
ngoài (các tổ chức kinh tế tư nhân Việt Nam được hợp tác với tổ chức cá
nhân nước ngoài trong lĩnh vự và điều kiện do HĐBT qui định). Đến năm
1992 sau hai năm triển khai thực hiện luật, nhiều vấn đề pháp lý phát sinh,
phần nào làm cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài. Vì vậy, ngày 23/12/1992,
Quốc hội đã ban hành Lụât sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam, nhằm mở rộng cho mọi thành phần kinh tế đều có thể
tham gia hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư. Năm 1996, khi Việt
Nam bước vào giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá, hội nhập kinh tế khu
vực và thế giới, hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài còn bộc lộ nhiều
nhược điểm cần khắc phục. Ngày 12/11/1996 Quốc hội thông qua Luật đầu tư
mới nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và thực hiện chủ trương
của Nhà nước đối với việc cải cách thủ tục hành chính. Tuy nhiên, để thực
hiện tốt các dự án đã được cấp phép đầu tư và thu hút thêm đầu tư mới, tạo
điều kiện để Việt Nam tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới, ngày 9/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều
của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các nội dung sửa đổi bổ sung của
Luật đã đem lại cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sự ổn định và
thông thoáng hơn so với nhiều qui định trước đây. Nhưng trước yêu cầu tăng
cường hội nhập khu vực và quốc tế, mà trực tiếp nhất là việc thực hiện các
thoả thuận trong đầu tư khu vực ASEAN, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ,
pháp luật về đầu tư nước ngoài đã bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục. Sự
chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật đầu tư nói riêng và
của hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nói chung, là trở
ngại lớn nhất đối với đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việc tăng cường hợp
tác kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội thách thức cho Việt Nam. Pháp luật về
đầu tư của Việt Nam đứng trước yêu cầu phải vận động theo xu hướng hội

18
- Hình thức đầu tư;
- Lĩnh vực và địa bàn đầu tư;
- Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư;
- Quy trình, thủ tục và triển khai dự án đầu tư;
- Bảo đảm, khuyến khích và ưu đãi đầu tư;
- Quản lý nhà nước về đầu tư.
1.2. Khái niệm về Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư
1.2.1 Đăng ký đầu tư
1.2.1.1. Khái niệm về đăng ký đầu tư
Theo Đại từ điển tiếng việt của Nhà xuất bản văn hoá thông tin, trang 601
thì thuật ngữ đăng ký được hiểu là việc: “Đứng gia khai báo để được cấp
giấy công nhận về quyền hạn nghĩa vụ nào đó”.[40]
Trong cuốn Từ điển Luật học của Nhà xuất bản tư pháp không có khái
niệm về Đăng ký đầu tư mà chỉ có khái niệm về Đăng ký kinh doanh, theo đó
Đăng ký kinh doanh được hiểu như sau: “ Sự ghi nhận bằng văn bản của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lý sự ra đời của chủ thể kinh
doanh. Đăng ký kinh doanh được thực hiện theo trình tự thủ tục luật định, áp
dụng thống nhất trong cả nước khi ĐKKD, các thông tin cần thiết về doanh
nghiệp được ghi vào sổ ĐKKD, doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận
ĐKKD có thể bắt đầu hoạt động. Tổ chức, cá nhân được yêu cầu cơ quan
ĐKKD hướng dẫn về thủ tục nội dung ĐKKD, cấp bản sao giấy chứng nhận
ĐKKD, giấy chứng nhận thay đổi ĐKKD…và phải trả phí theo qui định của
pháp luật. Việc ĐKKD tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về
kinh tế, xác nhận sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp, cung cấp thông
tin cần thiết về doanh nghiệp nhằm tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia
quan hệ với doanh nghiệp”

Trích đoạn Đăng ký đầu tư Vai trò định hướng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Vai trò kiểm soát của nhà nước. Khái niệm thẩm tra và thẩm định dự án đầu tư Luật đầu tư của Singapore
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status