ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ NGA PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA
VỀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ
VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN LAN NGUYÊN
HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Nga
MỤC LỤC
2.2.2.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Cộng hòa Áo 61
2.2.3 Pháp luật Ý 63
2.2.3.1 Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Ý 63
2.2.3.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Ý 64
2.2.4 Pháp luật Vƣơng quốc Bỉ 68
2.2.4.1 Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Bỉ 68
2.2.4.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Bỉ 69
2.2.5 Pháp luật Thụy Sỹ 73
2.2.5.1 Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Thụy Sỹ 73
2.2.5.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Thụy Sỹ 76
2.2.6 Pháp luật Nhật Bản 77
2.2.6.1 Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Nhật Bản 77
2.2.6.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Nhật Bản 78
2.2.7 Pháp luật Úc 92
2.2.7.1 Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Úc 92
2.2.7.2 Pháp luật năng lượng nguyên tử của Úc 93
Chƣơng 3. KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP
KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ Ở VIỆT NAM 97
3.1 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN
TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 97
3.2 KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG VIỆC SỬ
DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ 102
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về năng lượng nguyên
tử……. 104
3.2.2 Giải pháp về không sử dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam 107
KẾT LUẬN 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
các lò phản ứng hiện tại hoặc có chính sách hạn chế
năng lƣợng nguyên tử
30
Bảng 3
Các nhà máy điện nguyên tử ở Đức
33
Bảng 4
Lò phản ứng điện nguyên tử và lò phản ứng thử nghiệm
ngừng hoạt động
40
Bảng 5
Kế hoạch và đề xuất các lò phản ứng điện nguyên tử đến
năm 2030
102 1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong ba phần tƣ thế kỷ qua, kể từ khi các chất đồng vị phóng xạ đƣợc tìm ra
vào năm 1934, các chất này đã đƣợc ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời
sống và mang lại hiệu quả rất lớn cho cuộc sống con ngƣời: Năng lƣợng nguyên tử
đã đƣợc ứng dụng trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp, địa chất, khoáng sản, khí
tƣợng, thuỷ văn, giao thông, xây dựng, dầu khí, Đặc biệt, một trong những ứng
dụng của năng lƣợng nguyên tử là điện nguyên tử. điện nguyên tử đã có lịch sử phát
triển hơn 50 năm kể từ ngày nhà máy điện nguyên tử đầu tiên trên thế giới đƣợc đƣa
vào vận hành ở Liên xô cũ năm 1954. Kể từ ngày đó đến nay, ngành điện nguyên tử
đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể, nhƣng cũng gặp phải những rủi ro nặng nề,
đã có những thời kỳ phát triển rực rỡ, nhƣng cũng có những bƣớc thăng trầm.
Malaysia , New Zealand, và Na Uy đã phản đối năng lƣợng nguyên tử [27]. Mặc
dù, trƣớc đây, hầu hết các nƣớc này vẫn hoàn toàn ủng hộ và hỗ trợ tài chính cho
năng lƣợng nguyên tử và nghiên cứu.
Vì vậy, việc nghiên cứu quan điểm về không sử dụng năng lƣợng nguyên tử
cũng nhƣ những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này ở một số nƣớc là rất
cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang xúc tiến việc phát triển năng lƣợng nguyên
tử. Trên cơ sở lý giải cơ sở khoa học, cơ sở lý luận của việc loại bỏ năng lƣợng
nguyên tử ở các nƣớc trên và kinh nghiệm về việc khai thác, sử dụng những nguồn
năng lƣợng khác thay thế cho năng lƣợng nguyên tử sẽ mang lại bài học tốt choViệt
Nam.
Từ những phân tích trên đây, học viên đã lựa chọn đề tài: " Pháp luật một số
quốc gia về không sử dụng năng lượng nguyên tử và kinh nghiệm đối với Việt
Nam " cho luận văn Thạc sỹ luật học của mình. 3
2. MỤC ĐÍCH, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
2.1 Mục đích nghiên cứu
Vấn đề năng lƣợng nguyên tử ở Việt Nam là một vấn đề mới mẻ so với các
nƣớc trên thế giới, nên vấn đề về việc loại bỏ dần năng lƣợng nguyên tử lại càng là
vấn đề mới mẻ hơn nữa. Hiện nay ở nƣớc ta đã có công trình nghiên cứu về xây
dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực năng lƣợng
nguyên tử, nhƣ Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Phạm Gia Chƣơng với đề tài:
"Pháp luật quốc tế và pháp luật nƣớc ngoài về năng lƣợng nguyên tử vì mục đích
hoà bình", ngoài ra, chúng ta cũng chỉ có một số bài báo, bài viết đơn lẻ. Tuy nhiên,
những nghiên cứu đối với vấn đề nghiên cứu pháp luật, chính sách của một số quốc
gia trên Thế giới về việc không sử dụng năng lƣợng nguyên tử thì gần nhƣ không
có. Vì vậy, đề tài này nhằm mục tiêu nghiên cứu đề xuất hƣớng phát triển năng
lƣợng nguyên tử trong tƣơng quan tính đến một tƣơng lai xa, tƣơng lai sau khi năng
lƣợng nguyên tử đã phát triển và mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia. Khi đó, cần đa
phần nhỏ bé của mình vào tiếng nói chung của giới luật học nhằm hoàn thiện pháp
luật về năng lƣợng nguyên tử của Việt Nam.
2.5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chƣơng
Chương 1: Tổng quan pháp luật về việc không sử dụng năng lƣợng nguyên tử
Chương 2: Quy định pháp luật của một số quốc gia điển hình về không sử dụng
năng lƣợng nguyên tử
Chương 3: Kinh nghiệm đối với Việt Nam và giải pháp sử dụng những dạng năng
lƣợng khác thay thế năng lƣợng nguyên tử 5
Chương 1
TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ VÀ KHÔNG
SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ
1.1 KHÁI NIỆM NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ
1.1.1 Định nghĩa
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 của Luật Năng lƣợng nguyên tử
Việt Nam năm 2008, thuật ngữ “Năng lượng nguyên tử” đƣợc định nghĩa là:
“Năng lượng được giải phóng trong quá trình biến đổi hạt nhân bao gồm
năng lượng phân hạch, năng lượng nhiệt hạch, năng lượng do phân rã chất
phóng xạ; là năng lượng sóng điện từ có khả năng ion hoá vật chất và năng
lượng các hạt được gia tốc”.
1.1.2 Lịch sử phát triển năng lƣợng nguyên tử trên Thế giới
Lịch sử của năng lƣợng nguyên tử khởi đầu với việc xây dựng mô hình
nguyên tử. Năm 1912, nhà vật lý Ernest Rutherford (1871 - 1937) ngƣời Anh, sau
khi phát hiện ra hạt nhân nguyên tử đã cùng với nhà vật lý Niels Bohr (1885 - 1962)
ngƣời Đan Mạch đề xuất một mô hình nguyên tử: Nguyên tử gồm một hạt nhân tích
điện dƣơng đƣợc bao quanh bởi các electron [20].
nhất khi ấy cho nhà máy điện nguyên tử.
Ngành công nghiệp bí mật ngày càng liên quan nhiều hơn đến việc phát triển
các lò phản ứng nƣớc nhẹ sau khi Shippingport đi vào hoạt động. Các chƣơng trình
năng lƣợng nguyên tử đã chuyển sự tập trung sang việc phát triển các công nghệ lò
phản ứng khác.
Ngành công nghiệp điện nguyên tử ở Mĩ phát triển nhanh chóng trong thập
niên 1960. Các công ty thực dụng đã nhìn thấy dạng sản xuất điện này thật kinh tế,
sạch về mặt môi trƣờng và an toàn. Tuy nhiên, vào thập niên 1970 và 1980, sự tăng
7
trƣởng bị chậm lại. Nhu cầu điện giảm đi và các lo ngại về điện nguyên tử ngày
càng tăng, ví dụ nhƣ sự an toàn lò phản ứng, vấn đề chất thải, và những xem xét
môi trƣờng khác [16].
Tuy nhiên, nƣớc Mĩ vẫn có số lƣợng nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động
nhiều gấp đôi so với bất kì nƣớc nào trên Thế Giới vào năm 1991, chiếm hơn một
phần tƣ số lƣợng nhà máy đang hoạt động trên Thế Giới. Năng lƣợng nguyên tử
cung cấp gần 22% điện năng sản xuất ở nƣớc Mĩ [16].
Cuối năm 1991, 31 quốc gia khác cũng có nhà máy điện nguyên tử đang khai
thác thƣơng mại hoặc đang xây dựng [16]. Đó là một sự chuyển giao công nghệ
điện nguyên tử rộng khắp và ấn tƣợng.
Trong thập niên 1990, nƣớc Mĩ phải đối mặt trƣớc một vài vấn đề năng
lƣợng chính, và đã phát triển một vài mục tiêu chính cho năng lƣợng nguyên tử, đó
là: Duy trì sự an toàn cao và các chuẩn thiết kế; Giảm rủi ro kinh tế; Giảm rủi ro
điều tiết; Thiết lập một chƣơng trình chất thải hạt nhân mức cao thật hiệu quả. Một
vài trong số những mục tiêu năng lƣợng nguyên tử này đã đƣa vào Chính sách Năng
lƣợng năm 1992, đƣợc kí thành luật (nƣớc Mĩ) vào tháng 10 cùng năm [16].
Nƣớc Mĩ đang hành động để đạt tới những mục tiêu này theo nhiều phƣơng
thức khác nhau. Chẳng hạn, Bộ Năng lƣợng Mĩ gánh vác một số nỗ lực chung với
ngành công nghiệp hạt nhân để phát triển thế hệ tiếp theo của các nhà máy điện
nguyên tử. Những nhà máy đã và đang đƣợc thiết kế ngày một an toàn hơn và hiệu
phức tạp. Làm thế nào chúng ta có thể giảm tối thiểu các rủi ro? Tƣơng lai sẽ tùy
thuộc vào kĩ nghệ tiên tiến, nghiên cứu khoa học, và sự tham gia của mọi công dân.
1.1.3 Lợi ích và bất cập của việc sử dụng năng lƣợng nguyên tử
1.1.3.1 Lợi ích
Theo nghiên cứu "Công nghệ hạt nhân vì tương lai bền vững" của IAEA vào
tháng 6/2012, công nghệ hạt nhân có 6 lợi ích to lớn trong nỗ lực xây dựng tƣơng
lai bền vững, bao gồm:
9
Thứ nhất, tăng trƣởng dân số, thúc đẩy phát triển kinh tế, và thay đổi lối sống
đòi hỏi nguồn tài nguyên hơn bao giờ hết. Khai thác quá mức nguồn tài nguyên đã
bắt đầu làm tổn hại đến tự nhiên nhƣ đa dạng sinh học, không khí sạch, nƣớc sạch
và đất canh tác, một xu hƣớng đe dọa tính bền vững của phát triển. Để giúp chính
phủ các nƣớc thành viên đạt đƣợc khả năng áp dụng lớn hơn, IAEA đã phát triển
một phƣơng pháp mới để mô hình hóa các tƣơng tác phức tạp này gọi là CLEWS
(Chiến lƣợc khí hậu, sử dụng đất, năng lƣợng và nƣớc) cho phép phân tích đồng
thời và gắn kết tất cả các lĩnh vực này.
Thứ hai, cơ hội sử dụng nƣớc đủ, an toàn ngày càng tăng có thể đƣợc thực
hiện thông qua các kỹ thuật hạt nhân. Kỹ thuật này giúp chỉ ra các nguồn nƣớc
ngầm với chi phí thấp và nhanh hơn bất kỳ phƣơng pháp nào khác. Kỹ thuật hạt
nhân cũng nâng cao hiệu quả của hệ thống thủy lợi, sử dụng 70% tất cả các nguồn
nƣớc ngọt.
Thứ ba, cơ hội sử dụng năng lƣợng giá rẻ trực tiếp cải thiện phúc lợi của con
ngƣời. Dự báo hiện nay cho thấy nhu cầu điện tăng tới 60 đến 100% vào năm 2030.
Là một nguồn năng lƣợng carbon thấp, điện nguyên tử có thể giảm tối đa phát thải
khí gây hiệu ứng nhà kính và giảm thiểu các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.
IAEA giúp các nƣớc đang sử dụng hoặc đƣa vào điện nguyên tử thực hiện một cách
an toàn, an ninh, kinh tế và bền vững. Các tiêu chuẩn an toàn, sự hỗ trợ và các đánh
giá của IAEA đang làm tăng tính an toàn cho lĩnh vực này. IAEA cũng xác minh
năng lƣợng nguyên tử chỉ đƣợc sử dụng cho mục đích hòa bình, trực tiếp góp phần
tích xây dựng nhà máy điện nguyên tử giảm bớt do không cần bãi chứa than hay
kho dầu, vị trí xây dựng không nhất thiết phải gần đƣờng giao thông hay các mỏ
than.
Ƣu điểm lớn nhất của điện nguyên tử là tăng cƣờng an ninh năng lƣợng quốc
gia. Tài nguyên năng lƣợng không đồng đều trên toàn cầu, khoảng 70% trữ lƣợng
dầu thô ở Trung Đông, 70% trữ lƣợng khí đốt ở Trung Đông và Liên Xô cũ. Việc
cung cấp năng lƣợng cho các nƣớc phụ thuộc năng lƣợng trên toàn Thế giới cho
11
thấy: dự trữ than sẽ chỉ còn đủ dùng trong khoảng 200 năm, dầu thô trong 40 năm
và khí đốt trong 60 năm tới. Công nghệ mới đƣợc sử dụng trong thăm dò, khai thác
chế biến nhƣng giá thành cao. Trữ lƣợng nhiên liệu Uranium tự nhiên trên Thế giới
hiện đƣợc đánh giá đủ dùng trong 70 năm. Nhƣng với công nghệ hiện nay, nếu sử
dụng chu trình có tái chế nhiên liệu Uranium có thể đủ dùng trong 700 - 800 năm
[9]. Đây là tiềm năng lớn về an ninh nhiên liệu trung và dài hạn. điện nguyên tử góp
phần đa dạng hóa loại hình sản xuất điện, giảm phụ thuộc vào các loại nhiên liệu
hóa thạch, tránh đƣợc những cơn khủng hoảng nhiên liệu 2-3 thập kỷ tới.
Điện nguyên tử còn đƣợc đánh giá là giải pháp năng lƣợng sạch tối ƣu khi
không thải ra các chất độc hại nhƣ tro bay, khí SO
2
, NO
2
, CO và khí hiệu ứng nhà
kính CO
2
vào khí quyển nhƣ các nhà máy nhiệt điện sử dụng năng lƣợng hóa thạch.
điện nguyên tử sản xuất lại có giá thành thấp hơn, công suất lớn hơn…
Tuy nhiên, trong quá trình chế biến, xử lý nhiên liệu và vận hành nhà máy
điện nguyên tử có thể gây nên những tác động có hại đến môi trƣờng và sức khỏe
cộng đồng, do luôn tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ, thải vật liệu phóng xạ ra môi trƣờng, các
trên đƣợc định nghĩa là sự cố dẫn đến sự thiệt hại đến cuộc sống con ngƣời hoặc
nhiều hơn 50.000 USD thiệt hại tài sản), với tổng giá trị 20,5 tỷ USD bồi thƣờng
thiệt hại tài sản. Chi phí thiệt hại tài sản bao gồm tài sản bị hƣ hại, ứng phó khẩn
cấp, xử lý môi trƣờng, sơ tán, sản phẩm bị mất, phạt tiền, và yêu cầu tòa án [28].
Tai nạn hạt nhân tồi tệ nhất thế giới là thảm họa Chernobyl ở Ukraine vào
ngày 26/4/1986. Do không có tƣờng chắn nên các đám mây bụi phóng xạ bay lên
bầu trời và lan rộng ra nhiều khu vực phía tây Liên bang Xô Viết, một số nƣớc
Đông Âu và Tây Âu, Anh và phía đông Hoa Kỳ. Thảm hoạ này phát ra lƣợng phóng
xạ lớn gấp bốn trăm lần so với quả bom nguyên tử đƣợc ném xuống Hiroshima
[28]. Sau thảm họa, hàng loạt các vấn đề về ô nhiễm môi trƣờng cũng nhƣ về sức
khỏe đe dọa ngƣời dân.
Ít nhất 57 vụ tai nạn đã xảy ra từ sau thảm họa Chernobyl, và hơn 56 vụ tai
nạn hạt nhân đã xảy ra tại Hoa Kỳ. Tƣơng đối ít tai nạn có liên quan đến tử vong.
13
Gần đây nhất, ngày 11 tháng 3, 2011, sau trận thảm họa động đất và sóng thần
Sendai 2011, nhà máy điện nguyên tử Fukushima gặp hàng loạt các vấn đề đối với
các lò phản ứng và rò rỉ phóng xạ gây ra sự cố nhà máy điện Fukushima I. Tình
trạng ô nhiễm phóng xạ ngày càng cao. Tuy không có ngƣời tử vong tại chỗ, nhƣng
nó gây nhiều lo ngại về sức khỏe của con ngƣời trong khu vực bị ảnh hƣởng sau
này. Dự kiến phải mất vài năm để sửa chữa nhà máy và vài tháng để khử sạch
phóng xạ [28].
Thứ ba, nguồn nguyên liệu cho năng lƣợng nguyên tử là Uranium. Uranium
là một nguồn tài nguyên khan hiếm, dự trữ Uranium ƣớc tính chỉ đủ cho từ 30 đến
60 năm tới tùy thuộc vào nhu cầu thực tế [28].
Thứ tƣ, khung thời gian cần thiết cho các thủ tục, lên kế hoạch và xây dựng
một nhà máy điện nguyên tử thế hệ mới là trong khoảng từ 20 – 30 năm tại các nền
dân chủ phƣơng Tây [28]. Nói cách khác, vệc xây dựng một nhà máy điện nguyên
tử mới trong một thời gian ngắn là một ảo tƣởng.
Thứ năm, các nhà máy điện nguyên tử cũng nhƣ chất thải hạt nhân có thể là
các quy định khác.
Ở mặt bảo vệ, pháp luật năng lƣợng nguyên tử có hai khía cạnh khác nhau -
bảo vệ chống lại các mối nguy hiểm bức xạ kết nối với các ứng dụng hòa bình năng
lƣợng nguyên tử và chất phóng xạ, và công tác phòng chống sử dụng phi hòa bình
năng lƣợng nguyên tử bằng các phƣơng tiện của hệ thống bảo vệ phát triển vì mục
đích đó.
Định nghĩa
Cơ quan Năng lƣợng nguyên tử quốc tế IAEA (Trong Sổ tay về Luật năng
lƣợng nguyên tử) đã đƣa ra một định nghĩa rộng, Luật năng lƣợng nguyên tử là
15
"Khung của quy phạm pháp luật đặc biệt được tạo ra để điều chỉnh hành vi của
pháp nhân hay thể nhân tham gia vào các hoạt động liên quan đến vật liệu phân rã
hạt nhân, bức xạ ion hóa và tiếp xúc với nguồn tự nhiên của bức xạ” [27].
Vị trí của Luật nguyên tử trong hệ thống pháp luật
Luật năng lƣợng nguyên tử đƣợc quy đinh trong luật quốc gia và quốc tế.
Luật năng lƣợng nguyên tử thuộc ngành luật công pháp khi quy định trong
hiến pháp, luật hành chính, hình sự và các khía cạnh y tế công cộng; cũng là luật tƣ
pháp vì nó quy định trách nhiệm đối với thiệt hại hạt nhân.
Luật năng lƣợng nguyên tử là công pháp quốc tế vì nó tạo ra các tổ chức liên
chính phủ quốc tế, và trao cho họ quyền lập pháp hay trao cho cơ quan quyền bảo
vệ các mục đích hoà bình của nguyên liệu hạt nhân và việc lắp đặt. Luật năng lƣợng
nguyên tử là luật tƣ pháp quốc tế nhƣ quy định trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại
hạt nhân trong công ƣớc quốc tế khác nhau. Danh sách này chắc chắn có thể đƣợc
mở rộng ra hơn nữa.
Lịch sử của Luật nguyên tử
Một sự kiện quan trọng, trong đó ít liên quan đến việc xây dựng pháp luật hạt
nhân nhƣng liên quan nhiều hơn đến sự phát triển hợp tác quốc tế và trao đổi thông
tin hạt nhân, là Hội nghị quốc tế đầu tiên về sử dụng hòa bình năng lƣợng nguyên
tử, đƣợc tổ chức tại Geneva vào tháng 9/1955. Hơn 1400 đại biểu tham dự từ 73
nghiệm Halden ở Na Uy, dự án lò phản ứng Dragon tại Winfrith, Vƣơng quốc Anh,
Dự án Chiếu xạ thực phẩm Seibersdorf ở Áo, Trung tâm dữ liệu nguyên tử
Compilation tại Saclay, Pháp, và Chƣơng trình thƣ viện máy tính Enea tại Ispra, Ý,
đã đƣợc thành lập [27].
Enea cũng có hệ thống bảo vệ riêng của mình và Tòa án năng lƣợng nguyên
tử của châu Âu có thể quyết định các tranh chấp phát sinh từ việc áp dụng. Enea đã
khiến các nƣớc thành viên áp dụng pháp luật mà theo đó phí bảo hiểm đối với bảo
hiểm nguyên tử nhận đƣợc ƣu đãi thuế nhất định để cho phép các công ty bảo hiểm
17
xây dựng dự trữ nhanh hơn. Điều này chứng tỏ cách pháp luật có thể đóng góp vào
việc thúc đẩy nền kinh tế hạt nhân.
Cơ quan Năng lƣợng nguyên tử quốc tế (IAEA), đƣợc thành lập vào năm
1957, đã đƣợc dự kiến nhƣ một phƣơng tiện để đảm bảo cung cấp đầy đủ và bình
đẳng nguyên liệu hạt nhân cho các quốc gia thành viên và nhƣ một công cụ để bảo
vệ các mục đích hoà bình của năng lƣợng nguyên tử. Mục đích đầu tiên bị mất tầm
quan trọng khi nguồn uranium hóa ra lại là phong phú. Tuy nhiên, bằng cách thúc
đẩy các dự án hỗ trợ và phát triển với các tiêu chuẩn về chỉ tiêu sức khỏe và an toàn,
Cơ quan đóng góp vào sự phát triển của năng lƣợng nguyên tử ở các nƣớc thành
viên của mình và sự phát triển của pháp luật nguyên tử.
Mục tiêu của pháp luật nguyên tử
Mục tiêu chính của pháp luật nguyên tử là:
Để cung cấp một khuôn khổ pháp lý cho hoạt động liên quan đến năng lƣợng
nguyên tử và bức xạ ion hóa một cách đầy đủ để bảo vệ cá nhân, tài sản và môi
trƣờng[27].
Quá trình lập pháp pháp luật nguyên tử
Pháp luật năng lƣợng nguyên tử, giống nhƣ bất kỳ pháp luật khác, phải tuân
thủ các yêu cầu của hiến pháp và thể chế của hệ thống chính trị và pháp lý của mỗi
nƣớc. Tuy nhiên, chủ đề của năng lƣợng nguyên tử là rất phức tạp và mang tính kỹ
thuật, có một số hoạt động và các vật liệu gây rủi ro bất thƣờng đối với sức khỏe
quan trọng là nhận ra rằng các biện pháp pháp lý để nâng cao văn hóa an toàn hạt
nhân và an ninh trong một nhà nƣớc đặc biệt cũng phải đƣa vào trƣơng mục các
truyền thống pháp luật quốc gia của Nhà nƣớc.
Sổ tay của IAEA về Luật nguyên tử
IAEA đã công bố một Sổ tay về Luật nguyên tử cung cấp cho các nƣớc thành
viên IAEA giải pháp phù hợp mới để đánh giá tính đầy đủ của khuôn khổ pháp lý
quốc gia của họ quản lý việc sử dụng hòa bình năng lƣợng nguyên tử; và hƣớng dẫn