Sử dụng ma trận SWOT nhằm phân tích chiến lược áp dụng cho Công ty TNHH Metro Cash & Carry Việt Nam trong giai đoạn (2011-2015). - Pdf 28

METRO HIỆP PHÚ
Ngã tư Tân Thới Hiệp, Tân Thới Hiệp, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh
ĐT: (08) 37 172 979
Bất cứ ai có đăng kí kinh doanh hợp pháp theo qui định của nhà nước
Dịch vụ
Marketing và bán hàng
Các hoạt động đầu vào
Các hoạt động đầu ra
Hình 1. Đơn đặt hàng trên hệ thống GMS

Hình 2 . Lịch s ử nhận hàng

Hình 3. Hệ thống quản lý hàng bán, tồn kho
Hình 5. Quy trình phát triển một sản phẩm mang nhãn hàng riêng
Hình 6. Chỉ tiêu doanh số của một số nhân viên phòng Marketing
001
Net sales Food
97,940
83.90
103,158
84.39
30111100
Net sales Food (GMS)
98,033
83.98
103,251
84.46
 
Voucher & other deductions Food
-93
-0.08

6,594
6.39
30211200
Stat.Margin
7,140
7.29
7,579
7.35
30211300
Purchase Incidentals
-164
-0.17
-173
-0.17
30211400
SVA
0
0.00
0
0.00
30211500
Stock Corrections
-765
-0.78
-813
-0.79
012
Later Income Food
5,884
6.01

Đã có nhiều khái niệm, nhiều quan điểm đưa ra về lý thuyết chiến lược và
quản trị chiến lược như:
Theo Alfred Chandler (1962), “Chiến lược là việc xác định mục tiêu cơ
bản dài hạn của doanh nghiệp, chọn lựa tiến trình hoạt động và phân bổ các
nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó”.
Theo Ansoff H.I. (1965), ”có thể coi chiến lược như ”mạch kết nối
chung” giữa các hoạt động của doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ sản phẩm, nó
bao gồm bốn bộ phận: phạm vi thị trường – sản phẩm, vectơ tăng trưởng (các
thay đổi mà doanh nghiệp thực hiện để phù hợp với phạm vi thị trường – sản
phẩm đã xác định), lợi thế cạnh tranh và sự cộng hưởng”
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 1 NHÓM 4
LỜI NÓI ĐẦU
Theo trường phái của Trường Kinh doanh Harvard, trong tác phẩm
”Chính sách kinh doanh: Bài học và tình huống” (1965) với phần viết chính của
Andrews, thì chiến lược là hệ thống các mục tiêu, mục đích được tuyên bố dưới
dạng xác định ngành/lĩnh vực hoạt động kinh doanh mà công ty muốn tham gia,
quy mô, vị trí mà công ty muốn đạt được và các chính sách căn bản, các kế hoạch
để thực hiện mục tiêu đã định”.
Theo James B. Quinn (1980), “Chiến lược là sự tích hợp các mục tiêu
chính yếu, các chính sách và các chuỗi hoạt động của doanh nghiệp thành một
tổng thể”.
Theo William Glueck (1980), “Chiến lược là một kế hoạch thống nhất dễ
hiểu, tổng hợp được soạn thảo để đạt được mục tiêu”, hoặc “Chiến lược là một
kế hoạch mang tính thống nhất, toàn diện và phối hợp được thiết kế để đảm bảo
rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”.
Theo Fred R. David, chiến lược là những phương tiện đạt tới những
mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có: phát triển theo lãnh thổ,
chiến lược đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hàng hóa, phát triển sản phẩm, thâm
nhập thị trường, giảm chi phí, thanh lý, liên doanh...
Định nghĩa về chiến lược của Michael E. Porter, theo ông, 1) Chiến lược

của tổ chức”
Quản trị chiến lược là một khoa học, đồng thời là một nghệ thuật về
thiết lập, thực hiện và đánh giá các chiến lược. Hoặc Quản trị chiến lược là
quá trình thiết lập/ xây dựng, thực thi và đánh giá các chiến lược. (Sách Quản
Trị Chiến Lược, trang 47, GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân)
Và để hiểu hơn về Chiến lược, tầm nhìn, sứ mạng và quá trình Quản trị
Chiến lược Nhóm đã tiến hành thâm nhập thức tế vào một công ty hoạt động
trong lĩnh vực thương mại buôn bán sỉ và lẻ: Công ty TNHH Metro Cash &
Carry Việt Nam với đơn vị trực tiếp là Metro Hiệp Phú để tiến hành khảo sát,
đánh giá, học hỏi và rút kinh nghiệm nhằm mục đích:
 Tìm hiểu thêm về môi trường Thương Mại, là chuyên ngành mà
chúng em đang theo học và nghiên cứu.
 Học hỏi những kinh nghiệm thực tế, những khía cạnh chuyên môn
để bổ trợ cho công việc trong tương lai.
 Chuẩn bị một nền tảng cần thiết cho việc thực tập tốt nghiệp và các
đề tài nghiên cứu khoa học tiếp sau.
Với các phương pháp nghiên cứu:
 Tiếp xúc thực tế hoạt động
 Hỏi ý kiến những người trong công ty
 Tìm kiếm các nguồn thông tin thứ cấp trên hệ thống thong tin riêng
của doanh nghiệp (Intranet) và mạng Internet.
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 3 NHÓM 4
LỜI NÓI ĐẦU
 Thu thập tài liệu dựa vào các nguồn thông tin nội bộ, kết hợp suy
luận để đưa ra các quan điểm, đánh giá.
Trong bài tiểu luận, nhóm đã sử dụng Ma Trận TOWS để kết hợp các
điểm yếu, điểm mạnh từ môi trường bên trong với các cơ hội, nguy cơ từ môi
trường bên ngoài nhằm tìm ra những chiến lược có thể áp dụng cho Công ty
TNHH Metro Cash & Carry Việt Nam trong giai đoạn (2011-2015). Và dùng
Ma Trận QSPM để lượng hóa tính hấp dẫn, độ khả thi và phù hợp nhất với điều

Các giá trị đó được phản ánh trong khẩu hiệu thương hiệu của Metro Group là
“Made to Trade”.
1. Các hệ thống kinh doanh của tập đoàn
Metro Cash & Carry
Với các thương hiệu Metro and Makro, Metro Cash & Carry đã dẫn
đầu thị trường thế giới trong lĩnh vực bán sỉ tự phục vụ.
Media Markt and Saturn
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 5 NHÓM 4
PHẦN 1. GIỚI THIỆU METRO
Với thương hiệu bán hàng của Media Markt and Saturn số 1 ở Châu
Âu trong lĩnh vực kinh doanh các trung tâm điện tử tiêu dùng.
Real
Real thực sự là lãnh đạo của thị trường trong lĩnh vực siêu thị quy mô
lớn về thực phẩm tại Đức và Ba Lan và hoạt động cửa hàng ở Romania,
Nga và Thổ Nhĩ Kỳ.
Galeria Kaufhof
Galeria Kaufhof dẫn đầu trong phân khúc các trung tâm mua sắm hiện
đại ở Đức và thị trường tại Bỉ.
Tất cả các hệ thống kinh doanh của tập đoàn Metro đều đạt vị trí dẫn đầu
thị trường trong phân khúc tương ứng và chứng minh vai trò của Metro Group
trong thương mại và bán lẻ.. Sức mạnh sáng tạo là một trong những yếu tố thành
công chính của Metro Group. Là một công ty có tầm nhìn xa và hiệu suất cao,
Metro cũng mong muốn đóng góp cho sự phát triển xa hơn và hiện đại hóa của
ngành bán lẻ ở cả hai cấp độ, ở cấp quốc gia và ở cấp độ quốc tế.
2. Một vài số liệu của Metro Group
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 6 NHÓM 4
PHẦN 1. GIỚI THIỆU METRO
Fiscal Year 2010 2009
Sales € 67.3 billion (plus
2.6 percent)

tự phục vụ: tập trung vào khách hàng, quốc tế hóa và sáng tạo. Khái niệm được
định hướng đến việc giúp khách hàng thành công trên con đường kinh doanh
của riêng mình.
Năm 1964, trung tâm METRO đầu tiên được thành lập ở Mülheim an
der Ruhr, Đức với phương châm hoạt động: khách hàng đến tự mua hàng và vận
chuyển hàng hóa của họ thay vì phải đặt hàng thông qua nhiều nhà cung cấp.
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 7 NHÓM 4
PHẦN 1. GIỚI THIỆU METRO
Đây cũng chính là triết lý kinh doanh độc đáo và duy nhất của METRO Cash &
Carry.
Ngày nay, METRO đã trở thành nhà bán buôn hàng đầu thế giới, với 706
trung tâm ở 30 quốc gia. Với nhiều trung tâm buôn bán được nhân rộng khắp
nơi trên toàn thế giới, METRO Cash & Carry đang một lần nữa khẳng định vị
thế vượt trội của mình so với các đối thủ cạnh tranh.
• METRO đem đến sự đa dạng, chất lượng tuyệt hảo, giá cả cạnh tranh
về sản phẩm, dịch vụ - từ giao nhận đến giải pháp kinh doanh có sẵn.
• METRO là chuyên gia xuất sắc trong việc cung cấp các sản phẩm tươi
sống.
• Các trung tâm của METRO được thiết kế để đáp ứng với nhu cầu “one-
stop shopping” (Đáp ứng đầy đủ nhu cầu tại một địa điểm mua sắm duy nhất).
• METRO cung cấp các mặt hàng phù hợp với yêu cầu của khách hàng ở
từng địa phương.
Metro Cash & Carry nhìn lại một lịch sử thành
công trong các khái niệm bán buôn. Được thành lập vào năm 1964 ở Đức, công
ty nhanh chóng lan truyền sang nhiều nước ở châu Âu, châu Á và Bắc Phi.
Truyền thống của công ty trong lĩnh vực bán buôn được đi kèm với một văn hóa
doanh nghiệp quốc tế.
Phát triển ra quốc tế
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 8 NHÓM 4
PHẦN 1. GIỚI THIỆU METRO

tiên ở thành phố Hồ Chí Minh.
Với mô hình kinh doanh từ kinh doanh
đến kinh doanh rất độc đáo của METRO Cash & Carry chỉ tập trung hướng tới
khách hàng chuyên nghiệp như khách sạn, nhà hàng, Caterers cũng như các nhà
bán lẻ nhỏ và vừa.

METRO Cash & Carry cung cấp cho nhóm khách hàng này mục tiêu
hiệu quả cao hơn so với chuỗi cung ứng nhiều lớp, nhiều tầng do đó giúp họ cải
thiện hoạt động kinh doanh của mình: Bằng cách cung cấp cho họ giải pháp một
cửa cho việc mua bán, bằng cách cung cấp sản phẩm chất lượng cao với giá cả
hợp lý, minh bạch và đảm bảo một nguồn cung cấp phù hợp.
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Đến cuối năm 2010, METRO Cash & Carry hoạt động mười ba trung
tâm bán buôn trong cả nước: ba ở thành phố Hồ Chí Minh và hai tại Hà Nội,
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 10 NHÓM 4
PHẦN 1. GIỚI THIỆU METRO
cũng như ở Cần Thơ, Hải Phòng, Đà Nẵng, Biên Hòa - Đồng Nai, Long Xuyên -
An Giang, Quy Nhơn - Bình Định, Bình Dương, Vũng Tàu. Với một lực lượng
lao động hiện tại hơn 3.500 người.
2002:
Vào 28.3.2002, công ty METRO Cash & Carry Vietnam chính thức tham gia
vào thị trường phân phối tại Việt Nam với việc khai trương trung tâm METRO
đầu tiên (METRO Bình Phú) tại thành phố Hồ Chí Minh. Kế đến vào 5.12.2002,
cũng tại thành phố Hồ Chí Minh, tưng bừng khai trương trung tâm METRO thứ
hai – METRO An Phú.
2003:
Trung tâm METRO thứ ba (METRO Thăng Long) khai trương vào ngày
31.7.2003 tại thủ đô Hà Nội, đây cũng là trung tâm bán sỉ trả tiền mặt và tự vận
chuyển đầu tiên tại khu vực phía Bắc của Việt Nam.
2004:

trương tại thành phố Biên Hòa ( METRO Biên Hòa)
Ngày 11/09/2009 METRO Cash & Carry ký hợp đồng đầu tư tại tỉnh An
Giang, xây dựng trung tâm bán sĩ trả tiền mặt và tự vận chuyển tại thành phố
Long Xuyên. Đây là trung tâm bán sĩ trả tiền mặt và tự vận chuyển thứ 2 ở khu
vực đồng bằng sông Cửu Long.
2010:
Ngày 20/01/2010 METRO Cash & Carry thông báo xây dựng trung tâm
METRO tại miền trung ở thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định- Khu vực duyên
hải Miền Trung
Ngày 31/03/2010 Lễ động thổ xây dựng trung tâm METRO Long Xuyên
tại thành phố Long XUyên, tỉnh An Giang - Khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Ngày 07/05/2010 Lễ động thổ xây dựng trung tâm METRO Quy Nhơn
tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định - Khu vực duyên hải Miền Trung
Ngày 02/09/2010 METRO Cash & Carry Việt Nam khai trương trung
tâm METRO thứ 10 tại thành phố Long Xuyên, tình An Giang - Khu vực đồng
bằng Sông Cửu Long. METRO Long Xuyên
Ngày 13/10/2010 METRO Cash & Carry Việt Nam khai trương trung
tâm METRO thứ 11 tại thành phố Quy Nhơn, tình Bình Định - Khu vực Nam
Trung Bộ: METRO Quy Nhơn
Ngày 17/11/2010 METRO Cash & Carry Việt Nam khai trương trung
tâm METRO thứ 12 tại tình Bình Dương - Khu vực Đông Nam Bộ: METRO
Bình Dương
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 12 NHÓM 4
PHẦN 1. GIỚI THIỆU METRO
Ngày 23/12/2010 METRO Cash & Carry Việt Nam khai trương trung
tâm METRO thứ 13 tại Thành phố Vũng Tàu - Khu vực Đông Nam Bộ:
METRO Vũng Tàu.
2. Nguyên tắc hoạt động
1. Tập trung phục vụ nhu cầu của khách hàng chuyên nghiệp.
2. Vươn đến mục tiêu trở thành điểm đến mà khách hàng có thể mua

có được lòng tin của hơn 1 triệu khách hàng chuyên nghiệp ngay từ khi vào Việt
Nam.
Những lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam.
Nhà cung cấp và nhà sản xuất Việt Nam cung cấp hơn 95% hàng hoá bán tại
METRO Cash & Carry Việt Nam. Đây là tác nhân kích thích lớn và là động lực thúc
đẩy kinh tế địa phương và kinh tế vùng. Công ty tuyển dụng chủ yếu là người địa
phương để làm việc tại các trung tâm bán sỉ - bao gồm các vị trí quản lý. Với số nhân
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 14 NHÓM 4
PHẦN 1. GIỚI THIỆU METRO
viên hiện nay hơn 3.000 người, METRO Cash & Carry là một trong những nhà tuyển
dụng chính yếu ở Việt Nam. Quan tâm đặc biệt của METRO Cash & Carry là hỗ trợ
nhà cung cấp nội địa.
Từ năm 2002, cùng với các tổ chức đầu tư phát triển của Đức như DEG và
GTZ, công ty đã tổ chức các chương trình tập huấn cho nông dân và ngư dân. Người
tham dự sẽ được hướng dẫn để nâng cao năng suất, cải tiến phương pháp canh tác, kỹ
thuật sau thu hoạch, đóng gói và bảo quản và cải tiến chất lượng sản phẩm theo các
tiêu chuẩn chất lượng quốc tế với mục đích nhận được các chứng nhận quốc tế, ví dụ
chứng nhận GlobalGAP (chứng nhận quốc tế về thực hành nông nghiệp tốt, an toàn
vệ sinh thực phẩm và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm). Qua đó củng cố vị trí cạnh
tranh của nhà sản xuất nội địa và tạo điều kiện giúp họ có thể xâm nhập các thị
trường xuất khẩu ở nước ngoài. Đến nay đã có hơn 18.000 người tham dự các chương
trình tập huấn này.
Với việc áp dụng hệ thống quản lý cung ứng hiệu quả nhất hiện nay, METRO
Cash & Carry hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thương mại hiện đại dọc suốt chuỗi cung
ứng nông nghiệp của Việt Nam. METRO Cash & Carry tạo ra nhiều đóng góp quan
trọng cho chuỗi cung ứng địa phương và các thành phần tham gia vào chuỗi cung ứng
này qua các hoạt động:
• Mua trực tiếp từ nhà sản xuất, giảm bớt các khâu trung gian.
• Tập huấn cho nông dân, ví dụ, các tiêu chuẩn GAP và quản lý sau thu
hoạch.

hàng trong nỗ lực không ngừng từ toàn bộ nhân viên.
 Duy trì sự đánh giá cao, quản lí và phát triển
 Tiếp tục tập trung vào tiết kiệm chi phí và tối đa hóa hiệu quả
Khách hàng của Metro
*Phân loại khách hàng:
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 17 NHÓM 4
PHẦN 1. GIỚI THIỆU METRO
2. Các ngành hàng
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 18 NHÓM 4
PHẦN 1. GIỚI THIỆU METRO
3. Cơ cấu tổ chức ( xét ở một trung tâm cụ thể)
Xét ở mức độ Tổng Công Ty còn bao gồm nhiều bộ phận chức năng khác
như: Phòng Quản lí thu mua, Phòng Gia nhận hàng hóa, Phòng PR, Phòng điều
hành các khu vực (Bắc, Trung, Nam).v.v…
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 19 NHÓM 4
PHẦN 2. MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
PHẦN II. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ BÊN NGOÀI
CỦA METRO HIỆP PHÚ
CHƯƠNG I. Môi trường vĩ mô
1. Môi trường kinh tế
1.1. Lạm phát
Phân tích yếu tố lạm phát
Tình hình lạm phát của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2011:
Số liệu công bố ngày 24.6 của Tổng cục Thống kê cho thấy, chỉ số giá tiêu
dùng (CPI) tháng 6.2011 tăng 1,09% so với tháng 5, nâng tổng mức lạm phát từ
đầu năm đến nay lên 13,29%.
Source: Nielsen company.
Đây được xem là mức tăng CPI thấp nhất trong 6 tháng đầu năm 2011.
Tuy nhiên, nếu so bình quân cùng kỳ CPI 6 tháng đầu năm 2010, chỉ số này đã
tăng đến 16,03% và tăng đến 20,82% so với tháng 6.2010.

- Mặt hàng của Metro luôn có giá rẻ hơn so với thị trường chung,
đây là điều kiện thuận lợi để lôi kéo khách hàng và vượt mặt các đối thủ cạnh
tranh trong cuộc đua về giá
- Trong thời kì bão giá, người tiêu dùng Việt Nam muốn mua hàng
khuyến mãi, đây là cơ hội để Metro xây dựng các chiến lược khuyến mãi, giảm
giá hợp lí nhằm lôi kéo khách hàng
- Người tiêu dùng đang có xu hướng cắt giảm chi tiêu, và chỉ tập
trung vào những mặt hàng thiết yếu. Metro có thể nắm bắt tình hình này và
đưa ra những chiến lược phát triển sản phẩm mới, phục vụ cho nhu cầu thiết
yếu của con người, và giá cả phù hợp với túi tiền người tiêu dùng trong thời kì
hiện tại.
- Metro có một số mặt hàng có nguồn cung riêng và có nhãn hiệu
riêng, đây là những yếu tố lâu dài và khá phù hợp với thời kì bão giá hiện nay.
2. Môi trường chính trị luật pháp
2.1. Các rào cản đối với các nhà đầu tư nước ngoài
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 21 NHÓM 4
PHẦN 2. MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
Mặc dù ngành bán lẻ của Việt Nam vẫn chỉ phát triển chủ yếu với các cửa
hiệu tạp hóa nhỏ lẻ, nhưng nhiều nhà bán lẻ nước ngoài đang tỏ ra khá háo hức
giành cho mình một miếng bánh thị trường lớn hơn tại một đất nước với tầng
lớp trung lưu tăng trưởng nhanh bậc nhất châu Á.
Ministop, nhà quản lý chuỗi cửa hàng tiện lợi của Nhật, là công ty mới
đây nhất bắt tay vào kế hoạch hoạt động tại Việt Nam. Công ty này vừa ký thỏa
thuận liên doanh với tập đoàn cà phê Trung Nguyên mở 500 cửa hàng trong
vòng năm năm.
Takashimaya và Isetan Mitsukoshi, hai chuỗi cửa hàng bách hóa Nhật
nữa, cũng đang cân nhắc kế hoạch mở cửa tại đây.
Thực tế việc các nhà bán lẻ nước ngoài muốn liên doanh với một công ty
địa phương chứng tỏ những khó khăn mà các công ty nước ngoài đang vấp phải
khi một mình tham gia ngành bán lẻ của Việt Nam.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm, chúng tôi thấy rằng không có ngoại lệ nào đối với
“quyền được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất”, nghĩa là việc thành lập cơ sở bán lẻ nói
chung và cơ sở bán lẻ thứ nhất nói riêng trong mọi trường hợp đều là đối
tượng kiểm tra nhu cầu kinh tế và phải được sự chấp thuận của Bộ Công
Thương. Ngoài ra, chúng tôi được biết, qua một công văn của Bộ Công Thương,
ngay cả trong trường hợp cơ sở bán lẻ đang hoạt động hợp pháp của doanh
nghiệp cũng sẽ bị Kiểm tra nhu cầu kinh tế khi doanh nghiệp đăng ký chuyển
nhượng phần vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài. Việc sử dụng công cụ Kiểm
tra nhu cầu kinh tế trong trường hợp này là đã đi quá xa so với mục tiêu và ý
nghĩa tồn tại của các tiêu chí Kiểm tra nhu cầu kinh tế mà WTO cho phép.
Tiêu chí kiểm tra nhu cầu kinh tế
Để Kiểm tra nhu cầu kinh tế, Biểu cam kết đưa ra các tiêu chí chính
như sau:
(i) số lượng các nhà cung cấp dịch vụ đang hiện diện trong một
khu vực địa lý,
(ii) sự ổn định của thị trường và
(iii) quy mô địa lý.
Trong khi các tiêu chí trên chưa được cụ thể hóa phù hợp với điều
kiện trong nước thì Thông tư 09 lại bổ sung thêm 2 tiêu chí đánh giá mới là:
(iv) mật độ dân cư và
(v) sự phù hợp của dự án đầu tư với quy hoạch địa phương.
Hai tiêu chí này hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của Biểu cam kết. Trong
“sách trắng” mới nhất về môi trường kinh doanh Việt Nam, Phòng Thương mại
GVHD GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN TRANG 23 NHÓM 4
PHẦN 2. MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
châu Âu đã miêu tả việc thẩm định này là “rào cản tiếp cận thị trường quan
trọng đối với nhà đầu tư, được áp dụng tùy tiện và khác nhau” ở từng tỉnh.
Các quan chức Việt Nam cho rằng những quy định thẩm định như thế là
cần thiết để bảo vệ lợi ích của nhà bán lẻ nhỏ trong nước. Dĩ nhiên, ở phương
Tây, những cửa hàng như thế đã bị đánh bật bởi những ông lớn từ lâu rồi.

làm người dân lo lắng, 99% số người được phỏng vấn đều rất lo lắng về sự
trượt giá này. Hệ quả là 81% người tiêu dùng giảm chi tiêu không cần thiết, 67%
phải bớt tiền tiết kiệm, 49% giảm bớt chi phí giải trí và 44% cố gắng tìm các
khuyến mãi hàng ngày.
Những thay đổi về giá gần đây có ảnh hưởng quan trọng, trong khi đó
người dân vẫn phải tiếp tục mua sắm các mặt hàng thiết yếu. Sức mua của 60%
hộ gia đình giảm tương đối rõ ràng, 96% người dân cho biết giá chi tiêu đã tăng
tương đối đáng kể.
3.2. Thời kỳ khuyến mãi
Việt Nam có lượng người mua sắm quan tâm đến khuyến mãi nhiều
nhất, với 87% thường xuyên mua hàng khuyến mãi, so với mức trung bình 68%
của khu vực. Nielsen phát hiện 56% người tiêu dùng Việt Nam tích cực săn hàng
khuyến mãi khi mua sắm, so với 38% của khu vực. Điều này một phần là do chi
phí các hàng hóa tiêu dùng hằng ngày đang tăng cao.
Với việc áp lực lạm phát chưa có dấu hiệu thuyên giảm, người tiêu dùng Việt
Nam đang thích nghi với sự gia tăng chi phí sinh hoạt hằng ngày bằng cách thay
đổi đáng kể hành vi mua sắm. Theo kết quả khảo sát, 60% người tiêu dùng Việt
Nam tại Tp.HCM và Hà Nội cho biết khả năng mua sắm đồ đạc trong gia đình
của họ đã giảm xuống do giá cả leo thang. Kết quả là họ đang phải tiết kiệm
hơn bằng cách giảm chi tiêu vào các hoạt động giải trí như ăn nhà hàng hay đi
du lịch.
Khi người tiêu dùng phải chống đỡ với giá cả leo thang, những thay đổi
nhất định trong thói quen mua sắm cũng xuất hiện, như hạn chế số lần ghé
thăm các cửa hàng hay số lượng sản phẩm mỗi dịp mua sắm, hay chỉ mua hàng
vào dịp có khuyến mãi hay mua tại các cửa hàng gần nhà hơn để tiết kiệm chi
phí xăng xe. Người tiêu dùng cũng mua với khối lượng lớn hơn những mặt hàng
sử dụng thường xuyên, như bột giặt, dầu gội đầu, nước mắm, hạt nêm để tiết
kiệm "ngân sách".
3.3. Các kênh mua sắm
Mặc dù hành vi của người tiêu dùng đang thay đổi, nhưng có một đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status