Nghiên cứu thành phần loài tuyến trùng ký sinh trên cây lạc ở tỉnh hưng yên - Pdf 28

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Tạ Thị Mai Anh

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI TUYẾN TRÙNG
KÝ SINH TRÊN CÂY LẠC Ở TỈNH HƢNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2014
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể thực hiện được luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm cùng tập thể các thầy cô giáo trong Khoa
sinh nói chung và Bộ môn động vật không xương sống nói riêng đã tận tình chỉ bảo, giúp
đỡ để tôi hoàn thành được chương trình học tại Khoa sinh – Đại học khoa học tự nhiên,
Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời tri ân tới TS. Trịnh Quang Pháp, Phó phòng tuyến
trùng - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã cung cấp những trợ giúp về mặt kỹ thuật và
các ý kiến tư vấn hết sức hiệu quả, giúp tôi hoàn thành tốt nhất công việc của mình trong
phòng thí nghiệm.
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới toàn thể gia đình, bạn bè những
người luôn bên cạnh giúp đỡ, là chỗ dựa tinh thần để tôi có thể hoàn thành được luận văn
này. Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Tác giả 4

MỤC

LỤC

3.4. Đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài tuyến trùng ký sinh quan trọng
trên cây lạc ở tỉnh Hƣng Yên 60
3.4.1. Nhóm tuyến trùng ngoại ký sinh ở cây lạc 60
3.4.2. Nhóm tuyến trùng nội ký sinh ở cây lạc 61
3.5. Mật độ ký sinh và tần suất hiện diện của tuyến trùng trên cây lạc ở tỉnh
Hƣng Yên 61
3.6. Sự tƣơng quan tuyến trùng ký sinh đến triệu chứng hại trên cây lạc ở tỉnh
Hƣng Yên 63
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
Kết luận 65
Khuyến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Tiếng Việt 67
Tiếng Anh 68
PHỤ LỤC

6

DANH

MỤC

BẢNG
Bảng 1.1. Diện tích trồng cây lạc ở tỉnh Hƣng Yên trong năm 2012, 2013 23
Bảng 1.2. Diện tích trồng cây lạc nhiều nhất ở các xã tại 3 khu vực 24
Bảng 3.1. Hệ thống định loại các loài tuyến trùng ký sinh cây lạc ở Hƣng Yên 34
Bảng 3.2. Thành phần tuyến trùng ký sinh trên cây lạc ở Hƣng Yên 59
Bảng 3.3. Tần suất xuất hiện và mật độ tuyến trùng ký sinh ở cây lạc 62
Bảng 3.4. Tƣơng quan giữa mật độ tuyến trùng ký sinh và triệu chứng bệnh trên cây
lạc 64

Hình 3.2. Ảnh chụp kính hiển vi của Ditylenchus ausafi 38
Hình 3.3. Ảnh chụp kính hiển vi của Ditylenchus equalis 40
Hình 3.4. Ảnh chụp kính hiển vi của Tylenchorhynchus clavicaudatus 42
Hình 3.5. Ảnh chụp kính hiển vi của Tylenchorhynchus dispersus 44
Hình 3.6. Ảnh chụp kính hiển vi của Tylenchorhynchus leviterminalis 46
Hình 3.7. Ảnh chụp kính hiển vi của Helicotylenchus laevicaudatus 48
Hình 3.8. Hình vẽ và ảnh chụp kính hiển vi của Pratylenchus brachyurus 51
Hình 3.9. Ảnh chụp kính hiển vi của Pratylenchus neglectus 53
Hình 3.10. Ảnh chụp kính hiển vi của Criconemella onoensis 55
Hình 3.11. Ảnh chụp kính hiển vi của Criconemella sphaerocephala 57 8

DANH MỤC

CÁC

TỪ

VIẾT

TẮT VÀ THUẬT NGỮ
CHLB Đức: Cộng hòa liên bang Đức

với tử cung
Vulva: Âm hộ, lỗ sinh dục cái 10 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong các cây công nghiệp ngắn ngày đang đƣợc sản xuất ở Việt Nam thì cây Lạc
có một vị trí rất quan trọng. Cây Lạc, còn đƣợc gọi là Đậu phộng hay Đậu phụng (tên
khoa học là Arachis hypogaea), là một loài cây thực phẩm thuộc họ Đậu có nguồn
gốc tại Trung và Nam Mỹ. Sản phẩm của cây lạc rất giàu lipit, protein dùng làm thức
ăn cho ngƣời và gia súc, dầu lạc cũng đƣợc sử dụng trong công nghiệp. Ngoài tiêu
dùng nội địa, sản phẩm của cây lạc còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao,
mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 100.000-135.000 tấn thu về 65-120 triệu USD[26].
Cây lạc đƣợc trồng khá phổ biến tại Việt Nam, trong đó tỉnh Hƣng Yên là một
trong những tỉnh trồng nhiều nhất. Nằm gọn trong một ô trũng thuộc đồng bằng sông
Hồng, đƣợc cấu tạo bằng các trầm tích thuộc kỷ Đệ Tứ, với chiều dài 150m - 160m và
đất đai trong tỉnh đƣợc hình thành do phù sa sông Hồng bồi đắp. Thành phần cơ giới
của đất khá đa dạng từ đất thịt nhẹ đến đất thịt pha nhiễm chua. Bên cạnh tài nguyên
đất đai, tỉnh Hƣng Yên còn có nguồn tài nguyên nƣớc khá phong phú, có thể cung cấp
nƣớc trực tiếp cho nông nghiệp qua các hệ thống sông ngòi tự nhiên và hệ thống trung
đại thuỷ nông Bắc - Hƣng - Hải. Với những ƣu thế đó thì cây lạc đƣợc chú trọng quan
tâm đặc biệt bởi nó phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh Hƣng Yên.
Thành phần sinh hoá của hạt lạc có thể thay đổi phụ thuộc vào giống, vào sự biến
động các điều kiện khí hậu giữa các năm, vào vị trí của hạt ở quả, các yếu tố không
bình thƣờng nhƣ: sâu bệnh hại, và phƣơng pháp phân tích khác nhau cũng ảnh hƣởng
đến thành phần sinh hoá của hạt lạc [1].
Các loại bệnh hại trên cây lạc chủ yếu do các loài sâu, rệp, vi khuẩn gây ra và


12 Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu về tuyến trùng ký sinh cây lạc trên Thế giới và tại Việt
Nam
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về tuyến trùng ký sinh cây lạc trên Thế giới
Tuyến trùng ký sinh thực vật là nhóm tuyến trùng chủ yếu sống trong đất và có
qua hệ chặt chẽ với thực vật đang phát triển. Chúng sống và ký sinh ở tất cả các phần
của thực vật, bao gồm rễ, thân, lá và các hoa của thực vật đang phát triển. Do quá trình
sống và sinh sản trên hoặc trong cơ thể thực vật, tuyến trùng có thể gây ra nhiều biến
đổi theo chiều hƣớng bất lợi đối với thực vật-cây chủ nhƣ phá hủy mô thực vật, tạo
các vết thƣơng, các biến đổi về sinh lý…Ngoài tác hại trực tiếp trên, chúng còn có
mối quan hệ với các tác nhân gây bệnh khác, từ đó làm giảm khả năng miễn dịch của
thực vật [4].
Tuyến trùng thực vật gồm các loài tuyến trùng ở 4 bộ, khác nhau về cấu tạo hình
thái, giải phẫu và tính chất ký sinh ở thực vật. Bộ Tylenchida: bao gồm hầu hết các
loài tuyến trùng là đại diện cho các nhóm ký sinh ở các phần khác nhau của thực vât.
Bộ Aphelenchida: gồm một số loài tuyến trùng ký sinh ở các phần trên mặt đất của
cây nhƣ lá, hoa. Bộ Dorylaimida: gồm các loài họ Longidoridae là nhóm tuyến trùng
ngoại ký sinh thực vật, một số loài có khả năng mang truyền virus. Bộ Triplonchida:
gồm các loài của 2 họ Trichodoridae và Diphterophoridae là nhóm ngoại ký sinh thực
vật, nhiều loài có khả năng mang truyền virus. Trong đó bộ Tylenchida là nhóm tuyến
trùng ký sinh đông đảo nhất và có tầm quan trọng nhất trên phạm vi toàn thế giới [4].
Theo báo cáo tổng quan của các nhà nghiên cứu về tuyến trùng học, cho đến nay
đã xác định hàng trăm loài tuyến trùng ký sinh, gây thiệt hại trên cây lạc tại nhiều khu
vực khác nhau trên thế giới, trong đó phổ biến nhất là các loài hoặc nhóm loài sau:
Meloidogyne spp., Pratylenchus brachyurus, Belonolaimus longicaudatus,
Criconemella ornata, Aphelenchoides arachidis, Aphasmatylenchus straturatus,

14

triển rất nhanh sau 2 ngày. Chỉ sau 8 ngày các tế bào phát triển lớn, đa nhân và mật độ
dày đặc. Các tế bào gần chỗ tuyến trùng xâm nhập bắt đầu phân chia nhanh chóng và
tăng về kích thƣớc rồi phình to ra dẫn đến mất tổ chức của mô mạch. Sự xuất hiện các
nốt sần ở rễ giống nhƣ các u mô nhỏ của tế bào có liên quan tới tuyến trùng bao bên
ngoài của trụ rễ, chúng đƣợc nhân rộng và phát triển ra ngoài vỏ. Các tế bào lân cận
của vỏ tế bào cũng đã bị phá hủy bởi sự nhân lên nhanh chóng của mật độ tuyến trùng
và các mô tế bào bắt đầu bị hoại tử, sự phát triển về chiều dài của rễ bị hạn chế bởi
những u nốt trên rễ, chức năng vận chuyển nƣớc và chất dinh dƣỡng của rễ cũng bị
phá hủy [26].
Tất cả sự thay đổi về cấu tạo giải phẫu bởi M. javanica trên các tế bào rễ cây lạc
chính là sự tăng nhanh và phình to ra của các tế bào mà kết quả là do sự hình thành
của các tế bào khổng lồ đa nhân ở vỏ và thân của rễ. Các nốt sần trên rễ và củ lạc do
M.arenaria và M. javanica thƣờng giống nhau và lớn hơn so với các nốt sần do
M. hapla [9,19]. Các nốt sần đƣợc tạo ra bởi M. arenaria và M. javanica có thể có
đƣờng kính lớn gấp vài lần so với các rễ bên cạnh, do đó nó ít mở rộng hơn so với các
rễ nhánh không bị nhiễm. Sakhuji và Sethi (1985) quan sát ở các rễ bị nhiễm bởi
M. javanica thì chúng tăng lên nhanh chóng từ 2 đến 5 lần so với các rễ bên cạnh ở tất
cả vị trí. Nốt sần tạo ra do Rhizobium trên rễ cây lạc có thể đƣợc chẩn đoán nhầm
giống nhƣ nốt sần do tuyến trùng gây ra nhƣng thực tế chúng lại rất khác nhau [32].
Machmer (1951) đã mô tả các triệu chứng trên cây lạc bị nhiễm bởi M. arenaria
nhƣ sau: sự sây sát xảy ra trên tất cả các phần dƣới của cây lạc kể cả vỏ lạc cũng xuất
hiện các nốt mụn. Thân củ lạc thƣờng rất nhiều nốt mụn và dễ dàng bị cắt đứt nếu củ
lạc bị nhiễm sớm từ đó sẽ ảnh hƣởng tới phôi thai hạt giống. Machmer cũng nói thêm
về quần thể thực vật cây lạc không biểu hiện bệnh dễ thấy cho đến khi chúng gần
đƣợc thu hoạch. Tại Trung Quốc, Zhang (1985) cũng đã thông báo cây lạc bị nhiễm
tuyến trùng M. arenariasau khoảng 40 ngày trồng thì lá cây lạc đã bắt đầu chuyển
màu vàng và cây bị còi cọc. Biểu hiện trên mặt đất của M. hapla (Taylor & Sasser,
1978) và M. javanica (Minton & cs., 1969b) tƣơng tự giống nhƣ của M. arenaria. Khi

đã tìm thấy ấu trùng của Meloidogyne trong 28 chi thu đƣợc từ việc lấy mẫu cách 2m
dƣới đất ở khu vực phía Tây bang Texas. Nó đƣợc phân tán theo dòng chảy của nƣớc
và hoạt động tƣới tiêu cây trồng nhƣng phần lớn chúng đƣợc lan truyền rộng rãi do
hoạt động của con ngƣời. Chúng có thể đƣợc lây lan khi đào bới các cây lạc tƣơi, bao
gồm cả củ và rễ lạc, nhƣng nói chung chúng không tồn tại trong củ lạc có vỏ quá khô.
Nếu việc làm đất không kỹ và không đƣợc khô hoàn toàn thì đó có thể là nơi ẩn náu
cho trứng phát triển và ấu trùng sẽ đƣợc lây nhiễm trở lại vào cây chủ. Đất từ các khu
vực bị nhiễm bệnh có thể bị lây vào các khu vực khác khi chúng đƣợc đào xới bằng
các phƣơng tiện vận chuyển hoặc sự đi lại của vật nuôi, con ngƣời cũng có thể là
nguồn gốc cho trứng và ấu trùng phát triển.
Các yếu tố môi trường ảnh hướng tới hoạt động ký sinh của tuyến trùng: Nhiệt độ
đƣợc xem là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng tới sự tồn tại và hoạt động ký sinh của
Meloidogyne và nhiệt độ thấp nhất và cao nhất cho sự tồn tại tƣơng ứng vào khoảng
từ 0
0
C- 5
0
C và 35
0
C- 40
0
C (Taylor & Sasser, 1978). Nói chung nhiệt độ tối ƣu cho sự
phát triển của trứng và ấu trùng là 10
0
C-15
0
C (Bergeson, 1959; Thomason & cs.,
1964). Nhiệt độ tối ƣu cho sự ấp trứng của M. hapla và M. javanica tƣơng đối từ
25
0

0
C trong đất có độ ẩm bão hòa hơn khi tiếp
xúc với các nhiệt độ trong đất có độ ẩm cao hơn ở 51cm. Trong số những loài
Meloidogyne đang tồn tại, trứng nở và sinh sản đƣợc trên phạm vi pH rộng. Nếu độ
pH trong đất thuận lợi cho sự phát triển của cây thì tuyến trùng sẽ hoạt động rất mạnh
(Wallace, 1971). Zhang (1985) cho rằng việc bổ sung để làm thay đổi thành phần các
chất hữu cơ trong đất có thể làm giảm mức độ sinh sản của M. arenaria [44].
Tổ hợp gây bệnh: Garcia và Mitchell (1975a) đã quan sát mức độ phức tạp trong
tỷ lệ bệnh thối quả lạc khi Pythium myriotylum kết hợp với Fusarium solani hoặc
M.arenaria hoặc sự kết hợp của các tác nhân gây bệnh khác. Garcia và Mitchell
(1975b) cũng thông báo sự kết hợp giữa nấm P. myriotylum và tuyến trùng M.
arenaria làm cho tỷ lệ cây bị đổ ngang nhiều hơn so với các tác nhân gây bệnh riêng
biệt. Khi cho nhiễm vào cây lạc từ 2g-4g sợi nấm F. solani cùng với 1000-2000 M.
18

arenaria sẽ làm cây héo sớm hơn so với khi tiêm một mình F. solani (Patel &
cs.,1985). Kết quả nghiên cứu 2 năm trong chậu đất cho thấy sự hiện diện của
M.arenaria không có ảnh hƣởng đến tỷ lệ nhiễm Aspergillus flavus trong hạt lạc
(Minton & Jackson, 1967). Thí nghiệm của Minton & cs.(1969a) cũng cho thấy lệ
nhiễm của A. flavus lớn hơn trong hạt giống của cây khi chủng đồng thời cả A. flavus
và M. hapla so với cây chỉ cho nhiễm A. flavus [31].
Tầm quan trọng và mức độ thiệt hại về mặt kinh tế: Thông tin về tầm quan trọng
kinh tế của Meloidogyne ký sinh trên cây lạc không có sẵn ở một số khu vực trên thế
giới. Ƣớc tính năng suất thiệt hại do một loài tuyến trùng gây ra thƣờng tƣơng đối khó
khăn vì thiệt hại năng suất không phải do một loài tạo ra mà thƣờng là sự kết hợp của
nhiều loài đồng thời gây ra [13].Ở Georgia, Motsinger & cs. (1976) đã tìm thấy 9,7%
của 12 khu vực khảo sát đã bị tàn phá bởi M. arenaria hoặc M. hapla. Trong 11 vùng
ở Alabama, Ingram và Rodriguez-Kabana (1980) đã tìm thấy 41,4% các vùng khảo
sát bị tàn phá bởi các loài Meloidogyne.
Thiệt hại trong các khu vực bị tàn phá có thể vƣợt quá 50%, tuy nhiên thiệt hại

Ai Cập (Oteifa, 1962), Aus tralia (Colbran, 1968) và Zimbabwe (Anon, 1973). Ngoài
ra, P. coffee cũng gây hại trên cây lạc tại Ấn Độ (Chabra & Mahajan, 1976).
Triệu chứng gây hại: P. brachyurus là tuyến trùng nội ký sinh trong rễ, củ và vỏ
lạc. Steiner (1945) & Boyle (1954) đã mô tả thấy rõ sự lây nhiễm của chúng trong vỏ
lạc. Good & cs. đã chỉ ra P. brachyurus ký sinh trong rễ và củ giống nhƣ ký sinh trong
vỏ củ lạc trƣởng thành, nhƣng số lƣợng ký sinh trong vỏ nhiều hơn vì ở đó có các nốt
hoại tử tối màu. Vài trăm tuyến trùng P. brachyurus có thể xâm chiếm tạo ra một tổn
thƣơng duy nhất và lây nhiễm ở tất cả các giai đoạn phát triển. Khi chúng lây nhiễm
đƣợc vào rễ thì số lƣợng sẽ tăng lên nhanh chóng, kết quả làm cho cây héo vàng và
ảnh hƣởng tới năng suất cây lạc [20].
Trong thí nghiệm đƣợc tiến hành với đất vô trùng và sau đó lây nhiễm
P. brachyurus vào thì Boswell (1968) đã phát hiện ra rằng tuyến trùng đã trui qua vỏ
có màu vàng nhạt mỏng manh đến màu nâu bên trong vỏ để xuất hiện trong hạt. Tổn
20

thƣơng đặc trƣng trên mô vỏ là các lỗ nhỏ màu đen và gần chỗ tổn thƣơng thì màu sắc
các mô nhạt dần hơn so với phần trung tâm. Kiểm tra chặt chẽ màu sắc của các tổn
thƣơng thì thấy rằng nguyên nhân chủ yếu là do hoại tử nhu mô. Mức độ tổn thƣơng
gây ra bởi tuyến trùng không rõ ràng nhƣ mức độ tổn thƣơng đƣợc gây ra khi
Rhizotonia solani có mặt. Tổn thƣơng bị gây ra bởi 2 sinh vật trên đƣợc mô tả khá đơn
giản vì chỉ xuất hiện các đốm màu nâu chuyển thành màu đen bên trong các khu vực
hoại tử. Các tổn thƣơng có một giới hạn nhất định mặc dù hình dạng của chúng có thể
không ổn định. Tổn thƣơng bị nhiễm cả P. brachyurus và R. solani thì khi kiểm tra
bằng kính hiển vi cho thấy sự hiện diện của hạch nấm. Boswell (1968) đã mô tả các
triệu chứng của P. brachyurus gây thiệt hại trên vỏ củ lạc có sự khác nhau đôi chút
trong các vùng. Get & cs. (1958) đã phân biệt đƣợc sự tổn thƣơng trên vỏ trƣởng
thành có màu nâu tím với các tổn thƣơng gây ra bởi vi sinh vật đất thƣờng có màu tối
hơn và thƣờng không phai dần vào các mô khỏe mạnh xung quanh cũng nhƣ không
phân hủy vi sinh vật.


Biện pháp phòng trừ: Thiệt hại năng suất do P. brachyurus gây ra trên cây lạc là
tƣơng đối nhỏ so với số lƣợng các khu vực bị nhiễm. Do đó, việc phòng trừ tuyến
trùng này trên cây lạc đã không đƣợc tiến hành rộng rãi, ngoại trừ trong một số lĩnh
vực bị nhiễm nghiêm trọng và gây thiệt hại nặng với cây trồng [20].
Biện pháp canh tác: Nói chung, luân canh cây trồng để phòng trừ P. brachyurus
trên cây lạc không có hiệu quả vì tuyến trùng có khả năng ký sinh rộng rãi trên các
loại cây trồng và cỏ dại. Và cũng bởi vì có rất ít cây có thể luân canh đƣợc với cây lạc
mà không bị nhiễm tuyến trùng. Good & cs.(1954) đã tìm thấy rằng số lƣợng của
P. brachyurus trong cây ngô lớn hơn so với cây lạc khi trồng xen canh ngô với lạc.
22

Ngoài ra, ông còn quan sát thấy rằng nếu thu hoạch lạc kịp thời sẽ loại bỏ
P. brachyurus so với các vùng thu hoạch trễ, do đó tuyến trùng sót lại trong đất ít và sẽ
không lây nhiễm các vụ tiếp theo. Boswell (1968) cũng cho thấy thu hoạch kịp thời
gia tăng năng suất và giá trị của cây lạc so với thu hoạch trễ. Good & Stansell (1965)
cho thấy cây lạc bị nhiễm P. brachyurus trên đất không đƣợc tƣới tiêu sẽ có năng suất
cao hơn so với cây lạc đƣợc tƣới đầy đủ, mặc dù số lƣợng tuyến trùng trên cây lạc
đƣợc tƣới tiêu lớn hơn gấp 10 lần so với cây lạc khô.
Giống kháng: Không một giống cây lạc nào có thể kháng với P. brachyurus.
Minton & cs. (1970) đã xác định 6 giống lạc bị nhiễm bệnh giống nhau với
P. brachyurus, nhƣng các triệu chứng tổn thƣơng không dễ thấy. Smith & cs. (1978)
đã giới thiệu đƣợc 2 giống kháng là PI 290606 và PI 295233. Starr (1984) sau đó công
nhận những phát hiện của họ và giới thiệu bổ sung thêm cây kháng là PI 365553.
Biện pháp hóa học: Sự phá hoại nghiêm trọng của P. brachyurus có thể làm giảm
năng suất nhiều cũng nhƣ vài trăm kg mỗi ha. Những nơi xảy ra phá hoại nghiêm
trọng thì điều trị bằng phƣơng pháp hóa học là hiệu quả nhất. Phòng trừ loài tuyến
trùng Meloidogyne cũng phòng trừ luôn cả P. brachyurus [26,39].
Loài tuyến trùng ngoại ký sinh rễ lạc Belonolaimus longicaudatus
Đây là tuyến trùng dạng chích hút, B. longicaudatus, chúng tồn tại trong đất cát
dọc theo đồng bằng ven biển Đại Tây Dƣơng từ Connecticut và New Jersey tới

chuyển và sinh sản của nó. Miller (1972a) đã tìm thấy B. longicaudatus trong đất
24

trồng cây lạc ở Virginia nơi đất có hàm lƣợng cát 84-94%. Nhiệt độ và độ ẩm đất cũng
ảnh hƣởng đến sự sinh sản và sự sống còn của B. longigcaudatus. Nhiệt độ sinh sản
thuận lợi nhất là ở 25
0
C-30
0
C (Robbins & Barker, 1974) giống với kết quả thu đƣợc
của Perry (1965). Perry quan sát thấy rằng nhiệt độ lớn nhất cho sinh sản của B.
longicaudatus là ở 29,4
0
C, thấp nhất là 26,7
0
C và sinh sản sẽ giảm khi ở nhiệt độ
35
0
C. Boyd & Perry (1969) kết luận rằng tuyến trùng này hoặc là chết hoặc di cƣ
xuống đất cách mặt đất khoảng 2,5cm khi nhiệt độ là 39,5
0
C hoặc cao hơn. Robbins
và Barker (1974) đƣợc tìm thấy độ ẩm đất tối ƣu cho sinh sản là 7% [24,25,44].
Tầm quan trọng kinh tế và mức độ thiệt hại: Thiệt hại kinh tế cho cây lạc ở Mỹ do
B. longicaudatus là không lớn mặc dù có thiệt hại nghiêm trọng tuyến trùng này gây
ra. Thiệt hại do tuyến trùng này đã đƣợc báo cáo ở Bắc Carolina (0,30%), Oklahoma
(0,25%) và Virginia (0,50%) (Anon, 1987). Sản xuất nông nghiệp đã đƣợc gia tăng
lên đến 400% ở Bắc Carolina (Cooper & cs., 1959) khi xử lý đƣợc tuyến trùng này ký
sinh. Trong đó mật độ số lƣợng trung bình của B. longicaudatus là khoảng 50 trong
473cm

nhiễm tuyến trùng đã giảm khoảng một nửa [27].
Phương thức tồn tại phổ biến: Các thông tin liên quan đến các yếu tố ảnh hƣởng
đến sự sống còn của C. ornata thƣờng rất ít và bị hạn chế. Một số thí nghiệm đã đƣợc
thực hiện để tìm ra loại đất thích hợp cho thấy chúng thích hợp với loại đất nhẹ
(Barker, 1974) và số lƣợng sẽ giảm nhanh chóng nếu đất nghèo dinh dƣỡng. Sự phát
tán của C. ornata thƣờng xảy ra chủ yếu khi vận chuyển đất trên thiết bị nông nghiệp,
chân của động vật, trong nƣớc và trong đất bám vào cây [28].
Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tuyến trùng ký sinh: Các yếu tố môi trƣờng ảnh
hƣởng đến việc ký sinh trên cây lạc của C. ornata đã nhận đƣợc rất ít sự chú ý. Barker

Trích đoạn Giống Pratylenchus Filipjev, 1936 Giống Criconemellade Grise & Loof, 1965 Nhóm tuyến trùng ngoại ký sin hở cây lạc Sự tƣơng quan tuyến trùng ký sinh đến triệu chứng hại trên cây lạc ở tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status