TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
- - - -
NGUYỄN LỆ THỦY
ĐIỀU TRA NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI
CÔN TRÙNG, ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH
HỌC SINH THÁI CỦA SÂU CUỐN LÁ
LAMPROSEMA INDICATA FABR. TRÊN CÂY
ĐẬU TƢƠNG VÙNG NGOẠI THÀNH HÀ NỘI
VỤ ĐÔNG XUÂN 2014-2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phạm Quỳnh Mai
\
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cám ơn chân thành đến:
Các thầy cô giáo khoa Sinh – KTNN, trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội II
đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập cũng như thực
hiện khóa luận tốt nghiệp.
TS. Phạm Quỳnh Mai – Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật đã hướng
dẫn tận tình để em hoàn thành khóa luận này.
Gia đình bạn bè đã quan tâm động viên tôi trong quá trình học tập.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự quan tâm, giúp đỡ quý báu
18
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu …………………………………………...
18
2.1.2. Nội dung nghiên cứu ……………………………………………. 18
2.2. Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
18
2.2.1. Vật liệu nghiên cứu ……………………………………………... 18
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu ……………………………………………. 19
2.2.3. Thời gian nghiên cứu …………………………………………… 19
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
19
2.3.1. Phương pháp điều tra ngoài tự nhiên …………………………… 19
2.3.2. Phương pháp ghi chép ………………………………………....... 20
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm………………. 20
PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thành phần các loài côn trùng trên cây đậu tƣơng ở ngoại 22
thành Hà Nội vụ đông xuân
3.1.1. Thành phần các loài sâu hại trên cây đậu tương ở ngoại thành Hà 23
Nội vụ đông xuân ………………………………………………………
3.1.2. Thành phần các loài thiên địch trên cây đậu tương ở ngoại thành 27
10%........................................................................................................
Bảng 5: Bảng theo dõi khả năng đẻ trứng từng ngày của trưởng thành 37
sâu cuốn lá đậu tương Lamprosema indicata ………………………..
Bảng 6: Nghiên cứu khả năng đẻ trứng của trưởng thành sâu cuốn lá 38
đậu tương Lamprosema indicata trong điều kiện phòng thí nghiệm…
Bảng 7: Thời gian phát dục của sâu cuốn lá Lamprosema indicata…..
41
Bảng 8: Thời gian phát dục, tỷ lệ sống của sâu non trong phòng thí 42
nghiệm...................................................................................................
Bảng 9: Thời gian phát dục và tỷ lệ vũ hóa của pha nhộng…………..
43
Bảng 10: Biến động số lượng ấu trùng sâu cuốn lá trên đậu tương…..
45
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Điều tra trên ruộng đậu tương tại Sóc Sơn, Hà Nội
19
Hình 2: Sâu cuốn lá…………………………………………………
26
Hình 3: Sâu khoang…………………………………………………
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Cây đậu tương (Glycine max (L) Merili ), thuộc họ đậu (Fabaceae), còn
gọi là đậu nành, là một trong những cây nông nghiệp và thực phẩm rất quan
trọng đối với đời sống con người. Nó chiếm số lượng lớn trong tổng số các
loại cây làm thực phẩm thường xuyên ăn của chúng ta. Đậu tương không
những có ý nghĩa kinh tế cao mà nó còn có giá trị dinh dưỡng rất cao, cung
cấp khoảng từ 38 – 45% hàm lượng protein, lipit từ 18 – 22%, chất đạm
chiếm 10 – 20%, (Hội thảo đậu tương quốc gia, 2003) [37], các vitamin B1,
b2, D, K, E…, axit amin, chất béo, chất khoáng Ca, Fe, Na, Mg, P, K… và
các vi lượng khác không thể thay thế được (Trần Đình Long, 2000) [21].
Ngoài giá trị làm thực phẩm, đậu tương còn là nguyên liệu trong công
nghiệp như chế biến mĩ phẩm, cao su nhân tạo, thuốc trừ sâu, chất dẻo, mực
in, xà phòng … đến chế biến dầu bôi động cơ (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs,
1996) [28].
Khó có thể tìm ra loài cây trồng nào có tác dụng nhiều mặt như cây đậu
tương, vừa cung cấp thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp,
thức ăn cho gia súc và cây làm tốt đất. Từ 5000 năm trở lại đây, Châu Á đã
coi cây đậu tương là “cây vào hang cốc ngọc thực nuôi sống con người và là
nguồn cung cấp Protein quan trọng nhất” (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [8].
Vì thế trước những nguồn lợi to lớn của cây đậu tương mang lại, cũng
như đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản lượng đậu tương. Đậu tương đã
được trồng rộng rãi ở nước ta và trên toàn thế giới, đặc biệt là liên bang Mỹ,
Braxin và Trung Quốc là những nước có diện tích trồng đậu tương cao và
sản lượng lớn (Nguyễn Khắc Trung, Ngô Thế Dân và ctv, 1989) [35].
1
Khóa luận tốt nghiệp
SV. Nguyễn Lệ Thủy
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài:
2.1. Mục đích của đề tài:
- Nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng trên cây đậu
tương, thông qua việc thu thập mẫu vật các loài côn trùng có mặt trên cây
đậu tương vụ đông xuân 2014- 2015, tại điểm nghiên cứu.
- Nắm được quy luật về sự biến động số lượng của loài sâu cuốn lá
Lamprosema indicata trên cây đậu tương vụ đông xuân 2014- 2015 tại điểm
nghiên cứu.
- Nắm được đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái cơ bản của sâu cuốn
lá Lamprosema indicata trên cây đậu tương nhằm tìm hiểu vai trò của chúng
trong quần xã từ đó có hướng tác động đạt hiệu quả.
2.2. Yêu cầu của đề tài
A – Điều tra nghiên cứu ngoài tự nhiên:
1- Điều tra thu mẫu định tính: Điều tra ở tất cả các nơi, tại khu vực nghiên
cứu để thu được bộ mẫu côn trùng trên cây đậu tương.
2- Điều tra thu mẫu định lượng: Điều tra định kì, 7 ngày/đợt điều tra, nhằm
xác định sự đa dạng về thành phần loài côn trùng trên cây đậu tương.
3- Xác định sự xuất hiện cũng như sự phân bố của loài sâu cuốn lá
Lamprosema indicata trên cây đậu tương theo vụ đông xuân tại khu vực
nghiên cứu.
B – Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm :
1- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của sâu cuốn lá Lamprosema indicata: Mô
tả hình thái, kích thước của sâu cuốn lá ở các giai đoạn: trứng, sâu non các
tuổi, nhộng và trưởng thành.
3
nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao. Và không
ngừng được mở rộng diện tích, đã có rất nhiều côn trình nghiên cứu về đậu
tương như nghiên cứu về năng suất, chất lượng…Trong đó việc nghiên cứu
các loài côn trùng trên cây đậu tương luôn là một vấn đề luôn được nhắc đến
và có rất nhiều đề tài nói về vấn đề này. Tuy nhiên tùy theo từng điều kiện
sinh thái, địa lý, khí hậu, giống, kĩ thuật canh tác của mỗi vùng miền, mỗi
quốc gia có ảnh hưởng rất lớn tới sự biến động thành phần, số lượng của các
loài côn trùng gây hại và thiên địch xuất hiên trên sinh quần đậu tương.
1.1.1.Tình hình nghiên cứu các loài sâu hại đậu tương trên thế giới:
Trên thế giới, cây đậu tương được các nhà khoa học nghiên cứu rộng rãi
về nhiều mặt như năng suất, chất lượng sản phẩm, sâu bệnh…để đem lại
hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân. Trong đó cũng có rất nhiều nhà
khoa học đã và đang nghiên cứu những vấn đề về thành phần, sự biến động
số lượng các loài sâu hại trên đậu tương, để góp phần kiểm soát dịch hại trên
cây đậu tương giúp tăng năng suất đồng thời giảm sự tác động đến sinh thái
môi trường xung quanh quần thể cây đậu tương.
Theo Sepswardi (1976) [57] và Hinson, Hartwig (1982) [46] : ở Bắc
Mỹ có 33 loài, ở Trung và Nam Mỹ có 33 loài và Phương Đông có 26 loài.
Trong số những loài sâu hại chính thì các loại ruồi đục thân Melanagromyza
spp. tỏ ra là những loài phá hoại nhất. Các loại này phổ biến rộng rãi ở các
nước phương Đông, gây tổn thất tới 90% cây mầm trong điều kiện khí hậu
thuận lợi. Còn ở châu Mỹ tổn thất cây mầm đậu tương chủ yếu là sâu đục
thân Elasmopalpus lignosellus. Một loài sâu ăn lá thường gây tổn hại
5
Khóa luận tốt nghiệp
SV. Nguyễn Lệ Thủy
Khóa luận tốt nghiệp
SV. Nguyễn Lệ Thủy
Năm 1992, trên cánh đồng đậu tương vùng Krasnoda (Liên Xô cũ) có
54 loài sâu hại. Trong đó bộ cánh vẩy có 20 loài (chiếm 37%), bộ cánh nửa
12 loại (chiếm 22.2%), bộ cánh cứng 8 loài (chiếm 14.8%), bộ cánh thẳng 7
loài (chiếm 12.9%), những bộ khác chiếm 10%. Sâu hại chính có sâu xanh,
sâu xám, bọ xít xanh 2 loài, sâu đục thân Loxostege sticticalis, câu cấu và
nhện (Hsyeh Txu Hat, 1992) [47].
Waterhouse (1993) [60] thì trên đậu tương ở vùng Đông Nam Á có 17
loài sâu hại chính phân bố trên các nước, trong đó có các loài sâu đục quả và
ruồi đục thân Melana gromyza rất phổ biến.
Năm 1994, cũng ở vùng khí hậu nhiệt đới. Thành phần sâu hại trên cây
đậu tương lại phong phú hơn nhiều, có 70 loài gây hại trên tất cả các bộ phận
của cây đậu tương. Sâu gây hại cây mầm có 16 loài, trong đó chủ yếu là bộ 2
cánh (6 loài) và bộ cánh cứng (6 loài), còn bộ cánh vảy và cánh mối mỗi bộ
2 loại. Sâu hại thân có 12 loài, chủ yếu thuộc bộ 2 cánh (9 loài) ,bộ cánh
cứng 2 loài và bộ cánh vảy 1 loài. Sâu ăn lá có số loài phong phú nhất (25
loài), phần lớn thuộc bộ cánh vảy (24 loài), bộ cánh cứng có 1 loài thuộc họ
ban miêu. Trong số sâu ăn lá, có 7 loài gây hại nghiêm trọng, sâu ăn lá
Anticarsia gemmatalis được ghi nhận là loại quan trọng nhất ở miền tây
Hemisphere, loại sâu xanh Heliothis armigena cũng là một trong những loài
dịch hại quan trọng nhất ở vùng Châu Á, ngoài ra các loài khác như
Heliothis zea, Spodoptera litura, spodoptera exigua cũng là những loài gây
hại nguy hiểm (Gazzoni và cộng sự, 1994) [43].
B. Napompeth (1997) [56] thông báo trên cây đậu tương đã thu được
hơn 100 loài côn trùng. Trong đó có 17 loài sâu hại chính là mối hại rễ
Odontotermus spp., rệp đậu Aphis glycines Matsumura-Aphididae, rầy xanh
8
Khóa luận tốt nghiệp
SV. Nguyễn Lệ Thủy
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học ðã cho chúng ta thấy và biết
rằng loài thiên địch tiêu diệt sâu hại trên cây đậu tương gồm có 3 nhóm:
nhóm thứ nhất là nhóm thiên địch ký sinh như ong ký sinh, ruồi ký sinh…
nhóm thứ hai là nhóm bắt mồi ăn thịt như: kiến vàng, bọ xít ăn thịt, bọ rùa
ăn thịt, bọ cánh cứng, bọ ngựa, … và nhóm thứ 3 là nhóm tuyến trùng và vi
sinh vật gây bệnh.
Theo B.M Shepard và cộng sự trong các loài thiên địch của sâu hại trên
rau và đậu tương ở khu vực Đông Nam Á thì loài thiên địch bắt mồi chân
khớp là nhóm thiên địch đa dạng và đông đảo nhất, có tới 43 loài. Chúng là
nhóm thiên địch quan trọng nhất trên hầu hết các loại cây trồng và rất mẫn
cảm với thuốc trừ sâu hóa học, bên cạnh đó họ cũng thống kê được 21 loài kí
sinh, 14 loài bệnh hại côn trùng do nấm, 3 loại virut, 2 loại động vật nguyên
sinh và 1 loại tuyến trùng [57].
Lowell (1976) [53], đã nghiên cứu trên cây đậu tương và chỉ ra rằng
mỗi loài sâu hại quả chính bị ít nhất một loài kí sinh khống chế số lượng.
Toàn bộ sâu hại trên đậu tương bị 23 loài côn trùng kí sinh khống chế số
lượng trong đó sâu hại quả bị 6 loài kí sinh, sâu ăn lá, sâu khoang, sâu róm,
sâu đo và bọ cánh cứng bị 16 loài kí sinh.
Trên cây đậu tương ở vùng nhiệt đới có tới 52 loài kí sinh thuộc bộ
cánh màng tập trung chủ yếu ở 3 họ (Braconidae, Ichneumonidae,
Chalcididae) và bộ hai cánh (Diptera) tập trung chủ yếu ở họ Tachinidae
(Grazzoni và cs,1994) [43].
thấy khá toàn diện sự đa dạng, phong phú của các loài côn trùng trên cây đậu
tương.
1.2.Tình hình nghiên cứu côn trùng trên đậu tương ở trong nước
Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cây đậu tương, trong
đó việc nghiên cứu về thành phần loài côn trùng gây hại và các loài thiên
địch là một vấn đề luôn được nhắc đến và có rất nhiều đề tài nói về vấn đề
này.
10
Khóa luận tốt nghiệp
SV. Nguyễn Lệ Thủy
1.2.1. Tình hình nghiên cứu các loài sâu hại trên cây đậu tương ở trong
nước
Cây đậu tương là một trong những cây công nghiệp ngắn ngày được
trồng phổ biến ở nước ta. Nó mang lại giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, tuy
nhiên sản lượng của cây đậu tương đem lại vẫn còn thấp bởi sự gây hại của
các loài sâu. Vì vậy, các nhà khoa học trong nước đã tiến hành nghiên cứu
các loài sâu hại trên đậu tương.
Kết quả điều tra côn trùng cơ bản năm 1967 – 1968 của Viện BVTV trên
cây đậu tương có 88 loài sâu hại, với 43 loài thường xuyên xuất hiện, trên 10
loài (chiếm 12.5%) là sâu hại chính [38, 39].
Ở các tỉnh phía nam, trên đậu tương có khoảng 195 loài côn trùng, gây
hại có 85 loài, trong đó có 3 loài hại gốc rễ, 4 loài đục thân và quả, 54 loài ăn
lá và 24 loài chích hút (Nguyễn văn Cảm và cs, 1979) [3].
Năm 1982, Hồ Khắc Tín cho rằng trong số 112 loài côn trùng thu được
trên đậu tương chỉ có 59 loài gây hại [34].
glycines Matsumura) (Trần Đình Chiến và Đặng Thị Dung, 1999) [4, 5].
Năm 2010, Nguyễn Xuân Thành đã xuất bản tập Alat côn trùng tập 1,
trong đó tác giả đã cung cấp đầy đủ đặc tính sinh học sinh thái và hình ảnh
minh họa của hơn 30 loài côn trùng gây hại các cây họ đậu và các cây thực
phẩm khác. Trong đó đã nghiên cứu khá sâu về đặc điểm hình thái, sinh học,
sinh thái của loài sâu xanh đầu bé gây hại trên họ đậu [32].
Ngoài những nghiên cứu về các loài sâu hại trên cây đậu tương các nhà
khoa học đã tập trung nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái
của từng loài sâu hại trên đậu tương như: Sâu cuốn xếp lá đậu tương vùng Hà
Nội và phụ cận trong những năm 1996-1999. Một số đặc tính sinh thái học
của loài Hedylepta indicate của Đặng Thị Dung và Nguyễn Thị Việt Hà, Đại
học Nông Nghiệp 1- Hà Nội (Hội nghị côn trùng toàn quốc lần thứ 4 – 2002)
[9].
12
Khóa luận tốt nghiệp
SV. Nguyễn Lệ Thủy
Năm 1999, Quách Thị Ngọ nghiên cứu sinh học và biện pháp phòng trừ
rệp hại đậu tương. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa giai đoạn sinh trưởng của
các giống đậu tương tại khu vực Gia Lâm – Hà Nội của Khuất Đăng Long
năm 2002 [19].
Tình hình nghiên cứu sâu hại trên đậu tương ở nước ta tương đối đầy đủ
và hoàn chỉnh. Tuy nhiên số lượng loài còn khác nhau, những loài gây hại
chính cũng thay đổi theo cùng chu kỳ và từng vùng sinh thái. Các nhà khoa
học đã nghiên cứu được các đặc tính của nhiều loài sâu hại khác nhau đem
đến cho chúng ta nhiều kiến thức. Từ đó có thể biết được sâu hại xuất hiện
Hoàng Đức Nhuận, 1982, 1983, 2007 [29, 30] đã nghiên cứu và xác
định, trong họ bọ rùa Coccinellidae ở Việt Nam có 6 phân họ, trong đó có tới
5 phân họ có các loài bắt mồi ăn thịt chỉ có một loài ăn lá. Các loài bọ rùa
bắt mồi ăn thịt chủ yếu là tiêu diệt rệp hại trên cây trồng nông nghiệp như:
lúa, ngô, đậu đỗ, lạc…
Nghiên cứu của Phạm Quỳnh Mai, 2002, 2010 [26, 28] đã cung cấp kết
quả nghiên cứu về thành phần loài và biến động số lượng của bọ rùa ăn thịt,
trên cây ăn quả tại Mê Linh, Vĩnh Phúc. Phạm Quỳnh Mai, Nguyễn Xuân
Thành, 2003 [27] đã nghiên cứu về loài bọ rùa bắt mồi Harmonia
sedecimnotata trên cây vải tại Sóc Sơn.
Hà Quang Hùng năm 1988 nghiên cứu thành phần ong ký sinh ruồi đục
thân đậu tương ở vùng Gia Lâm – Hà Nội đã thu được 7 loài trong đó có 6
loài ký sinh pha nhộng và 1 loài ký sinh pha sâu non. Đồng thời tác giả còn
nghiên cứu về mối quan hệ giữa giai đoạn sinh trưởng của cây đậu tương và tỷ
lệ ruồi ký sinh [14].
Tới năm 1993, Phạm Văn Lầm cho biết quá trình điều tra thu thập kẻ thù
tự nhiên của sâu hại đậu tương từ năm 1982 – 1992 đã thu được 64 loài thiên
địch của sâu hại đậu tương. Chúng thuộc 4 bộ côn trùng. Các loài thiên địch
thu thập được tập chung chủ yếu ở bộ cánh màng 40 loài (chiếm 62,5% tổng
số loài), bộ cánh cứng chiếm 14 loài (chiếm 21,9% tổng số loài), bộ cánh nửa
14
Khóa luận tốt nghiệp
SV. Nguyễn Lệ Thủy
7 loài (chiếm 10,9% tổng số loài), bộ 2 cánh 3 loài (chiếm 4,7%). Các loài
thiên địch đã thu thập được gồm 22 loài côn trùng bắt mồi (chiếm 34,4% tổng
SV. Nguyễn Lệ Thủy
loài). Một số loài ký sinh trừ pha sâu non, hoàn thành các giai đoan tiếp theo
và pha nhộng. Pha nhộng thu được 5 loài. Ngoài ra tác giả còn nghiên cứu đặc
điểm hình thái sinh học của các loài ký sinh quan trọng, cũng như các yếu tố
ảnh hưởng tới hoạt động của chúng [11].
Năm 2001, Khuất Đăng Long nghiên cứu thành phần và vai trò của nhện
lớn bắt mồi trên đậu tương cho biết đã thu được 26 loài nhện lớn bắt mồi
thuộc 9 họ khác nhau. Trong đó loài nhện linh miêu vân xiêm trắng Oxyopes
javanus có số lượng nhiều nhất, tiếp đó là nhện sói Pardosa pseudoannulata,
thứ 3 là nhện nhảy Bianor hotingchiehi [19, 20].
Hoàng Thị Hằng và Hà Quang Hùng đã điều tra thành phần côn trùng bắt
mồi trên đậu tương vụ đông xuân tại Chương Mỹ - Hà Tây đã thu được khá
phong phú số loài: vụ đông 2005 (26 loài), vụ xuân 2006 (33 loài), trong đó
bộ cánh cứng xuất hiện nhiều nhất, phổ biến là các họ bọ chân chạy [12].
Trong nghiên cứu về các loài bắt mồi sâu hại đậu tương ở các vùng Gia
Lâm – Hà Nội, Tiên Sơn – Bắc Ninh đã ghi nhận có 86 loài côn trùng bắt mồi
sâu hại đậu tương trong đó các loài thuộc họ bọ rùa Coccinellidae chiếm tới
16 loài và tích cực tham gia vào công tác phòng trừ rệp và sâu hại (Trần Đình
Chiến, 2002) [4, 5].
Cũng như tất cả các khu vực khác, cây trồng nói chung và cây đậu tương
nói riêng đều phải chịu ảnh hưởng chặt chẽ đến điều kiện ngoại cảnh. Có thể
nói mối quan hệ này là một thể thống nhất biện trứng không thể tách rời một
hay nhiều yếu tố của sự sống, biến đổi không phù hợp thì cây trồng sẽ không
thể sinh trưởng và phát triển được. Nó biểu hiện ra bên ngoài và bên trong, đó
là biểu hiện ngừng trệ sinh trưởng, không có lợi cho sinh lý cây trồng. Do đó,
năng suất sẽ giảm sút, giá trị thương phẩm của cây sẽ giảm thậm chí còn chết
sớm. Như vậy, cây đã biểu hiện tình trạng bị gây hại, một trong số nguyên
16
2.1. Đối tƣợng và nội dung nghiên cứu:
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu:
Quần xã côn trùng có hại và thiên địch của chúng trên cây đậu tương,
trong đó có sâu cuốn lá Lamprosema indicata Fabricius.
2.1.2. Nội dung nghiên cứu:
* Nghiên cứu về thành phần loài và sự phân bố của loài theo không gian
trên sinh quần cây đậu tương.
* Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái loài sâu cuốn lá
Lamprosema indicata Fabr trên cây đậu tương.
2.2. Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu:
2.2.1. Vật liệu nghiên cứu:
A – Hóa chất:
+ Cồn 90 độ, 70 độ :
1 lít
+ Phân hóa học NPK trồng cây
1 bao
+ Lọ độc để diệt côn trùng :
1 lọ 250ml
B – Dụng cụ :
+ Vợt côn trùng :
1 chiếc
+ Panh gắp côn trùng:
+ Sổ ghi nhật ký nuôi sâu:
1 quyển
+ Sổ ghi thí nghiệm:
1 quyển
+ Sổ điều tra:
1 quyển
+ Cặp kẹp nhật ký điều tra:
1 cái
+ Bút ghi 2 ngòi( 1 ngòi chì và 1 ngòi mực)
1 chiếc
+ Giấy kẻ sẵn để ghi các loại côn trùng:
20 tờ
+ Bút lông:
1 chiếc
+ Lồng nuôi sâu bịt lưới: