MỞ ĐẦU
Ở nước ta hiện nay với sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng XHCN, và tình hình có nhiều thay đổi sau khi Việt Nam gia nhập
WTO, thời cơ, thuận lợi và thử thách đang đặt ra đòi hỏi chúng ta phải nắm bắt
kịp thời để có những giải pháp phù hợp. Cùng với sự phát triển của kinh tế – xã
hội thì tội phạm về trật tự quản lý kinh tế ngày càng gia tăng. Chúng ta cần phải
kịp thời ngăn chặn, xử lý, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả thiệt hại do tội
phạm này gây ra.
Qua tổng kết thực tiễn công tác điều tra các tội phạm về trật tự quản lý
kinh tế, chúng tôi thấy rằng cần phải hệ thống các đặc điểm của hoạt động này,
phải bổ sung chỉnh lý kịp thời để hoàn thiện thêm lý luận về phương pháp điều
tra hình sự. Từ đó hoàn thiện hơn những điều chỉ dẫn có tính ứng dụng đối với
điều tra viên về phương pháp điều tra các tội phạm về trật tự quản lý kinh tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Trong điều kiện
nghiên cứu của bản thân, tôi lựa chọn đề tài “Đặc điểm hoạt động điều tra các
tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế – Những khó khăn, vướng mắc
trong thực tiễn và giải pháp khắc phục ” làm đề tài tiểu luận môn học Phương
pháp Điều tra hình sự.
1
NỘI DUNG
I. NHẬN THỨC CƠ BẢN CÁC TỘI PHẠM VỀ TRẬT TỰ QUẢN LÝ
KINH TẾ.
1.1. Khái niệm tội phạm về trật tự quản lý kinh tế
Chương XVI Bộ luật hình sự năm 1999 quy định các tội phạm xâm phạm
trật tự quản lý kinh tế.
Theo quyết định số 189/2005/QĐ-BCA(X13) ngày 02/3/2005 của Bộ
trưởng Bộ Công an quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của
Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, tại mục 3
Điều 2 đã nêu rõ:
2
Hầu hết các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được biểu hiện bằng
những hành động cụ thể, thể hiện bằng các thủ đoạn khác nhau khi thực hiện tội
phạm.
Công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm… thực hiện tội phạm không
phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm về trật tự quản lý kinh tế, trừ
trường hợp luật định.
Về hậu quả tác hại do tội phạm gây ra có các tình tiết định khung như:
Hậu quả nghiêm trọng, hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Hậu quả tác hại do tội phạm gây ra về vật chất được quy định tại thông tư liên
tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA ngày 02/01/1998 cuả Toà án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an. Nếu thiệt hại vừa
về kinh tế vừa về các mặt khác thì cần xem xét đánh giá toàn diện hậu quả do tội
phạm gây nên trên tất cả các mặt. Thực tế đánh giá hậu quả tác hại vẫn có nhiều
vướng mắc, cần giải thích rõ.
1.2.3. Mặt chủ quan của tội phạm
Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được thực hiện với lỗi cố ý, động
cơ mục đích của tội phạm mang tính vụ lợi. Tuy nhiên, động cơ, mục đích tội
phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, trừ trường hợp
điều luật quy định cụ thể.
1.2.4. Chủ thể của tội phạm
Đa số các tội, chủ thể là bất kể người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình
sự và đạt độ tuổi quy định. Tuy nhiên, một số tội cũng được quy định chủ thể đặc
biệt, người có chức vụ, quyền hạn.
1.3. Đặc điểm hình sự các tội phạm về trật tự quản lý kinh tế
1.3.1. Đặc điểm đối tượng phạm tội
Qua thực tiễn đấu tranh với loại tội phạm này, chúng ta xác định đối tượng
phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có một số đặc điểm nổi bật sau đây:
- Các đối tượng phạm tội trong nhóm này hết sức đa dạng về thành phần,
hàng, dịch vụ đại lý, bán hàng…để che dấu các hành vi phạm tội gây khó khăn
cho hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm.
- Mua chuộc cán bộ, nhân viên cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, những
người có chức vụ quyền hạn để hình thành đường dây, ổ nhóm phạm tội.
- Câu kết với những đối tượng hình sự để cản trở việc kiểm tra, kiểm soát.
Nhiều trường hợp các đối tượng còn chủ động chống trả khi bị kiểm tra, phát
hiện hành vi phạm tội của chúng.
1.3.3. Đặc điểm về tuyến, địa bàn, ngành hành trọng điểm
* Về tuyến trọng điểm
Tuyến trọng điểm thường được xác định như sau:
- Tuyến trọng điểm phòng, chống buôn lậu, buôn bán hàng cấm, trốn thuế,
buôn bán hàng giả, vận chuyển, buôn bán hàng cấm…
- Tuyến hoạt động xuyên biên giới, tuyến hoạt động liên tỉnh, tuyến hoạt
động đường biển, tuyến đường sắt, tuyến hàng không…
* Về địa bàn trọng điểm
- Địa bàn trọng điểm là nơi các cơ quan nhà nước, đơn vị kinh tế, doanh
nghiệp… nơi tập trung nhiều tài sản, tập trung các hoạt động quản lý nhà nước
cần bảo vệ.
- Địa bàn trọng điểm là các đơn vị kinh tế thuộc khối kinh tế tư nhân, có
những điều kiện mà chúng lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội của mình.
- Địa bàn kinh tế ngoài xã hội là các khu vực diễn ra các hoạt kinh doanh
dưới dạng không thành lập các doanh nghiệp kinh doanh nhỏ, có điều kiện để
các đối tượng thực hiện tội phạm.
* Ngành hàng trọng điểm
- Ngành hàng có tính chiến lược, đóng góp quan trọng cho sự phát triển
của nền kinh tế quốc dân, cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho đời sống xã hội.
hành vi phạm tội trong ngành hàng này có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc
dân.
4
thái độ chính trị, tư tưởng, vị trí công tác, quá trình cống hiến, các mối quan hệ
xã hội của bị can.
- Làm rõ những công cụ phương tiện mà bị can đã sử dụng để thực hiện
hành vi phạm tội như các loại giấy tờ hoá đơn, chứng từ, các mẫu sản phẩm,
nhãn mác hàng hoá, tiền vàng, séc, các giấy tờ khác có giá trị kinh tế do hành vi
phạm tội gây ra.
- Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách
nhiệm dân sự đối với bị can.
- Xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả tác hại
do hành vi phạm tội gây ra về mặt kinh tế, sản xuất kinh doanh, về chính trị xã
hội, giá trị thiệt hại trực tiếp, thực tế về tài sản.
5
- Phát hiện những nguyên nhân và điều kiện mà bị can lợi dụng để phạm
tội, những sơ hở thiếu sót trong các văn bản pháp luật về kinh tế; các biện pháp
phòng ngừa đấu tranh với những hành vi phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế.
2.2. Hoạt động điều tra các tội phạm về trật tự quản lý kinh tế
2.2.1. Giai đoạn điều tra ban đầu
* Tiếp nhận và xử lý tố giác, tin báo, hồ sơ, tài liệu tội phạm về trật tự quản
lý kinh tế
- Tiếp nhận: nguồn tin phản ánh có thể chia thành hai nhóm:
+ Nhóm thứ nhất: nguồn thông tin trinh sát, thể hiện qua các tài liệu thu
thập từ công tác sưu tra, xác minh hiềm nghi, từ các báo cáo của MLBM, của
trinh sát.
+ Nhóm thứ hai: nguồn tin công khai qua tin báo, qua thông tin đại chúng,
những tài liệu do các cơ quan khác cung cấp, người phạm tội tự thú, hồ sơ vụ án
đã đươc điều tra khai thác mở rộng…
- Kiểm tra, xác minh làm rõ và đánh giá độ chính xác của thông tin:
+ Cán bộ nhận tin phải ghi chép đầy đủ nội dung tin báo vào sổ theo dõi.
quy định của BLTTHS.
+ Trường hợp sự việc chưa đến mức xử lý hình sự thì xử lý hành chính
theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý hành chính theo quy định
của pháp luật.
+ Nếu sự việc được kết luận không phải là hành vi vi phạm pháp luật mà
là các tranh chấp kinh tế, dân sự…thì tuỳ thuộc vào tính chất vụ việc mà có
hướng dẫn đến cơ quan có trách nhiệm giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
* Lấy lời khai ban đầu
- Đối tượng lấy lời khai ở đây có thể biết được những hành vi phạm tội, có
thể là người bị hại, hoặc cũng có thể là đối tượng liên quan trực tiếp đến việc
thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị khởi tố.
- Để việc lấy lời khai hiệu quả, điều tra viên cầm tìm hiển nghiên cứu
những tài liệu phản ánh dặc điểm nhân thân, đặc điểm tâm lý của từng đối tượng
và các vấn đề liên quan đến hành vi phạm tội của họ.
- Khi lấy lời khai đối tượng liên quan là phát hiện thu thập những tài liệu
phản ánh về diễn biến của các hành vi phạm tội, hành vi đó xâm hại lĩnh vực
nào, ai tham gia vào việc phạm tội, hậu quả của tội phạm…
- Đối với bên bị hại, cần hỏi họ về thiệt hại kinh tế do tội phạm gây nên,
hỏi họ về thủ đọan hoạt động của bọn tội phạm, thủ đoạn che dấu tội phạm…
Phương pháp cách tính toán xác định thiệt hại, vai trò vị trí của từng tên tội phạm
, những đề xuất kiến nghị của họ về điều tra xư lý vụ án.
* Sử dụng các hoạt động bí mật phát hiện và thu thập, củng cố tài liệu,
chứng cứ làm rõ tội phạm
Theo dõi giám sát bí mật đối tượng:
Việc tổ chức theo dõi giám sát bí mật được tiến hành đối với đối tượng và
địa điểm cần điều tra, nghiên cứu.
Trong khi theo dõi cần chú ý mọi di biến động, quy luật hoạt động của tội
phạm, quan hệ, tính chất, mức độ, sự liên quan đến hoạt động phạm tội của
những người có quan hệ với các đối tượng đó.
Đối với địa điểm theo dõi cần thu thập tài liệu phản ánh về cấu trúc bên
xác minh. Từ đó thiết lập, củng cố các tài liệu phản ánh về hoạt động phạm tội
của các đối tượng.
Biện pháp này cũng được áp dụng để tác động, điều khiển đối tượng chính
của vụ án bộc lộ bản chất, tạo điều kiện cho đặc tình và trinh sát nội tuyến hoàn
thành nhiệm vụ.
Sử dụng các biện pháp trinh sát kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ:
Dùng các phương tiện hỗ trợ như máy quay phim, máy ghi âm, máy chụp
hình…để thu tập thông tin theo yêu cầu trinh sát.
Khai thác, sử dụng hệ thống hồ sơ tàng thư, thông tin nghiệp vụ cảnh sát:
Qua hệ thống trên có thể khai thác thông tin để phục vụ công tác xây dưng
mạng lưới bí mật, thu thập các dư liệu về con người, các cơ sở sản xuất…cần
điều tra nghiên cứu phục vụ việc xác minh làm rõ. Do đó trinh sát phải nắm được
hệ thống quản ly các hồ sơ nghiệp vụ để chủ động khai thác theo quy định.
Thu thập thông tin tài liệu từ quần chúng, các tổ chức xã hội
Hoạt động này được sử dụng kết hợp với biện pháp xác minh nhằm thu
thập những thông tin tài liệu, thông tin phản ánh về nhân thân, quan hệ, lai lịch
và những biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội.
* Xác lập chuyên án
Việc xác lập chuyên án phải theo đúng quy định tại Quyết định số
362/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 06/6/2003 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
quy định về công tác đấu tranh chuyên án của lực lượng CSND.
- Mục đích:
8