QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP THEO BASEL TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TẠI VIỆT NAM - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP THEO
BASEL TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ
THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TẠI
VIỆT NAM
MÔN : QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
KHÓA : 23 – LỚP: L3
GVHD : PGS.TS.TRẦN HUY HOÀNG
NHÓM 7:
1 Cao Thị Thanh Hà
2 Lê Nhật Huy
3 Lâm Trần Yến Nhi
4 Phạm Thị Hồng Trúc
5 Nguyễn Thị Thanh Trúc
6 Nguyễn Phương Thảo
7 Đỗ Thùy Dung
TP.HCM, THÁNG 11/2014
Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007-2010 thế giới chứng kiến cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt hệ
thống ngân hàng, sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên
thế giới, các Ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTM) không ngoại lệ, cũng nằm trong
cơn khủng hoảng tài chính đó. Một trong những giải pháp khôi phục và phát triển doanh
nghiệp nói chung và các NHTM nói riêng trong thời kỳ hậu suy thoái kinh tế là phải nâng
cao năng lực cạnh tranh, duy trì và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, tranh thủ cơ
hội và đối phó với những thách thức mới.
Để thực hiện thành công các giải pháp nói trên, các NHTM phải kịp thời cải cách thủ tục
hành chính, đổi mới về quy trình tác nghiệp, nâng cấp công nghệ xử lý nghiệp vụ và quan
trọng nhất là nâng cao hiệu quả của hệ thống quản trị rủi ro. Hiện tại một số NHTM lớn

4.1. Các quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước 18
4.2. Tình hình tuân thủ của các Ngân hàng thương mại 18
4.3. Về cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro tác nghiệp 19
4.3.1 Về cơ cấu quản trị rủi ro 19
4.3.2 Về xây dựng khung pháp lý, quy định, quy trình quản trị RRTN 19
4.3.3 Về thu thập dữ liệu tổn thất quản lý rủi ro tác nghiệp 20
4.3.4 Về đo lường, giám sát rủi ro tác nghiệp 20
4.3.5 Về công nghệ hỗ trợ quản trị rủi ro tác nghiệp 21
4.4. Tự đánh giá kiểm soát rủi ro, xác định chỉ số rủi ro chính 21
4.5. Về đào tạo nguồn nhân lực làm công tác quản lý rủi ro tác nghiệp 21
4.6. Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 21
4.7. Bảo hiểm tiền gửi 21
5. Đánh giá chung hoạt động QTRRTN tại các NHTM Việt Nam 22
5.1. Kết quả đạt được 22
Trang 3
5.2. Đánh giá hiệu quả QTRRTN tại các NHTM Việt Nam 22
5.2.1. Mặt tích cực 22
5.2.2. Hạn chế 23
5.2.3. Cơ hội 23
5.2.4. Thách thức 23
6. Nội dung thiết yếu khi triển khai hoạt động QLRRTN tại các NHTM ở Việt Nam
24
6.1. Thiết lập và hoàn thiện khung QLRRTN 24
6.2. Triển khai áp dụng khung QLRRTN 26
7. Basel III và khả năng đáp ứng tại hệ thống Ngân hàng Việt Nam 28
7.1 Basel III và lộ trình thực hiện 28
7.2. Khả năng đáp ứng của các ngân hàng Việt Nam đối với Basel III 29
8. Kết luận 30
8.1. Nguyên tắc quản trị rủi ro hoạt động 30
8.2. Giải pháp nâng cao quản trị rủi ro hoạt động 32

của Ủy ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hai nguyên lý cơ bản là: (1)
không ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà thoát khỏi sự giám sát; và (2) việc
giám sát phải tương xứng.
2. Sơ lược về Basel I &II
2.1. Basel I
Năm 1988, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng Uỷ ban này đã phê duyệt một văn bản
đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốn của Basel (the Basel Capital Accord hay Basel I), yêu
cầu các ngân hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu để có thể đối
phó với những rủi ro có thể xảy ra. Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệ phần trăm nhất
định trong tổng vốn của ngân hàng, do đó mức vốn này cũng được hiểu là mức vốn tối
thiểu tính theo trọng số rủi ro của ngân hàng đó. Basel I không chỉ được phổ biến trong
Trang 5
các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng
hoạt động quốc tế. Thời đó, các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng trung ương và
cơ quan giám sát của 10 nước mới chỉ nhìn nhận ra các nguy cơ từ rủi ro tín dụng, và vì
vậy, mức rủi ro tín dụng mà ngân hàng đối mặt được xác định là tài sản điều chỉnh theo
rủi ro của ngân hàng. Theo Basel I, tổng vốn của một ngân hàng cần ít nhất bằng 8% rủi
ro tín dụng của ngân hàng đó. Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm 1988, Uỷ
ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động
kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đến năm 1996,
Bsael I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường.
Theo đó, rủi ro thị trường bao gồm cả rủi ro thị trường chung và rủi ro thị trường cụ thể.
Rủi ro thị trường chung đề cập đến những thay đổi về giá trị thị trường do có sự biến
động lớn trên thị trường. Rủi ro thị trường cụ thể là những thay đổi về giá trị của một loại
tài sản nhất định. Có 4 loại biến số kinh tế làm phát sinh rủi ro thị trường, đó là tỷ giá lãi
suất, ngoại hối, chứng khoán và hàng hóa. Rủi ro thị trường có thể được tính theo 2
phương thức hoặc là bằng mô hình Basel tiêu chuẩn hoặc là bằng các mô hình giá trị chịu
rủi ro nội bộ của các ngân hàng. Những mô hình nội bộ này chỉ có thể được sử dụng nếu
ngân hàng thoả mãn các tiêu chuẩn định tính và định lượng được quy định trong Basel.
Mục đích của Basel I:

Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác, như: Không phân biệt theo loại rủi ro; Việc
phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản vay; Chưa tính đến lợi ích từ việc đa dạng
hóa hoạt động (theo lý thuyết thì rủi ro sẽ giảm thông qua đa dạng hóa danh mục đầu
tư…).
2.2. Basel II
Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban Basel đã đề xuất khung
đo lường mới với 3 trụ cột chính. Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn
Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành.
 Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối
thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I. Tuy nhiên, rủi ro được
tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro tác
nghiệp (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường. So với Basel I, cách tính chi phí
vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi
nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro tác nghiệp. Trọng số rủi ro của
Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng.
 Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp
cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I. Trụ cột
này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi
ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý,
mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk).
Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ nhất, các ngân
hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo danh
Trang 7
mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó. Thứ
hai, các giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và
chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn
tối thiểu; giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ
không hài lòng với kết quả của quy trình này. Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các
ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định. Thứ tư, giám sát viên
nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới

rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và sự công
khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro.
- Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 – 100 và ưu đãi hơn với các nước thuộc Tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic Co-operation and
Development). Basel II quy định từ 0 - 150 hoặc hơn và không có đặc quyền nào, bao
gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài.
- Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo. Basel II thừa nhận về
kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo, phái
sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting).
Những hạn chế của Basel II:
Mặc dù được coi như một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố toàn bộ
công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại đã
cho thấy những thiếu sót, bất cập của Basel II. Đó là:
- Việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến chưa có các tiêu chuẩn có
thể được chấp nhận rộng rãi.
- Các phương pháp giám sát, đánh giá rủi ro chưa tính đến các hoạt động của chu
lỳ kinh doanh.
- Các cơ quan quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển mạnh mẽ những sản phẩm
dịch vụ có khoa học công nghệ cũng như mức độ rủi ro cao.
3. Rủi ro tác nghiệp
Rủi ro tác nghiệp (rủi ro hoạt động) là rủi ro tổn thất xảy ra do các hoạt động quản lý nội
bộ, do con người, do hệ thống, hoặc do các sự cố bên ngoài không phù hợp hoặc bị hỏng:
bao gồm cả rủi ro pháp lý, nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro thương hiệu.
 Nguyên nhân do các hoạt động quản lý nội bộ:
ACB bị đòi bổi thường 58 tỷ do lỗi giao dịch
Cho rằng việc nhầm lẫn “tai hại” và cách làm vi phạm pháp luật của Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Á Châu gây thiệt hại nặng nề cho mình, ông Trần đã khởi
kiện, yêu cầu được bồi thường hơn 58 tỷ đồng.
Theo đơn, ngày 1/12/2007, ông Trần có ký hợp đồng giao dịch vàng với ACB để kinh
doanh trên sàn vàng.

Trang 10
tịch Hội đồng thành viên Công ty Trường Phát Đạt); Trần Thị Lệ Thu; Phạm Duy
Soạn bị truy tố về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” có mức án lên đến chung thân.
Theo cáo trạng, Nguyễn Thị Phương Hoa làm ở phòng kinh doanh công ty cổ phần
Cơ điện lạnh (Ree) từ 16 năm trước. Đầu năm 2005, Hoa được bổ nhiệm là phó giám
đốc Phát triển Reetech nhưng đến cuối năm thì bị sa thải do vi phạm nội quy.
Cũng trong thời gian này, Hoa nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Agribank Tân
Bình nên đến gặp giám đốc Nguyễn Tám xin vay đầu tư góp vốn vào Ree. Hình thức
vay không có tài sản đảm bảo, vay vốn có thế chấp bằng cổ phiếu, việc giải ngân theo
phương thức đối ứng và được ông Tám "duyệt".
Sau đó Hoa đã bàn bạc với Trần Huỳnh Nghĩa dùng pháp nhân các công ty làm giả hồ
sơ góp vốn với công ty Ree, phiếu thu tiền, giấy giới thiệu, cổ phiếu của Ree để
Agribank Tân Bình cho vay không có tài sản đảm bảo và cho vay thế chấp cổ phiếu
giả.
Từ những việc làm trên, từ năm 2005 đến năm 2008, Nghĩa và Hoa thông qua công ty
Cát Phương Nam và Trường Phát Đạt đã được Agribank Tân Bình giải quyết cho vay
200 tỷ đồng theo 11 hợp đồng và phụ lục hợp đồng tín dụng. Trong đó, cặp đôi này đã
chiếm đoạt 120 tỷ đồng. Riêng vợ chồng Hoa "bỏ túi" hơn 111 tỷ.
Đối với Nguyễn Tám, cáo trạng xác định, dù biết rõ 2 công ty của Nghĩa không có
năng lực tài chính, phương án sản xuất kinh doanh không khả thi, không có tài sản
đảm bảo nhưng ông này vẫn đồng ý cho Nghĩa và Hoa vay vốn. Dưới sự chỉ đạo cuả
giám đốc, những hồ sơ giả này đã được cấp dưới xem và sửa chữa lại nội dung cho
phù hợp. Sau đó lập báo cáo thẩm định khống để hợp thức hoá việc đề xuất cho vay.
Khai với cơ quan điều tra, vị giám đốc này thừa nhận biết rõ 2 công ty này không đủ
điều kiện vay vốn nhưng vẫn quyết định cho vay vì ngân hàng dư vốn.
Sau khi bị cơ quan điều tra phát hiện, Nguyễn Thị Phương Hoa bỏ trốn qua Mỹ. Ngày
5/4/2010, Cơ quan CSĐT Công an TP HCM ra quyết định truy nã đặc biệt, Interpol
truy nã quốc tế, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
(Nguồn:http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2011/07/sep-ngan-hang-tiep-tay-lua-dao-
120-ty-dong-sap-hau-toa/)

ngắn chĩa thẳng về phía ba nhân viên ngân hàng đang ngồi tại quầy giao dịch. Đối
tượng bịt mặt đã đe doạ, khống chế và cướp đi số tiền khoảng 90 triệu đồng.
Sau khi tên cướp bỏ chạy ra đường, các nạn nhân mới hô hoán. Lực lượng bảo vệ ở
bên ngoài ngân hàng đã không kịp bắt giữ. Do hung thủ bịt mặt nên các nhân viên
cũng không thể nhận diện hay ước đoán tuổi tác của đối tượng.
Trang 12
Vụ cướp cho thấy tính nghiêm trọng của vụ án khi chi nhánh Ngân hàng thương mại
cổ phần Hàng hải nằm tại tầng 1 của tòa nhà trung tâm thương mại, chỉ cách trụ sở
Công an phường Ô Chợ Dừa khoảng 10 mét.
Nguồn:http://f.tin247.com/
 Nguyên nhân do rủi ro pháp lý
Agribank thua kiện vì thu phí sai 2010
Thu thêm hơn 1 tỷ đồng để tư vấn tài chính?
TAND TP. Hà Nội xét xử vụ án Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Hoa Phát (quận Ba
Đình, Hà Nội) kiện Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi
nhánh Thanh Xuân (NN&PTNT) về việc ngân hàng thu phí 1.052.480.000 đồng sai
với quy định.
Đây là trường hợp DN hy hữu dám kiện ngân hàng, trong khi nhiều DN khác đang
phải im lặng chịu thiệt hại. Phần thắng đã thuộc về DN.
Cụ thể, ngày 13/6/2008, Công ty Hoa Phát vay Ngân hàng NN&PTNT
13.285.536.000 đồng để thanh toán nhập khẩu 23 ôtô đầu kéo. Số tiền này được dùng
để mua ngoại tệ ngay tại ngân hàng. Theo đó, DN chỉ mua được 736.000 đô la Mỹ
(USD), với số tiền VND phải trả 12.233.056.000 đồng. Số tiền còn lại hơn 1 tỷ đồng
là DN phải trả cho ngân hàng với để thanh toán phí dịch vụ mua ngoại tệ.
Bức xúc trước khoản phí tiền tỷ, DN đã kiện ngân hàng ra tòa.
Tại tòa, Ngân hàng NN&PTNT cho rằng, số tiền 1.052.480.000 đồng là khoản phí tư
vấn đầu tư tài chính theo thỏa thuận hai bên. Tuy nhiên, gọi là hợp đồng tư tài chính
tiền tệ nhưng ngân hàng lại không nêu cụ thể công việc phải làm, thời gian bắt đầu,
kết thúc. Khi toà yêu cầu xuất trình các chứng cứ chứng minh cho phần việc tư vấn đã
làm, ngân hàng cũng không có, chỉ cung cấp hợp đồng tín dụng, thỏa thuận cung cấp

phức tạp cao hơn, đồng thời không cho phép các ngân hàng chuyển ngược trở lại phương
pháp đơn giản một khi đã được chấp thuận sử dụng phương pháp nâng cao. Ngược lại,
nếu các ngân hàng được đánh giá là không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng phương pháp
nâng cao thì cần phải quay trở về phương pháp cơ bản cho đến khi đáp ứng được những
yêu cầu này,
3.1. Phương pháp chỉ số BIA
Các ngân hàng sử dụng phương pháp này cần phải nắm giữ mức vốn để dự phòng rủi ro
hoạt động bằng mức bình quân tổng thu nhập hàng năm (>0) của thời kỳ ba năm trước đó
nhân với tỷ lệ phần trăm cố định (
Trang 14
Cách tính vốn dự phòng rủi ro hoạt động trong phương pháp chỉ số cơ bản:
Với điều kiện >0 và α = 15%
KBIA: vốn yêu cầu phải dự phòng rủi ro hoạt động theo phương pháp BIA
GI: thu nhập hàng năm (>0) của 3 năm trước đó
n: số năm có thu nhập hàng năm >0
3.2. Phương pháp chuẩn TSA
Áp dụng theo phương pháp chuẩn, hoạt động ngân hàng được chia làm 8 nhóm nghiệp
vụ, mỗi nhóm nghiệp vụ có hệ số β tương ứng.
Hệ số β trong phương pháp chuẩn đối với rủi ro hoạt động
Nghiệp vụ Hệ số β
Tài trợ doanh nghiệp (β1)
Giao dịch và bán hàng (β2)
Ngân hàng bán lẻ (β3)
Nghiệp vụ NHTM (β4)
Dịch vụ thanh toán (β5)
Dịch vụ đại lý (β6)
Quản trị tài sản (β7)
Môi giới (β8)
18%
18%

quản trị
RRTN tại
các
NHTM Việt
Nam
4.1. Các
quy
định
hiện
hành của
Ngân
hàng Nhà
nước
Mặc dù có nhiều nỗ lực song cho tới nay Việt Nam vẫn chưa thiết lập được khuôn khổ
pháp lý chính thức cho hoạt động QTRRTN. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNN) vẫn đang nghiên cứu để thiết lập lộ trình áp dụng Basel II cho ngành ngân hàng.
4.2. Tình hình tuân thủ của các Ngân hàng thương mại
Trong những năm gần đây, các NHTM cũng đã nghiêm chỉnh chấp hành các quy định,
văn bản quy phạm pháp luật mà Chính phủ, NHNN và các Bộ, Ban, Ngành đưa ra. Tuy
nhiên, trong quá trình thực hiện các văn bản, một vài ngân hàng vẫn còn chưa nhận ra
tính nghiêm trọng trong việc chấp hành các quy định này nên vẫn tìm cách lách luật, cố ý
vi phạm. Những hành vi này đều được xử lý nghiêm túc, mang lại tính chuẩn mực và
đúng đắn, tạo lập lại tính nghiêm minh của pháp luật.
Trang 17
Trong quá trình tác nghiệp hàng ngày, các NHTM Việt Nam cũng đã chú ý đến việc hạn
chế các sai sót, sai phạm, kể cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Tuy nhiên, việc xác định tầm
quan trọng của QTRRTN đối với các NHTM vẫn chưa tương xứng với vai trò thực sự
của nó, đặc biệt là so với mối quan tâm và những nỗ lực của ngân hàng trong quản lý rủi
ro tín dụng và rủi ro thị trường. Hệ thống quản lý rủi ro của các NHTM Việt Nam hầu
như vẫn đang bỏ ngỏ và chưa được đầu tư xây dựng một cách thỏa đáng và chuyên

cách thức khác nhau, song về cơ bản vẫn chỉ dựa trên ghi chép và báo cáo thủ công từ các
Chi nhánh, đơn vị. Bên cạnh đó, các lỗi, sai sót hay chính xác hơn là các sự cố về hệ
thống công nghệ tuy xảy ra với tần suất nhỏ hơn, số tiền liên quan cũng có thể nhỏ hơn
nhiều, nhưng mức độ ảnh hưởng của nó đối với ngân hàng lại không hề nhỏ. Sở dĩ như
vậy vì sự cố hệ thống gây ảnh hưởng trên diện rộng, cùng lúc ảnh hưởng đến rất nhiều
khách hàng, rất nhiều giao dịch. Rủi ro về tác nghiệp xoay quanh 4 nguyên nhân chính là
con người như, hệ thống thông tin, quy trình và do khách quan. Những rủi ro này trong
tình hình hiện nay càng trở nên phổ biến.
Nói tóm lại, việc thu thập dữ liệu nội bộ của các NHTM Việt Nam hiện nay chưa đầy đủ,
thiếu khoa học và còn nhiều bất cập. Điều này đặt ra cho các NHTM một nhiệm vụ là cần
phải xem xét và thực hiện sao cho đảm bảo độ chính xác, tin cậy thì mới có thể tạo nền
tảng đưa ra những nhận xét, đánh giá, đo lường chính xác RRTN.
4.3.4 Về đo lường, giám sát rủi ro tác nghiệp
Ngoại trừ một vài NHTM cũng đã trang bị phần mềm và triển khai quản trị RRTN trên
toàn hệ thống (NHTMCP Công thương Việt Nam, ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt
Nam,…) thì còn lại đa phần các NHTM khác đều chưa thể đi đến bước đo lường RRTN.
4.3.5 Về công nghệ hỗ trợ quản trị rủi ro tác nghiệp
Trang 19
Hiện nay một số ngân hàng đã tự xây dựng và đang triển khai việc QTRRTN theo các
phương pháp thủ công, sử dụng xác suất thống kê thông thường. Việc QTRRTN chỉ đang
ở giai đoạn bước đầu thu thập thủ công các dữ liệu về lỗi, sai sót của toàn hệ thống.
4.4. Tự đánh giá kiểm soát rủi ro, xác định chỉ số rủi ro chính
Một vài NHTM cũng đang từng bước xây dựng Bảng hỏi tự kiểm soát rủi ro, tuy nhiên
mới ở mức độ sơ khai, còn cần phải chỉnh sửa, bổ sung nhiều. Khó khăn chung là các
NHTM Việt Nam chưa có nguồn tham khảo, hướng dẫn đáng tin cậy cho việc QTRRTN.
4.5. Về đào tạo nguồn nhân lực làm công tác quản lý rủi ro tác nghiệp
Tại Việt Nam, nguồn nhân lực chuyên sâu về QTRRTN còn rất hiếm. Đa phần các cán bộ
làm công tác QTRRTN tại các NHTM Việt Nam hiện nay đều xuất phát từ các nghiệp vụ
khác, mới chuyển sang làm quản trị rủi ro nên kiến thức và kinh nghiệm chưa nhiều. Các
NHTM cũng thường xuyên tìm kiếm và cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo, hội thảo

và chất lượng. Không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, ngành ngân hàng rất chú trọng
trong việc đẩy mạnh các hoạt động liên quan đến thị trường và sản phẩm dịch vụ ngân
hàng hiện đại. Bên cạnh các dịch vụ truyền thống, các ngân hàng cũng rất cố gắng trong
việc đa dạng hóa các loại hình sản phẩm để cung cấp cho xã hội.
Cùng với đó thì công tác QTRR nói chung và QTRRTN nói riêng đã được các NHTM
chú trọng coi đây là một ưu thế trong cạnh tranh. Bằng chứng là việc trong bộ máy tổ
chức của các NHTM đã có sự hiện diện của uỷ ban quản lý rủi ro. Tuy còn nhiều hạn chế,
nhưng trong thời gian gần đây, với sự nỗ lực của các NHTM thì việc kiểm soát rủi ro nói
chung và RRTN nói riêng đã bước đầu thu được những kết quả đáng khích lệ: giảm thiểu
rủi ro do lỗi quy trình, công nghệ và con người
5.2. Đánh giá hiệu quả QTRRTN tại các NHTM Việt Nam
5.2.1. Mặt tích cực
- Giúp cho ngân hàng hạn chế được rủi ro, nâng cao chất lượng hoạt động.
- Giúp nhà quản trị nhìn ra sơ hở, hạn chế trong các nghiệp vụ và tập trung giải quyết
những tồn tại.
- Nâng cao chất lượng kiểm tra, kiểm soát nội bộ.
- Bước đầu tạo lập được một hệ thống QTRRTN, đi sâu vào bản chất của việc tạo ra lợi
nhuận từ việc hạn chế rủi ro.

5.2.2. Hạn chế
Trang 21
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong công tác QTRRTN của các NHTM Việt Nam
vẫn còn nhiều hạn chế (Khả năng quản trị rủi ro còn yếu kém; Chính sách quản trị rủi ro
còn nhiều bất cập; Quy trình quản trị rủi ro chưa hoàn thiện; Công nghệ lỗi thời; Con
người chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao).
(*) Nguyên nhân
a. Nguyên nhân chủ quan
+ Công tác đào tạo nguồn nhân lực của các NHTM.
+ Chưa ứng dụng, hoặc chưa vận dụng hết tính năng của công nghệ hiện đại.
+ Công tác dự đoán rủi ro còn nhiều hạn chế.

tranh của ngân hàng. bớt thiệt hại gây ra do những sự kiện, thời tiết không lường trước
được và các áp lực khác nằm ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng. Các ngân hàng
công khai mô tả về việc sử dụng bảo hiểm của ngân hàng đối với mục đích giảm thiểu
RRTN. Để tăng cường công tác quản trị rủi ro tác nghiệp đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ
nhiều giải pháp từ phía Ngân hàng nhà nước và các Ngân hàng thương mại, trong đó thì
việc vận dụng những chuẩn mực của Uỷ ban Basel trong Basel II là vô cùng quan trọng,
mang tính định hướng cho việc thực hiện quản trị rủi ro tác nghiệp.
6. Nội dung thiết yếu khi triển khai hoạt động QLRRTN tại các NHTM ở Việt Nam
6.1. Thiết lập và hoàn thiện khung QLRRTN
Nền móng cơ sở vững chắc cho hoạt động QLRRTN tại các NHTM ở Việt Nam chính là
khung QLRRTN hướng theo chuẩn quốc tế, bao gồm: chính sách, cơ cấu tổ chức, quy
Trang 23
Khung QLRRTN hiệu quả.
trình và giải pháp phần mềm QLRRTN trong nội bộ NHTM. Trong bối cảnh hiện tại, các
NHTM hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của NHNN,
do vậy các NHTM cần xem xét kỹ lưỡng để quyết định lựa chọn khung QLRRTN sao
cho đáp ứng được những yêu cầu cơ bản theo chuẩn mực quốc tế như:
• Chiến lược của ngân hàng và phương pháp QLRRTN phải ăn khớp với nhau;
• Xác định được các phương pháp thực hành quản lý và đo lường RRTN;
• Đưa ra các công cụ chuẩn mực về xác định, đo lường, kiểm tra, giám sát, báo cáo trong
toàn hệ thống nhằm đưa vào chương trình QLRRTN.
Để đáp ứng được các yêu cầu cơ bản trên, các NHTM cần phải xác định chiến lược và
phương pháp quản lý rủi ro đúng đắn; xác định vai trò, chức năng và trách nhiệm, quyền
hạn của các bộ phận trong tổng thể bộ máy cơ cấu tổ chức; đưa ra các yêu cầu về thực
hành quản lý rủi ro; phổ biến rộng rãi trong toàn hệ thống, nhất quán việc QLRRTN;
quan trọng hơn là ứng dụng các công cụ quản lý như: kiểm tra hạ tầng, tự đánh giá và
kiểm soát rủi ro thông qua bảng hỏi (RCSA – Risk Control Self Assessment), thu thập dữ
liệu sự kiện RRTN/ phân tích, dữ liệu tổn thất khác ngoài hệ thống, chỉ số rủi ro chính
(KRI – Key Risk Indicator), phân tích kịch bản, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro (VaR –
Value at Risk) và báo cáo, phân bổ vốn chịu rủi ro; từ đó có các phương án phòng tránh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status