ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN DOÃN ĐÌNH HIẾN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG BỜ HỒ THỦY ĐIỆN
HÒA BÌNH BẰNG CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM VÀ GIS
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội – Năm 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Hà Nội – Năm 2015
i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 .
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
1.1. Khái quát về tình hình nghiên cứu 7
1.1.1. Trên thế giới 7
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.2. Phương pháp nghiên cứu 20
1.2.1. Cách tiếp cận 20
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu và cơ sở tài liệu 23
Chương 2 .
HIỆN TRẠNG TRƯỢT LỞ BỜ HỒ VÀ BỒI LẮNG LÒNG HỒ .
THỦY ĐIỆN HÒA BÌNH 31
3.2. Đặc điểm biến động 77
3.2.1. Nguyên tắc xây dựng bản đồ tai biến địa chất 77
3.2.2. Xây dựng bản đồ biến động bờ hồ 82
3.2.3. Đặc điểm biến động bờ hồ thủy điện Hòa Bình 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận văn
Doãn Đình Hiến
iv
mặt đất
25
Hình 1.3: Trượt lở kèm lũ quét-lũ bùn đá tại Nậm Chiến trên ảnh
Landsat và chụp mặt đất
26
Hình 1.4: Lũ quét-lũ bùn đá tại Tạ Khoa trên ảnh Landsat và chụp mặt
đất
26
Hình 1.5: Trượt lở đất ở đập thủy điện Sơn La (a), Phúc Sạn - Mai Châu
(b) trên ảnh SPOT-5 và chụp tại thực địa
27
Hình 2.1: Bản đồ hiện trạng trượt lở bờ hồ Hòa Bình
(trên ảnh Landsat-2010)
34
Hình 2.2: Trượt lở trong vỏ phong hóa tại Mường La 38
Hình 2.3: Trượt lở trong vỏ phong hóa tại Mường La 38
Hình 2.4: Trượt lở trong vỏ phong hóa tại Mường La 39
Hình 2.5: Trượt lở trong vỏ phong hóa tại Vạn Yên 39
Hình 2.6: Trượt lở trong vỏ phong hóa tại bờ trái hồ Hòa Bình ở Bắc
Yên
39
Hình 2.7: Trượt lở trong vỏ phong hóa tại bờ trái hồ Hòa Bình ở Bắc Yên 39
Hình 2.8: Trượt lở trong vỏ phong hóa tại đầu cầu Tạ Khoa 39
Hình 2.9: Trượt lở trong vỏ phong hóa tại đầu cầu Tạ Khoa 39
Hình 2.10: Trượt lở trong đới dao động mực nước hồ tại khu vực Xã Tân
Mai
39
vi
Hình 2.11: Trượt lở trong đới dao động mực nước hồ khu vực Chợ Bờ 51
2013)
62
Hình 2.24: Biểu đồ mặt cắt dọc hồ Hòa Bình qua các thời kỳ (1990 -
2013)
64
Hình 3.1: DEM khu vực hồ thủy điện Hòa Bình 69
Hình 3.2: Bản đồ độ dốc khu vực hồ thủy điện Hòa Bình 72
vii
Hình 3.3: Bản đồ địa chất thạch học khu vực hồ thủy điện Hòa Bình 73
Hình 3.4: Bản đồ đứt gẫy hoạt động khu vực hồ thủy điện Hòa Bình 76
Hình 3.5: Bản đồ mật độ lineamen-đứt gẫy khu vực hồ thủy điện Hòa
Bình
77
Hình 3.6: Bản đồ cảnh báo trượt lở bờ hồ thủy điện Hòa Bình (trên ảnh
Landsat - 2010)
84
Hình 3.7: Bản đồ bồi lắng lòng hồ thủy điện Hòa Bình trên ảnh Landsat 87
Hình 3.8: Bản đồ biến động bờ hồ thủy điện Hòa Bình 88
Danh mục bảng Trang số
Bảng 2.1: Thống kê hiện trạng trượt lở bờ hồ thủy điện Hòa Bình 34-37
Bảng 2.2: Tổng hợp hiện trạng trượt lở khu vực mép nước hồ Hòa
Bình
43
Bảng 2.3: Kết quả tính toán bồi lắng lòng hồ Hòa Bình năm 1990 -
2013
44-45
Bảng 2.4: Kết quả tính toán bồi lắng lòng hồ theo diện tích
tại một số các mặt cắt trong các giai đoạn vận hành hồ chứa Hoà
hồ chứa, đáp ứng nhu cầu kinh tế dân sinh. Trên địa bàn các tỉnh khu vực Tây Bắc
hiện đã xây dựng được hàng trăm hồ lớn nhỏ; trong số đó hồ Hòa Bình và Sơn La
thuộc loại lớn nhất ở nước ta. Hiện nay, các hồ này đã đóng vai trò tích cực trong
việc trữ nước mùa mưa, cấp nước trong mùa khô, làm giảm bớt khó khăn do hạn
hán, cũng như giảm thiểu lũ quét gây ra, cải thiện môi trường sống của cư dân các
địa phương; đặc biệt là đã cung cấp sản lượng điện lớn phục vụ đời sống KT-XH
của cả nước. Trên thực tế, các hồ đã trở thành một phần không thể thiếu trong sự
phát triển KT-XH và cuộc sống hằng ngày của người dân địa phương.
Tuy nhiên, hiện nay có nhiều hồ sau khi đưa vào vận hành, sử dụng một thời
gian đã bị xuống cấp, làm giảm thời hạn sử dụng. Mặc dù trong những năm qua,
Nhà nước, các bộ, ngành, chính quyền và nhân dân các địa phương đã quan tâm đầu
tư tiền của, công sức cho việc sửa chữa, tu bổ và tổ chức bảo đảm an toàn cho các
hồ, nhưng do số lượng hồ nhiều, cần kinh phí đầu tư sửa chữa lớn, nên khó đáp ứng
được yêu cầu đang đặt ra ngày càng lớn. Vậy nên, vấn đề an toàn đối với các hồ
hiện vẫn đang là nỗi lo của người dân địa phương. Theo điều tra của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, các hồ ở khu vực Tây Bắc có độ an toàn
không cao. Nhiều hồ bị bồi lắng lòng hồ, trượt lở bờ hồ, nứt nẻ thân đập, xuất hiện
tình trạng thấm chẩy, thậm chí là bị thấm rất nghiêm trọng. Không những thế, các
hồ ở khu vực Tây Bắc lại nằm trong một vùng thường xuyên bị tác động tiêu cực
của các tai biến địa chất (TBĐC), đặc biệt là động đất, nứt đất, trượt lở đất, xói mòn
đất, lũ quét-lũ bùn đá, bồi lắng lòng hồ, thậm chí có nguy cơ bị vỡ đập gây hậu quả
2
xấu tới khai thác lâu dài, vận hành chúng phục vụ cho phát triển bền vững kinh tế -
xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương.
Hồ thủy điện Hòa Bình là hồ chứa dạng sông dài, hẹp và sâu, nằm trên dòng
sông Đà. Trước khi có hồ thủy điện Sơn La thì hồ chứa Hòa Bình đã giữ vị trí kỷ
lục trên nhiều phương diện: dung tích hồ, dung tích hữu ích, dung tích chống lũ,
công xuất phát điện của Nhà máy thủy điện (1.920 MW). Hồ chứa Hòa Bình là một
công trình trọng điểm của Nhà nước, một nguồn tài nguyên quý giá, đóng vai trò
Để thực hiện mục tiêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu sau được giải quyết:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan ở trong, ngoài nước và
xây dựng cơ sở lý luận về nghiên cứu đánh giá biến động bờ hồ chứa.
- Thu thập các tài liệu, số liệu, tư liệu về hiện trạng trượt lở bờ hồ và bồi lắng
lòng hồ đã có và các yếu tố gây biến động bờ hồ .
- Phân tích giải đoán ảnh viễn thám xác lập hiện trạng trượt lở bờ hồ, bờ lắng
lòng hồ và các yếu tố gây biến động bờ hồ.
- Khảo sát thực địa thu thập tài liệu về hiện trạng trượt lở bờ hồ và bồi lắng
lòng hồ và các yếu tố gây biến động bờ hồ.
- Phân tích các yếu tố gây biến động bờ hồ.
- Xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở bờ hồ thủy điện Hòa Bình.
- Xây dựng bản đồ hiện trạng trượt lở bờ hồ thủy điện Hòa Bình.
- Xây dựng bản đồ hiện trạng bồi lắng hồ thủy điện Hòa Bình.
- Xây dựng và mô tả bản đồ biến động bờ hồ thủy điện Hòa Bình.
- Đánh giá biến động biến động bờ hồ thủy điện Hòa Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các quá trình trượt lở bờ hồ và
bồi lắng lòng hồ thủy điện Hòa Bình.
Hồ thủy điện Hòa Bình nằm ở khu vực Tây Bắc nước ta, có tọa độ địa lý từ
20
o
36’51” đến 21
o
42’57” vĩ độ Bắc và 103
o
45’34” đến 105
o
25’43” kinh độ Đông
4
nguyên nhân gây biến động bờ hồ.
- Các tài liệu phân tích, xử lý tổng hợp.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học của luận văn là thúc đẩy ứng dụng công nghệ viễn thám
và GIS trong nghiên cứu tai biến địa chất; góp phần hoàn thiện tổ hợp các phương
pháp nghiên cứu TBĐC nói riêng và tai biến môi trường nói chung; góp phần vào
sự phát triển của khoa học về tai biến địa chất.
- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn là nâng cao trình độ cho cán bộ khoa học là
đội ngũ các nhà khoa học trẻ về lĩnh vực tai biến môi trường; nâng cao nhận thức
cho cán bộ quản lý vận hành các hồ thủy điện nói riêng, hồ chứa nói chung; đóng
góp cơ sở khoa học để Nhà nước và các địa phương hoạch định chiến lược phát
triển bền vững KT-XH và bảo vệ môi trường.
6. Cấu trúc luận văn
Luận văn được trình bày trên các trang in vi tính với các bảng biểu, hình vẽ
và các ảnh minh họa; được cấu trúc thành 3 chương không kể phần Mở đầu và Kết
luận. Cấu trúc của luận văn gồm:
- Mở đầu: tính cấp thiết, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu,
ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
- Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, phương pháp luận và
phương pháp nghiên cứu.
- Chương 2: Hiện trạng trượt lở bờ hồ và bồi lắng lòng hồ thủy điện Hòa Bình.
- Chương 3: Đặc điểm biến động bờ hồ thủy điện Hòa Bình.
- Kết luận và kiến nghị
7
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Khái quát về tình hình nghiên cứu
càng rộng rãi. Các ảnh viễn thám đa phổ, phân giải cao có khả năng cung cấp thông
tin ngày càng chi tiết, chính xác và được cập nhật liên tục. Hiện nay, các cơ quan
hàng không vũ trụ châu Âu (ESA), Mỹ (NASA), Nhật Bản (JAXA),… đã chế tạo
các đầu thu vệ tinh chuyên dùng, tạo ra nhiều loại ảnh vệ tinh cho từng mục đích
khác nhau (ví dụ các ảnh MOS, MODIS, MERIS, ENVISAT/SAR, ASAR,
NOAA/AVHRR, LANDSAT/MSS, TM & ETM
+
, SPOT, SOYUZ,…). Trong
nghiên cứu, giám sát, theo dõi, dự báo tai biến địa chất, các nhà khoa học thường sử
dụng các ảnh vệ tinh có độ phân giải trung bình và cao như LANDSAT TM &
ETM
+
, ASTER, SPOT, hoặc IKONOS.
Ứng dụng phương pháp phân tích viễn thám và GIS trong nghiên cứu đánh
giá dự báo tai biến địa chất đã được đề cập trong các công trình khoa học trên thế
giới, đặc biệt là ở Nga, Pháp, Mỹ, Nhật và Trung Quốc và đã đạt được những thành
tựu khoa học bước đầu. Phần lớn các công trình đã đi sâu nghiên cứu xác lập
phương pháp giải đoán cho từng lĩnh vực nghiên cứu nhất định. Trong nghiên cứu
dự báo tai biến địa chất, các thông tin cần thiết nhất chiết xuất từ ảnh vệ tinh là hiện
trạng diễn biến các tai biến địa chất và yếu tố phát sinh các tai biến đó: địa mạo, địa
chất, lớp phủ thực vật, hoạt động kinh tế của con người,… Thông qua các dấu hiệu
ảnh: dấu hiệu trực tiếp (phổ ảnh, hoa văn, tổ hợp màu,…), gián tiếp là những yếu tố
lớp phủ, địa hình, địa mạo và thành phần vật chất trên bề mặt,… cho phép xác lập
các yếu tố tác động phát sinh tai biến địa chất. Ví dụ như, các đới phá huỷ đứt gẫy
trên thực tế tồn tại dưới dạng một cảnh quan rất đặc biệt bao gồm các yếu tố về địa
hình, thực vật, thổ nhưỡng và thuỷ văn. Sự thể hiện của các yếu tố của cảnh quan
này trên ảnh viễn thám sẽ là các dấu hiệu gián tiếp để giải đoán đứt gẫy hoạt động,
sự phân bố trong không gian, tính chất dịch chuyển của chúng và đới ảnh hưởng
động lực đứt gẫy. Điều này cho chúng ta thấy khi tiến hành phân tích viễn thám
9
1- Ở nhiều nước trên thế giới đã hình thành các tổ chức chuyên biệt về tai biến
(Trung Quốc, Nga, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malayxia, Philippin), có đội ngũ cán
bộ chuyên môn thành thạo, được trang bị đầy đủ các phương tiện kỹ thuật nghiên
cứu hiện đại, với mạng lưới quan trắc, giám sát và cảnh báo phù hợp, nên một số
dạng tai biến đã được phòng trị kịp thời. Các tổ chức này luôn được đảm bảo lượng
kinh phí đầy đủ cho các hoạt động cần thiết. Các dạng tai biến điển hình nguy hiểm
như TLĐ, XMĐ, LQ-LBĐ, TLBH và BLLH trên thế giới đã được đầu tư nghiên
cứu nghiên cứu ở trình độ cao ở nhiều quốc gia phát triển.
2- Ở nhiều nước, đã xây dựng chiến lược quốc gia về nghiên cứu phòng tránh
giảm nhẹ một loại hoặc nhiều loại tai biến. Kết quả nghiên cứu triển khai về lĩnh
vực này đã được tổng kết phân tích trong nhiều công trình chuyên khảo có giá trị
lớn cả về lý thuyết và thực tế. Nhiều cách tiếp cận và các tổ hợp phương pháp mới
được áp dụng thành công đã mang lại những hiệu quả to lớn. Các phương pháp
nghiên cứu ngày càng được hoàn thiện hơn; nghiên cứu định tính đã dần dần thay
thế bằng nghiên cứu định lượng được thực hiện bởi các thiết bị kỹ thuật hiện đại.
Bên cạnh đó, tăng cường tiềm lực thiết bị được đặc biệt chú trọng. Đầu tư công
nghệ, kỹ thuật hiện đại để theo dõi, quan trắc, cảnh báo tự động TBĐC, trong đó, có
đặt máy cảnh báo tự động ở những vùng có nguy cơ cao đã được tiến hành. Chính
vì vậy, nghiên cứu dự báo và phòng tránh tai biến ở một số nước đã mang lại những
hiệu quả rõ rệt.
3- Các dạng tai biến địa chất được nghiên cứu toàn diện trên các phương diện
khác nhau: hiện trạng tai biến (hình thái, nguồn gốc, cơ chế và yếu tố phát sinh,
cường độ, tần suất và hậu quả ), độ nhạy cảm của môi trường tự nhiên đối với tai
biến, lập bản đồ phân vùng tai biến và cuối cùng là đánh giá rủi ro tai biến địa chất.
Tuỳ thuộc vào mức độ quan tâm đầu tư của từng nước mà kết qủa nghiên cứu
phòng tránh tai biến mang lại các thành công khác nhau. Ở các nước có tiềm lực
kinh tế và khoa học công nghệ phát triển, nghiên cứu phòng tránh tai biến đã có các
bước phát triển mạnh. Chính nhờ những cơ sở khoa học này mà nhiều nước đã đưa
ra các giải pháp phòng tránh, phòng chống và ứng phó hiệu quả.
Nam đã vận dụng phân loại tai biến tự nhiên của một số nước trên thế giới (Nga,
12
Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, ), cho rằng, TBĐC trước tiên là tai biến tự
nhiên, được hình thành do các quá trình địa chất (bao gồm cả nội sinh và ngoại
sinh) gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động dân sinh và tính
mạng của con người [18]. Với cách tiếp cận này, các TBĐC đã được tiến hành
nghiên cứu ở các phạm vi và quy mô khác nhau. Có thể khẳng định rằng, chính khái
niệm này đã làm thay đổi cách tiếp cận cũng như việc lựa chọn phương pháp áp
dụng đồng bộ, phù hợp và hiệu quả trong nghiên cứu các dạng tai biến ở Việt Nam.
Nhờ đó, những sản phẩm nghiên cứu tạo ra, ngoài những giá trị khoa học lớn lao,
đồng thời có khả năng áp dụng hiệu quả nhất định trong phòng ngừa và giảm thiểu
thiệt hại.
Trong những năm 80 thuộc thế kỷ 20, một số dạng tai biến xuất hiện và phổ
biến rầm rộ trên nhiều khu vực lãnh thổ như: nứt đất, trượt đất, lũ quét, lũ bùn đá,
xói lở bờ sông, ven biển cũng đã được quan tâm nghiên cứu. Nhiều năm trở lại đây,
TBĐC bùng phát ngày càng nhiều, với cường độ và tần xuất ngày càng lớn. Hầu
như trên phần lớn lãnh thổ của nước ta, đặc biệt các khu vực miền núi không năm
nào là không xảy ra TBĐC nghiêm trọng; TLBH xảy ra rầm rộ ở nhiều địa hình
khác nhau. Hàng năm nước ta phải gánh chịu những thiệt hại rất nặng nề do tai biến,
trong đó có TLĐ, LQ-LBĐ, TLBH và BLLH. Các tai biến này phát triển trên hầu
hết các vùng miền của cả nước. Do tính đặc thù thường xuất hiện bất ngờ, nên các
dạng tai biến này thường xuyên gây ra các hậu quả nặng nề đối với các công trình
xây dựng, làm thiệt hại nhiều nhà cửa, gây mất đất canh tác và thậm chí nhiều tính
mạng con người. TBĐC đang đẩy nhiều cộng đồng dân cư ở nhiều nơi vào cảnh
nghèo đói triền miên. Về hiện trạng TBĐC được tổng hợp khá cụ thể trong nhiều
công trình nghiên cứu [18]. Con số thiệt hại do tai biến gây ra, tuy đã được đề cập
đến, nhưng đó chỉ là những con số thống kê sơ bộ chưa đầy đủ. Chắc chắn đây phải
là con số khổng lồ. Ví dụ, chỉ tính riêng LQ-LBĐ từ 1953 đến nay đã xẩy ra đến
322 trận lớn nhỏ và trong 10 năm gần đây, LQ-LBĐ đã làm chết 500 người. Để
LQ-LBĐ vùng trọng điểm của các tỉnh Hà Giang, Lào Cai và Điện Biên được
nghiên cứu đầy đủ và lượng hóa và xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ, nguy cơ
thiệt hại ở tỷ lệ lớn (1/50.000) đến cấp huyện. Đặc biệt có ý nghĩa thực tế quan
14
trọng là các Bản đồ hướng dẫn sử dụng hợp lý lãnh thổ. Kết quả nghiên cứu đã
được chuyển giao kịp thời cho các địa phương để phục vụ cho công tác di dân ra
khỏi các vùng nguy hiểm do TLĐ, LQ-LBĐ [9], [18].
Hiện nay, nước ta đã có nguồn cơ sở dữ liệu phong phú về ảnh viễn thám,
đặc biệt là ảnh viễn thám phân giải cao và tương đương phục vụ cho nghiên cứu
đánh giá, dự báo các TBĐC có hiệu quả. Vệ tinh VNREDSat - 1 (Vietnam Natural
Resouces, Enviroment and Disaster Monitoring Satellite) là vệ tinh viễn thám đầu
tiên của Việt Nam, mang các thiết bị thu ảnh quang học, thuộc dòng vệ tinh nhỏ
(Small Satellite), có trọng lượng khoảng 150kg được thiết kế và chế tạo bởi hãng
EADS Astrium (Pháp). Dự kiến vệ tinh sẽ được tên lửa đẩy Vega đưa vào không
gian vũ trụ trong quý II/2013, với thời gian hoạt động trên quỹ đạo dự kiến khoảng
5 năm
Vệ tinh VNREDSat-1 mang các thiết bị thu ảnh quang học, có thể cung cấp 5
kênh ảnh bao gồm ảnh chụp ở kênh toàn sắc (Pan) và 04 kênh ảnh đa phổ (MS),
thời gian bay chụp lặp lại là 03 ngày. Vệ tinh VNREDSat-1 có quỹ đạo địa cực
đồng bộ mặt trời; quỹ đạo có độ cao 680km so với mặt đất tại xích đạo. Kênh ảnh
toàn sắc và các kênh đa phổ có độ phân giải lần lượt là 2,5m (Pan) và 10m (MS);
ảnh có độ phủ trên mặt đất là 17km. Đây là loại ảnh vệ tinh có độ phân giải cao,
phục vụ các mục đích nghiên cứu khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam và các vùng lân
cận. Trong nghiên cứu các tai biến địa chất, đề tài sẽ sử dụng các kênh ảnh của vệ
tinh VNREDSat-1 và các loại ảnh tương đương khác (như ảnh Spot-5) đã được sử
dụng trong các nghiên cứu ở Việt Nam, nhằm so sánh về tính năng của các tư liệu
ảnh vệ tinh quang học khác nhau và về khả năng ứng dụng chúng trong các nghiên
cứu tài nguyên - môi trường nói chung, trong đó có vùng miền núi Tây Bắc.
Vệ tinh Spot-5 (của Pháp) là loại vệ tinh quang học thuộc dòng vệ tinh Spot,
Trong nghiên cứu này đề tài sẽ sử dụng một số mô hình không gian trong
tính toán, như nghiên cứu xói mòn đất, biến động lớp phủ trong đó có lớp phủ rừng
và thảm thực vật nói chung, biến động địa hình do các tác nhân tự nhiên và con
người, Ngoài ra, thông tin từ ảnh viễn thám còn sử dụng trong xác định quy mô
và vị trí các tai biến địa chất (xói mòn, đổ lở đất đá, trượt lở đất, lũ quét-lũ bùn đá,
biến động bờ hồ, ) và được chính xác hoá hiện trạng các tai biến qua các tư liệu