MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 4
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 5
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIÁM ĐỐC 5
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 5
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5
1.1.1. Trên thế giới 5
1.1.2. Ở Việt Nam 7
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 10
1.2.1. Quản lí, quản lí giáo dục 10
1.2.2. Dạy học và quản lí hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX 13
1.2.3. Quản lí hoạt động dạy học bổ túc THPT của giám đốc TTGDTX 21
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM GIÁO DỤC
THƯỜNG XUYÊN 28
1.3.1. Yếu tố chủ quan 28
1.3.2. Các yếu tố khách quan 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2 33
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 33
CỦA GIÁM ĐỐC CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH NINH BÌNH 33
2.1. MỘT SỐ NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH NINH BÌNH 33
2.1.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội 33
2.1.2. Khái quát về tình hình phát triển giáo dục và đào tạo 35
2.1.3 Vài nét về các Trung tâm GDTX tỉnh Ninh Bình 38
2.2. 1. Những thuận lợi và khó khăn chính 41
2.2.2. Thực trạng về hoạt động dạy học của giáo viên 44
2.2.3. Thực trạng về số lượng và chất lượng học tập của học viên 46
2.3. THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIÁM ĐỐC CÁC TRUNG TÂM GDTX TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH
3.2.5. Tăng cường quản lí nề nếp, kỉ cương trường học và xây dựng môi
trường làm việc tích cực, thân thiện 83
3.2.6. Tăng cường cơ sở vật chất sư phạm trong trung tâm và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học 90
3.2.7. Tổ chức, chỉ đạo dạy học theo hướng tăng thời lượng học tập và phân
hóa đối tượng, GV hướng dẫn HV học tập hiệu quả 92
3.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 98
3.4. KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM VỀ SỰ CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG SỐ 2.1. QUY MÔ TRƯỜNG, LỚP, HỌC VIÊN TỈNH NINH BÌNH 36
TỪ NĂM HỌC 2009-2010 ĐẾN NĂM HỌC 2013-2014 36
BẢNG SỐ 2.2. SỐ LƯỢNG CÁN BỘ QUẢN LÍ, GIÁO VIÊN, NHÂN VIÊN, 37
TRÌNH ĐỘ GIÁO VIÊN CÁC CẤP HỌC 37
BẢNG 2.3. THỐNG KÊ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYỂN SINH QUA MỘT SỐ NĂM HỌC 43
BẢNG 2.4. THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG CÁN BỘ, GIÁO VIÊN, NHÂN VIÊN 44
CỦA CÁC TRUNG TÂM GDTX TỈNH NINH BÌNH QUA MỘT SỐ NĂM HỌC 44
BẢNG 2.5. GIÁO VIÊN TỰ ĐÁNH GIÁ VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 45
BẢNG 2.6. THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG LỚP HỌC VÀ HỌC VIÊN 47
TỪ NĂM HỌC 2009-2010 ĐẾN NĂM HỌC 2012-2013 47
BẢNG 2.7. TỔNG HỢP KẾT QUẢ CỦA MỘT SỐ MẶT GIÁO DỤC CỦA TẤT CẢ CÁC TRUNG TÂM GDTX TỪ
NĂM HỌC 2010-2011 ĐẾN NĂM HỌC 2012-2013 48
BẢNG 2.8. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÍ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH CỦA GIÁO VIÊN 50
BẢNG 2.9. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÍ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN 51
BẢNG 2.10. THỰC TRẠNG QUẢN LÍ THỰC HIỆN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 52
BẢNG 2.11. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÍ VIỆC SOẠN BÀI CỦA GIÁO VIÊN 54
BẢNG 2.12. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÍ GIỜ LÊN LỚP CỦA GIÁO VIÊN 55
BẢNG 2.13. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÍ DỰ GIỜ 57
VÀ ĐÁNH GIÁ GIỜ DẠY CỦA GIÁO VIÊN 57
với yêu cầu thực tế, đặc biệt chất lượng dạy và học vẫn còn bộc lộ những hạn chế.
Với những lý do trên cùng với thực tế công tác quản lí của bản thân, việc đưa ra
các biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các Trung tâm GDTX trong
địa bàn tỉnh Ninh bình là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm đưa ra những biện pháp quản lí có tính chất thiết thực nhất phục
vụ cho công tác quản lí, điều hành hoạt động dạy học, nhằm không ngừng nâng cao
chất lượng dạy học và góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục ở các Trung tâm giáo
dục thường xuyên.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tương nghiên cứu
1
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình quản lí hoạt động dạy học ở Trung tâm GDTX
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lí dạy học nhằm nâng cao
chất lượng dạy học ở Trung tâm giáo dục thường xuyên trong giai đoạn hiện nay
4. Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở thực trạng của công tác quản lí dạy học và chất lượng dạy học ở
Trung tâm giáo dục thường xuyên cùng với thực tế công tác quản lí của bản thân, đề
tài này đưa ra các biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trung
tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Nếu vận dụng tốt các biện pháp quản lí này
sẽ khắc phục được những hạn chế của công tác quản lí dạy học ở các Trung tâm
GDTX trong địa bàn tỉnh Ninh bình trong giai đoạn hiện nay, thúc đẩy hoạt động
dạy học ngày càng phát triển vững chắc và có chất lượng cao hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa những vấn đề lí luận có liên quan đến quản lí hoạt động
dạy học ở trung tâm GDTX
5.2. Khảo sát thực trạng của quá trình quản lí hoạt động dạy học ở các trung
tâm GDTX tỉnh Ninh Bình
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các
trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Ninh bình
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
các thầy cô khoa quản lí giáo dục của trường ĐHSP Hà Nội.
Cánh thức tiến hành: thông qua gặp trực tiếp, trao đổi qua hộp thư, qua các
cuộc họp, hội thảo.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp toán thống kê là phương pháp sử dụng các công thức toán
thống kê để định hướng kết quả nghiên cứu trên cơ sở đó rút ra kết luận khoa học
mang tính khái quát.
3
Trên cơ sở thu thập số liệu và xử lí số liệu, từ đó cho phép đánh giá hiệu quả
của nội dung nghiên cứu, tính cấp thiết, tính thực tiễn và tính hiệu quả của các biện
pháp quản lí đề xuất.
7.3. Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ (biểu bảng, sơ đồ)
8. Điểm mới của đề tài
Vấn đề GDTX ở nước ta đến nay đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu,
các đề tài, các bài báo đăng trên các tạp chí và báo cáo ở nhiều hội thảo khoa học.
Điển hình là các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Phạm Minh Hạc, Tô Bá
Trượng, Trần Kiểm, Vũ Ngọc Hải, Trần Bá Hoành, Thái Xuân Đào, Nguyễn Như
Ất, Phạm Tất Dong, v.v… và gần đây có một số luận văn thạc sĩ khoa học chuyên
ngành quản lí giáo dục nghiên cứu về các lĩnh vực quản lí trung tâm GDTX như của
các tác giả: Dương Hiền Mỹ, năm 2006; Lê Công Phi, năm 2009; Lê Hồng Thịnh,
năm 2012.
Tuy nhiên, đối với các trung tâm GDTX tỉnh Ninh Bình đến nay chưa có
công trình nào nghiên cứu. Đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài nghiên cứu và thực
hiện luận văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lí giáo dục: “Quản lí hoạt động dạy học
của giám đốc các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Ninh Bình”.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, toàn bộ nội dung cơ bản của luận văn được thể hiện qua 3 chương:
rất nhanh, những thành tựu mới về KH&CN dẫn đến sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu
ngành nghề (nhiều nghề cũ đã không thể tồn tại đồng thời xuất hiện những ngành
nghề mới) thúc đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa… Sự thay đổi môi trường và điều
kiện sống, thay đổi công nghệ trong sản xuất đã đặt ra yêu cầu đối với người dân
nói chung và lực lượng lao động nói riêng luôn phải học để tiếp thu cái mới. Nhu
5
cầu học tập không chỉ dừng lại ở một độ tuổi nhất định hay đóng khung trong
những nội dung đã được chọn lọc tinh túy, kinh nghiệm và nó là nhu cầu của đa số
người dân ở mọi lứa tuổi, trình độ, điều kiện và hoàn cảnh sống, nhu cầu về nội
dung học cũng rất phong phú và liên tục biến động theo sự xuất hiện với tần suất
nhanh của những thành tựu khoa học mới. Thực tế đó đã chỉ ra sự bất cập của nền
giáo dục đương thời vốn chỉ chú trọng vào phương thức GDCQ, tập trung. GDCQ
chủ yếu tập trung ở đô thị, thiếu linh động về đối tượng người học và nội dung học
đã không đáp ứng được nhu cầu học tập của người dân cả về hình thức và nội dung
học. Giáo dục ít có cơ hội đến những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và đến với người nghèo.
Năm 1968 xuất hiện tác phẩm nổi tiếng của Ph.Combs “Khủng hoảng giáo
dục trên phạm vi toàn Thế giới”. Trong tác phẩm này đề cập đến 4 vấn đề sau:
- Giáo dục trong nhà trường không đủ đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi người
- Học vấn trong nhà trường thậm chí cả nhà trường đại học không đáp ứng
được yêu cầu phát triển KT-XH
- Kiến thức học trong nhà trường là quá ít ỏi và chóng lạc hậu
- Giáo dục không chính quy (GDKCQ) mới gợi ý cho giáo dục thoát khỏi
khủng hoảng đó[19].
Đây chính là tác phẩm mở ra xu hướng phát triển mới cho giáo dục.
Đến thập kỷ 70, Edgar Farue, 1972 đã xuất bản cuốn sách “Học để tồn tại”
đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, đặc biệt là giáo dục người lớn đặt trong
khuôn khổ của giáo dục suốt đời [12]. Từ đó các quan điểm khái niệm giáo dục suốt
đời, học tập suốt đời, xã hội học tập được đưa ra bàn luận và nhiều nhà giáo dục lớn
trên thế giới đã cần phải có quan niệm rộng về giáo dục: giáo dục người lớn,
lệnh số số 17 ngày 8/9/1945 về thành lập Nha BDHV, rồi Sắc lệnh số 19: Thiết lập
cho nông dân, thợ thuyền và nhân dân lao động những lớp học bình dân buổi tối.
Nha BDHV ra đời là sự mở đầu và là tiền thân của ngành GDTX ngày nay [30].
Ngay từ khi mới phát động phong trào Bình dân học vụ năm 1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ thị "Mỗi người biết chữ là một giáo viên, mỗi gia đình là một
7
lớp học, mỗi người công dân Việt Nam bất kỳ già trẻ gái trai đều phải biết chữ ".
Đây được coi là phương châm và nội dung công tác của Bình dân học vụ. Bản chất
của Bình dân học vụ là một phong trào của quần chúng, “của dân, do dân, vì dân”,
chủ trương lấy sức mạnh của nhân dân để tiến hành công việc. Bình dân học vụ là
công cuộc của toàn dân, vì vậy mọi người dân yêu nước, tùy tài, tùy lực, ai cũng
phải tham gia.
Dù với hình thức sơ khai và trong diều kiện rất khó khăn, song chỉ sau một
năm hoạt động BDHV để chống nạn thất học (8/9/1945 - 8/9/1946) đã có 2.520.678
người, chủ yếu là người lớn tuổi, đã thoát nạn mù chữ. Trong thời gian từ năm 1945
đến năm 1959, GDTX nước ta đã làm nên một kỳ tích: Cơ bản xóa được nạn mù
chữ cho toàn dân, 93.4% dân số trong độ tuổi từ 12 đến 50 đã biết đọc, biết viết
chữ quốc ngữ , từng bước nâng cao trình độ văn hóa cho người lao động và đào tạo
nhanh chóng được một đội ngũ cán bộ để đáp ứng được nhu cầu của cách mạng.
Có nhiều nguyên nhân đưa đến thành tựu nổi bật trên của GDTX trong giai
đoạn này, song nguyên nhân chính phải khẳng định là do công tác quản lí rất hiệu
quả, thể hiện ở việc xác định mục tiêu, hình thức và nội dung dạy học phù hợp, thiết
thực, đặc biệt là sự phù hợp giữa phương thức tổ chức dạy học với ý chí và nguyện
vọng của nhân dân.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954): Nhiệm
vụ của giáo dục là phải tìm mọi biện pháp khôi phục lại các hoạt động giảng dạy và
học tập của các loại trường cho phù hợp với hoàn cảnh mới và đáp ứng những yêu
cầu mới của sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Tháng 7/1950, Hội đồng Chính phủ
họp, chính thức thông qua đề án cải cách giáo dục. Bên cạnh hệ thống giáo dục phổ
thông còn có giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục đại học và hệ thống giáo dục bình
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của đất nước, GDTX đang đứng trước
những nhiệm vụ nặng nề và phải tích cực khắc phục những yếu kém để vươn lên,
đặc biệt là chất lượng giáo dục còn thấp và không đồng đều giữa các vùng, miền,
công tác quản lí dạy học còn nhiều yếu kém, trong đó có công tác quản lí dạy học
bổ túc THPT của các trung tâm GDTX.
9
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lí, quản lí giáo dục
1.2.1.1. Quản lí
Quản lí là một khái niệm ghép “quản” và “lí”. “Quản’ có hàm nghĩa rất phong
phú: Cai quản, thống trị, giữ gìn, theo dõi…Theo góc độ điều khiển, “quản” có thể
hiểu là lái, điều khiển, chỉ huy, kiểm soát…Do đó, trong đời sống xã hội ngày càng
phát sinh những khái niệm liên quan với từ “quản” như quản giáo, quản thúc, quản
tượng, quản gia, quản trị,…. “Lí” theo hàm nghĩa là khoa học, khách quan nâng cao
hiệu quả hoạt động “quản”.
C.Mác đã lột tả bản chất của quản lí là nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những
công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động
của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động riêng lẻ của nó. Một người chơi
vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy. Như vậy,
theo C.Mác: quản lí là loại lao động để điều khiển mọi quá trình lao động phát triển
xã hội.
Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về quản lí:
Theo Harold Koontz, 1992: quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự
phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu
của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có
thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn của cá
nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lí là một nghệ thuật, còn kiến thức về
quản lí là một khoa học.
Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn, 2000: Quản lí là sự tác động có hướng đích của
chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay
định nhằm hướng đến mục tiêu.
- Mục tiêu cuối cùng của quản lí là chất lượng, sản phẩm vì lơi ích phục vụ
con người.[18]
1.2.1.2. Quản lí giáo dục
Khái niệm Quản lí giáo dục hiện nay còn có nhiều cách hiểu khác nhau:
11
- Tác giả M. I Kônđacốp cho rằng: “Quản lí giáo dục là tập hợp những biện
pháp kế hoạch hóa, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ
thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như
chất lượng”.[31]
- Khuđôminski cho rằng: “Quản lí giáo dục là tác động hệ thống có kế hoạch,
có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các
khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản xã hội chủ nghĩa
cho thế hệ trẻ”[8].
- Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quát là
hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công
tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội”[1].
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí (hệ giáo dục) nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các
tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá
trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến
lên trạng thái mới về chất”.[19]
Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm " Quản lí giáo dục" có nhiều cấp độ. Ít
nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô
- Đối với cấp vĩ mô
Quản lí giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục
đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các móc
xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực
hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo
theo nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương
nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội, phải có
một lực lượng đông đảo của xã hội những người làm công tác giáo dục cùng với
hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng.
1.2.2. Dạy học và quản lí hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX
1.2.2.1. Trung tâm GDTX ( Khái niệm, vị trí, cơ cấu tổ chức)
* "Giáo dục thường xuyên" là một khái niệm rộng rãi bao gồm toàn thể các cơ
hội học tập mà mọi người đều mong muốn hoặc cần có sau xóa mù chữ cơ bản và
13
giáo dục tiểu học. GDTX cung cấp cơ hội để mọi người học tập suốt đời ở Việt
nam, GDTX thực hiện cả chương trình xóa mù chữ ( XMC) và giáo dục tiếp tục sau
khi biết chữ (GDTTSKBC).
Qua đó, chúng ta thấy quan niệm cho rằng các hoạt động giáo dục chỉ diễn ra
trong nhà trường (GDCQ) là phiến diện và lạc hậu, thay vào đó là quan niệm rộng
về giáo dục. Đó là, các hoạt động giáo dục diễn ra cả trong nhà trường và ngoài nhà
trường (Chính quy, không chính quy, phi chính quy), diễn ra trong suốt cuộc đời
của mỗi con người (học suốt đời), việc đi học trong nhà trường chỉ chiếm một phần
nhỏ của cuộc đời, còn phần lớn là học theo các chương trình GDTX. GTDX cung
ứng cơ hội học tập suốt đời, nhằm bù đắp, cập nhập những kiến thức, kĩ năng còn
thiếu trong giáo dục chính quy, đồng thời bảo đảm một sự phát triển và nâng cấp
không ngừng về tài nguyên con người trong suốt cuộc đời của toàn thể công dân.
Nếu như trước đây, GDTX chỉ tập trung chủ yếu vào xóa mù chữ, bổ túc văn
hóa thì ngày nay GDTX bao gồm nhiều hình thức không tập trung, không chính quy,
tại chức, vừa học vừa làm, từ xa, hệ mở,…với mục đích bồi dưỡng, nâng cao trình độ,
cập nhật kiến thức, dạy kỹ năng, dạy nghề, dạy cách làm ăn, dạy kỹ năng sống.
Trước đây quan niệm truyền thống về giáo dục chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà
trường, chủ yếu là giáo dục chính quy mà đối tượng là những người trong độ tuổi đi
học thuộc thế hệ trẻ. Ngày nay để tồn tại và thích ứng trong một xã hội phát triển
mỗi người cần phải học tập thường xuyên, học liên tục. Chính vì vậy mà quan niệm
về giáo dục cũng phải thay đổi. Giáo dục không chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà
b) Cơ cấu tổ chức của trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện gồm các
tổ: tổ hành chính – tổng hợp, tổ giáo vụ, tổ dạy văn hoá, tổ dạy nghề, ngoại ngữ và
tin học, tổ chuyên đề và các tổ chuyên môn khác; mỗi tổ có một tổ trưởng, một tổ
phó do giám đốc trung tâm bổ nhiệm. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của
các tổ này do giám đốc trung tâm quy định.
2. Đối với trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh:
a) Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó
giám đốc;
15
b) Cơ cấu tổ chức của trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh gồm có:
phòng tổ chức hành chính, phòng quản lí đào tạo, phòng bồi dưỡng nâng cao trình
độ, phòng dạy văn hóa và các phòng, tổ chuyên môn khác; mỗi phòng có 1 trưởng
phòng, 1 hoặc 2 phó trưởng phòng; mỗi tổ có 1 tổ trưởng, 1 hoặc 2 tổ phó do giám
đốc trung tâm bổ nhiệm. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các phòng, tổ
này do giám đốc trung tâm quy định”.
1.2.2.2. Dạy học
Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng
giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích
chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà
nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán
thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học
1.2.2.3. Hoạt động dạy học
Quá trình dạy học gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: Hoạt động dạy của
giáo viên và hoạt động học của học sinh. Hoạt động dạy là hoạt động lãnh đạo, tổ
chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển
hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học. Trong quá
trình dạy học, hoạt động dạy của giáo viên có vai trò chủ đạo, hoạt động học của
học sinh có vai trò tự giác, chủ động, tích cực. Nếu thiếu một trong hai hoạt động
trên, quá trình dạy học không diễn ra.
Theo thuyết hoạt động, dạy học gồm hai hoạt động: Hoạt động dạy của thầy
Quản lí dạy học là quản lí một hoạt động với tư cách là một hệ thống toàn vẹn bao
gồm các yếu tố cơ bản: mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, thầy với hoạt động
dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và các phương tiện dạy học, các hình
thức tổ chức dạy học, phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Theo tác giả Đỗ Bích Ngọc “Quản lí quá trình dạy học là một bộ phận cấu
thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống quản lí quá trình giáo dục và đào tạo trong
trường học. Quá trình thực hiện các chức năng tổng hợp, phát triển nhân cách, nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [32].
Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học
được thể hiện bằng sự hợp tác giữa dạy và học theo logic khách quan của nội dung.
17
Như vậy quản lí hoạt động dạy học là hoạt động sư phạm của người thầy và
hoạt động học tập rèn luyện của trò, đề hình thành và phát triển nhân cách học sinh.
Quản lí các hoạt động dạy học ở trung tâm GDTX là những tác động có mục
đích, có kế hoạch của Giám đốc đến tập thể giáo viên, học viên và những lực lượng
giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp
trong các hoạt động của nhà trường giúp quá trình dạy học và giáo dục vận động tối
ưu tới các mục tiêu dự kiến.
Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển Bách khoa, 2000), “Dạy – học là
quá trình hoạt động có điều khiển ít nhất ở hai cấp độ : quản lí và thực hiện. Ở cấp độ
quản lí có mối quan hệ điều khiển dọc giữa cấp trên (cơ quan quản lí) và cấp dưới
(người thực hiện) dựa trên các tiêu chuẩn chất lượng của ngành. Để đảm bảo dạy học
đạt yêu cầu chất lượng thì người quản lí phải tạo đủ điều kiện cần thiết cho người
thực hiện và theo dõi, kiểm tra, đánh giá thường xuyên quá trình và kết quả của việc
dạy học. Ở cấp độ thực hiện có mối quan hệ điều khiển ngang giữa người dạy và
người học trên cơ sở hợp tác bình đẳng cùng nhau đảm bảo chất lượng theo yêu cầu
của ngành”.
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “QL và lãnh đạo DH là việc xây dựng
một hệ thống các chỉ dẫn DH, tạo điều kiện tốt nhất và có các tác động phù hợp để
GV nâng cao chất lượng, cải tiến công tác giảng dạy, khuyến khích HS học tập đạt
đạo chuyên môn; kế hoạch bồi dưỡng học viên giỏi; kế hoạch phụ đạo học viên yếu
kém; kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên; kế hoạch kiểm tra
toàn diện - chuyên đề giáo viên.
- Công tác xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn và của giáo viên: Căn cứ
nhiệm vụ năm học của các cấp quản lí và tình hình cụ thể của đơn vị, của tổ chuyên
môn, của cá nhân đề ra kế hoạch phù hợp. Giám đốc là người hướng dẫn giáo viên
xây dựng kế hoạch, trên cơ sở mục tiêu đề ra và tìm ra các biện pháp thực hiện các
mục tiêu đó.
+ Kế hoạch cá nhân:
Cơ sở xây dựng kế hoạch: đó là nhiệm vụ năm học, quy định về bộ môn,
định mức chỉ tiêu được giao, chất lượng học viên, các điều kiện đảm bảo cho việc
dạy học.
19
Xác định phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu các mặt hoạt động
Các biện pháp: Thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn; cách thức thực hiện đổi
mới phương pháp; tự học, tự nâng cao trình độ tay nghề; liên hệ thực tế, học hỏi và
rút kinh nghiệm,….
Điều kiện đảm bảo thực hiện kế hoạch: sách giáo khoa, tài liệu tham khảo,
trang thiết bị, kinh phí phục vụ,….
Đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
+ Kế hoạch các tổ:
Nhiệm vụ năm học mới, yêu cầu của các cấp quản lí, tình hình Trung tâm,
những thuận lợi và khó khăn. Xác định phương hướng, mục tiêu phấn đấu.
Điều kiện đảm bảo thực hiện kế hoạch: Đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, cơ
sở vật chất, trang thiết bị phục vụ, nguồn lực tài chính.
Các biện pháp của tổ thực hiện trong học kỳ, trong tháng.
Đánh giá việc thực hiện kế hoạch và những bài học kinh nghiệm.
Muốn thực hiện tốt kế hoạch của nhà trường, thì mỗi cá nhân và tổ chuyên
môn phải làm tốt kế hoạch của mình. Xong trong quá trình thực hiện cần linh hoạt
điều chỉnh một số nội dung sao cho phù hợp thực tế để đạt được kế hoạch đã đề ra.