Vai trò của tôn đức thắng đối với cách mạng việt nam (1920 1980) - Pdf 29



TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
*********
PHẠM THỊ TRANG
VAI TRÒ CỦA TÔN ĐỨC THẮNG
ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM
(1920 - 1980)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. CHU THỊ THU THỦY

HÀ NỘI, 2014


nhiệm và chịu mọi kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra.
Tác giả khóa luận Phạm Thị Trang MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài .1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
4. Nguồn tư liệu và phương pháp ngiên cứu 5
5. Đóng góp của khóa luận 5
6. Bố cục của khóa luận 6
Chương 1. Vai trò của Tôn Đức Thắng đối với cách mạng Việt Nam từ
năm 1920 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 7
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Tôn Đức Thắng. 7
1.1.1. Tiểu sử Tôn Đức Thắng 7
1.1.2. Sự nghiệp của Tôn Đức Thắng 10
1.2. Vai trò của Tôn Đức Thắng đối với phong trào cách mạng Việt Nam
từ năm 1920 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 .14
1.2.1. Vai trò của Tôn Đức Thắng trong việc thành lập Công hội Đỏ 14
1.2.2. Vai trò của Tôn Đức Thắng trong việc thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam 22
1.2.3. Vai trò của Tôn Đức Thắng trong lãnh đạo đấu tranh bất khuất
chống lao tù đế quốc ở Côn Đảo (1930 – 1945) 26
Chương 2. Vai trò của Tôn Đức Thắng đối với phong trào cách mạng
Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1980 43
2.1. Vai trò của Tôn Đức Thắng trong xây dựng chính sách đại đoàn kết

trên đất Pháp cũng như trong nước.
Năm 1920, Bác Tôn trở về nước sau sự kiện kéo cờ trên Hắc Hải nổi
tiếng. Từ đó cho đến năm 1980, Tôn Đức Thắng đã dành trọn cuộc đời cho sự
nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, 70 năm cũng là 70 mùa xuân bác Tôn
sống và làm việc để phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. Trong thời gian đó,
Bác Tôn đã làm được nhiều việc cho giai cấp công nhân, nhân dân và dân tộc.
Từ việc thành lập Công Hội bí mật năm 1920, lãnh đạo cuộc bãi công có tính
chất bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến của phong trào công nhân đi từ tự
phát sang tự giác của công nhân Ba Son tháng 09/1925, đến việc tham gia Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên và đóng góp vào quá trình vận động thành

2

lập Đảng ở Nam Kỳ. Năm 1929, bị thực dân Pháp bắt và đầy đi Côn Đảo, Bác
Tôn đã thực sự biến nhà tù Côn Đảo thành trường học Chính trị. Từ sau cách
mạng tháng Tám năm 1945 Bác giữ nhiều chức vụ quan trọng và chèo lái con
thuyền cách mạnh Việt Nam đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ để đi đến
thắng lợi cuối cùng.
Qua các hoạt động của Tôn Đức Thắng ở trong nước cũng như nước
ngoài, tôi nhận thức được vai trò to lớn của Tôn Đức Thắng đối với cách
mạng Việt Nam từ năm 1920 đến năm 1980. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Vai trò
của Tôn Đức Thắng đối với Cách mạng Việt Nam (1920 -1980)” làm đề tài
khóa luận của mình. Đề tài này vừa mang ý nghĩa khoa học vừa mang ý nghĩa
thực tiễn lớn và có tính thời sự trong giai đoạn hiện nay, góp phần phục vụ
cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự
nghiệp hoạt động cách mạng của chủ tịch Tôn Đức Thắng – Vị anh hùng góp
tay đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi qua hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời nó cũng phác họa bức tranh
cách mạng Việt Nam giai đoạn 1920 - 1980.

Nội, 2003 ). Đây là quyển Hồi ký đồ sộ của nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và
Nhà Nước, các bậc lão thành Cách mạng, các nhà nghiên cứu, các nhà văn
hóa, các nhà hoạt động thực tiễn, các bạn chiến đấu, các cộng sự, các cán bộ
phục vụ và bảo vệ đồng chí Tôn Đức Thắng lúc hoạt động bí mật cũng như
lúc công khai. Các nhân chứng lịch sử ấy, bằng những tình cảm sâu sắc, chân
thành, kính mến dành cho đồng chí Tôn Đức Thắng đã ghi lại những trang hồi
ký chân thực phản ánh sinh động và đầy đủ tài năng, đức độ và sự cống hiến
lớn lao của Người đối với tiến trình phát triển của Cách mạng Việt Nam. Tài

4

liệu quý này cũng là công trình lớn lao có nhiều ý nghĩa ra đời nhân dịp kỷ
niệm lần thứ 115 ngày sinh cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng.
Hồi ký này không chỉ đi vào những cứ liệu mang tính lịch sử cụ thể
mà còn là những cảm nhận, kể cả những câu chuyện kể, những hồi tưởng tràn
đầy tình cảm của rất nhiều người dành cho Bác. Trong số đó, có cả bài chúc
mừng đồng chí Tôn Đức Thắng thọ 70 tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài
của đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn
Linh…Những bài viết của đồng chí Nông Đức Mạnh, của Đại tướng Võ
Nguyên Giáp, Võ Chí Công, của Thượng tướng Trần Văn Trà, Phạm Thế
Duyệt, Mai Chí Thọ, Nguyễn Minh Triết…
Những kết quả nghiên cứu và công bố của nhiều tác giả, nhiều công
trình như đã trình bày trên đối với tôi là rất quý, là cơ sở cho tôi kế thừa và
phát triển khóa luận của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Nghiên cứu đề tài “Vai trò của Tôn Đức Thắng với phong trào cách
mạng Viêt Nam từ năm 1920 đến năm 1980”, là tìm hiểu một cách có hệ
thống khá đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, từ
đó tìm hiểu vai trò của Tôn Đức Thắng với phong trào cách mạng Việt Nam

tầm, xử lý số liệu, phương pháp đối chiếu thống kê, so sánh.
5. Đóng góp của khóa luận
1. Khi đề tài nghiên cứu thành công, đề tài sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn
về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của chủ tịch Tôn Đức Thắng –
Vị anh hùng góp tay đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi qua hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời nó cũng
phác họa bức tranh cách mạng Việt Nam giai đoạn 1920 - 1980.

6

2. Đề tài nghiên cứu thành công sẽ trở thành nguồn tư liệu cho giảng
dạy ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học Phổ thông về lịch sử Việt
Nam giai đoạn Cận - Hiện, mà cụ thể là về vai trò của Tôn Đức Thắng với
cách mạng Việt Nam giai đoạn 1920 - 1980.
3. Từ thực tiễn nghiên cứu đề tài, khóa luận đã rút ra được một số kinh
nghiệm thiết thực có thể tham khảo, và dụng trong cuộc sống xây dựng, bảo
vệ đất nước hiện nay.
4. Khóa luận này cũng đã tập hợp, hệ thống hóa những tài liệu có liên
quan đến vấn đề trên có thể sử dụng làm tài liệu học tập nghiên cứu.
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung của
khóa luận được chia làm hai chương:
Chương 1: Vai trò của Tôn Đức Thắng đối với cách mạng Việt Nam
từ năm 1920 đến cách mạng tháng Tám năm1945.
Chương 2: Vai trò của Tôn Đức Thắng đối với cách mạng Viêt Nam
từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1980.


đầu tiên của Tôn Đức Thắng. Khi học Tôn Đức Thắng thương nêu
nhiều câu hỏi với thầy, chẳng hạn tại sao đất nước mình lại có những
con người nơi khác đến mà họ lại lắm quyền hành đến thế? Tại sao họ
giết người mình lúc nào cũng được? Thuế người mình nộp để người

8

Pháp làm gì? Tại sao mình phải đi xâu? Nước Pháp ở tận đâu? Những
câu hỏi của người học trò được thầy giáo Năm Khách giải đáp, và nhờ
trí thông minh, đức hiếu học, cậu học trò Tôn Đức Thắng đã chắp nối
và hiểu ra thời cuộc. Tôn Đức Thắng thật ra học không lâu nhưng cái
chính là ông học cách làm người, biết yêu cái đúng, ghét cái sai, cái
lòng say mê thiên nhiên đất nước, trung thành với sự nghiệp của ông
[14; tr.16].
Với tầm nhìn và bản lĩnh được hun đúc bằng tính năng động, trải qua
chặng đường đầu sáu năm sống giữa lòng thành phố Sài Gòn, Tôn
Đức Thắng đã tự khổ công rèn luyện mình theo phương châm giáo
dục nghiêm khắc của tổ tiên: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Trước
khi chính thức ngồi dưới mái trường Bách Nghệ - có tên Pháp là
“Trường cơ khí Á châu Sài Gòn”, (nay là trường kỹ nghệ Cao Thắng)
Tôn Đức Thắng được luyện tay nghề qua khá nhiều lĩnh vực: Làm
công cho các gara, đề - pô tư nhân, làm nghề tiện, nghề điện, nghề
nguội, sửa xe hơi, sửa máy tàu thủy, làm công cho các hãng Cơrốp
thuộc sở kiến trúc cầu đường và nhà cửa Sài Gòn. Sau bốn năm học
nghề, năm 1910, Tôn Đức Thắng tốt nghiệp với thành tích xuất sắc và
đúng giao kết khi xin vào học, Bác bước vào cuộc đời người thợ ở
xưởng máy Ba Son – Xưởng xưa nhất và lớn nhất ở Sài Gòn. Và bây
giờ giai cấp công nhân của thành phố Sài Gòn lại đón nhận người
công nhân trẻ, thông minh, kiên nghị và giác ngộ cách mạng – Tôn
Đức Thắng [11; tr.55].

Việt, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ
tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phó chủ tịch rồi sau đó

10

là chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó là nước Cộng hòa Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sau khi Bác Hồ mất, ngày 23/09/1969 Tôn Đức Thắng được bầu làm
Chủ tịch nước. Tôn Đức Thắng giữ nhiệm vụ chủ tịch cho đến ngày
30/03/1980 thì qua đời tại Hà Nội và thọ 92 tuổi.
1.1.2. Sự nghiệp của Tôn Đức Thắng
Lúc vừa tròn 18 tuổi, Tôn Đức Thắng lên Sài Gòn để mưu sinh. Vốn
sinh trưởng trong một gia đình nông dân ở vùng đồng bằng châu thổ sông
Cửu Long trù phú, nhưng khi đặt chân tới thành phố sau này được mệnh danh
là “hòn ngọc Viễn Đông”, Tôn Đức Thắng nhanh chóng hòa nhập vào đội
quân “áo xanh” của ngành công nghiệp, quyết tâm biến mình thành người thợ
và mãi mãi gắn bó cuộc đời với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Từ sự tích cực tham gia vào việc thành lập các hội đoàn truyền thống
trong giới thợ và tiến hành đấu tranh bằng những hình thức phôi thai
như: Tổ chức các hội tương tế, ái hữu, đòi tăng lương, giảm giờ làm,
chống đánh đập, phạt vạ. Năm 1909, Tôn Đức Thắng tham gia vận
động anh em học sinh lính thủy bỏ học; năm 1910 tham gia vận động
anh chị em công nhân Sở Kiến trúc Cầu đường ở Sài Gòn chống bọn
chủ cúp phạt, đánh đạp vô lý và đòi tăng lương, Tôn Đức Thắng đã tập
hợp một số hạt nhân nòng cốt, tổ chức thành công cuộc bãi công, bãi
khóa đầu tiên của công nhân hãng Ba Son và học sinh trường Bách
Nghệ Sài Gòn năm 1912. Sự kiện này in dấu ấn sâu đậm trong cuộc
đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng [10; tr.26].
Sau khi rời khỏi hải cảng Sài Gòn vào thập niên thứ XX, chiếc tàu
viễn dương Lacoóc và chiếm hạm France của Pháp đã mới lạ - nơi: “Quan

đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Nó phù hợp với một nước thuộc

12

địa như nước ta - dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ, bởi vậy tổ
chức bí mật mới có thể tránh khỏi mọi sự đàn áp, khủng bố của kẻ thù.
Bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng
mở ra vào một ngày cuối năm 1926, khi nhận được chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc, Tôn Đức Thắng nhanh chóng tán thành gia nhập Hôi Việt Nam
Cách mạng Thanh niên, tán thành con đường giải phóng dân tộc gắn liền với
giải phóng giai cấp công nhân, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Từ đây, trong con người Tôn Đức Thắng, yêu nước gắn liền với yêu chủ
nghĩa xã hội, trung thành với Tổ Quốc, với dân tộc cũng đồng thời là trung
thành với sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ánh sáng của
chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã nâng lòng yêu nước chân chính của Tôn Đức
Thắng lên một tầm cao mới, thêm sức mạnh và hăng hái lao vào hoạt động
cách mạng. Năm 1927, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam
Kỳ thành lập Tôn Đức Thắng được cử làm một thành viên trong ban lãnh đạo
kỳ bộ và trực tiếp phụ trách phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn. Trên
cương vị này, Tôn Đức Thắng đã tích cực tuyên truyền giác ngộ và cùng các
đồng chí của mình tham gia chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Mác-xít chân
chính ở Việt Nam. Cuối năm 1929, giữa lúc phong trào cách mạng đang phát
triển mạnh mẽ thì Tôn Đức Thắng bị mật thám Pháp bắt, đưa về Khám lớn ở
Sài Gòn và dùng mọi cực hình tàn bạo hòng khai thac nhưng tin tức về cách
mạng. Nhưng chúng đã that bại trước khí phách kiên cường, bất khuất của
người chiến sĩ cộng sản. Chúng kết án Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai.
Đêm mồng 02 rạng sáng ngày mồng 03/07/1930, con tàu Armand
Roussean của thực dân Pháp lặng lẽ rời Sài Gòn đưa Tôn Đức Thắng
và một số cán bộ, quần chúng yêu nước đày ra Côn Đảo. Kể từ đó cho
đến ngày 18/08/1945, khi Côn Đảo được giải phóng, người tù mang số

14

1.2.Vai trò của Tôn Đức Thắng đối với cách mạng Việt Nam từ năm 1920
đến Cách mạng tháng Tám năm 1945
1.2.1.Vai trò của Tôn Đức Thắng trong việc thành lập Công hội Đỏ
Sinh ra và lớn lên khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trên toàn cõi
Việt Nam, chứng kiến cảnh “nước mất nhà tan”, xã hội đầy rẫy bất công, nhân
dân bị bóc lột cùng cực, Tôn Đức Thắng đã sớm có tinh thần yêu nước và
khát vọng đấu tranh chống áp bức, bóc lột giành độc lập. Cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất, giai
cấp công nhân ra đời, đánh dấu bước chuyển mới trong cơ cấu xã hội Việt
Nam. Khi đó, Tôn Đức Thắng học xong tiểu học, đến Sài Gòn học nghề tai
Trường Kỹ nghệ Viễn Đông. Năm 1909, Tôn Đức Thắng vào làm ở xưởng
đóng tàu Ba Son, trở thành trong những một người thợ giỏi, Tôn Đức Thắng
còn tích cực vận động anh, em học sinh lính thủy bỏ học đẻ chống lại chính
sách hà khắc của thực dân Pháp, tổ chức các cuộc đấu tranh công nhân chống
đánh đập, cúp phạt, đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc,
Tôn Đức Thắng về Sài Gòn vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX,
giữa lúc phong trào yêu nước đang sôi động. Nhưng với sự hiểu biết ít nhiều
về giai cấp công nhân và đấu trang giai cấp, với kinh nghiệm qua trương tranh
đấu của bản thân, Tôn Đức Thắng tiếp tục hướng hoạt động mà mình đã chọn
15 năm về trước: đi vào giai cấp công nhân. Về nước nhưng bị cấm vào làm
việc ở bất kỳ cơ sở công nghiệp nào của Pháp, Tôn Đức Thắng vào làm công
nhân cho một hãng của người Đức ở Sài Gòn.
Trong thời gian này, Tôn Đức Thắng tìm những người anh em cũ ở
trường Bá Nghệ, xưởng Ba Son và những người thợ ở Nhà Đen, có ý
thức đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để tuyên truyền, kể về tổ
chức của những người Pháp. Dần dần Tôn Đức Thắng vận động thành
lập tổ chức của những người thợ yêu nước với tên gọi Công hội Đỏ


16

cùng quan trọng. Nó đánh dấu một thời kỳ mới trong lịch sử giai cấp công
nhân Việt Nam, thời kỳ giai cấp công nhân Việt Nam bắt đầu ý thức về sức
mạnh của giai cấp mình. Tuy phải hoạt động bí mật nhưng Công Hội đã góp
phần từng bước đưa giai cấp công nhân Việt Nam lên vũ đài chính trị và dần
dần trở thành lực lượng chính trị độc lập, mở đầu cho một giai đoạn mới –
giai đoạn đấu tranh có tổ chức, từ tự phát lên tự giác. Đây là tổ chức Công hội
đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam do chính bản thân củ những người
công nhân tự tổ chức ra.
Công Hội đã bầu ra ban chấp hành gồm: Hội trưởng Tôn Đức Thắng
(thợ máy hang Krooff); Phó hội trương là Nguyễn Văn Côn (thợ nguội
hãng Faxi); thư ký Mạnh (thợ vẽ hàng đầu nhà Bè); thủ quỹ Đặng Văn
Sâm (thợ tiện nhà máy đèn), và một số người làm kiểm soát viên. Số
lượng hội viên không quá 300 người [10; tr.135].
Trong quá trình lãnh đạo Công Hội bí mật,Tôn Đức Thắng đã chủ
động bắt liên lạc với một số đồng chí trong tổ chức Hội Việt Nam mạng
Thanh niên; tự nguyện ra nhập và giới thiệu các đồng chí trong nhóm trung
kiên cùng gia nhập tổ chức này. Tôn Đức Thắng đã trực tiếp bồi dưỡng, phát
hiện, giới thiệu và đưa nhiều thanh niên công nhân có tâm huyết sang Quảng
Châu học tập, sau đó trở về hoạt động trong phong trào công nhân, tiểu biểu
như: Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Dung, Ngô Văn Nam,
Lê Văn Lưỡng… Những cán bộ này đều được Tôn Đức Thắng chọn lựa từ
phong trào công nhân của nhà máy Ba Son và đã trở thành những cán bộ đầu
tiên của phong trào công nhân và hoạt động công đoàn, mà tên tuổi, sự nghiệp
của họ gắn liền với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam.
Từ khi có Công Hội bí mật, phong trào đấu tranh của công nhân thợ
thuyền Sài Gòn – Chợ Lớn đã liên tục nổ ra và phát triển theo một xu thế mới.
Các cuộc bãi công của công nhân đã dần dần trở thành bãi công của những


18

toàn thể công nhân đóng tàu ở Ba Son bãi công, học sinh Trường Thợ máy
Sài Gòn bãi Khóa…
Tôn Đức Thắng đã sớm nhận thức rõ tầm quan trọng của việc nâng
cao nhận thức chính trị cho hội viên Công Hội bí mật. Bởi vậy, Tôn Đức
Thắng đã tổ chức Công hội liên lạc chặt chẽ với công nhân, thủy thủ tàu biển
để nhận báo chí tiến bộ từ Pháp, Trung Quốc gửi về như báo Nhân Đạo,
Người cùng khổ, Việt Nam hồn và những bài báo của Nguyễn Ái Quốc viết
về Đông Dương.
Tôn Đức Thắng luôn ý thức được sức mạnh của tổ chức công hội, của
giai cấp công nhân, nó không chỉ phụ thuộc vào bản thân tổ chức công hội và
giai cấp công nhân, mà phụ thuộc vào sự ủng hộ của các giai cấp tầng lớp và
các tổ chức khác trong xã hội. Vì vậy trong quá trình lãnh đạo Công hội bí
mật hoạt động, Tôn Đức Thắng rất chú trọng mở rộng quan hệ của Công hội
với các lớp tiên bộ khác, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của họ. Đối với
nông dân, Tôn Đức Thắng thương cùng các anh em công nhân về các tỉnh để
tuyên truyền tinh thần yêu nước trong bà con chòm xóm, tạo nên mối quan hệ
gắn bó với những người yêu nước ở các vùng quê. Đối với phong trào yêu
nước của các tầng lớp trí thức tiểu tư sản, Công hội Của Tôn Đức Thắng ủng
hộ, tham gia tất cả các cuộc mít tinh, biểu tình công khai, nhưng vẫn giữ riêng
tổ chức bí mật của mình. Do vậy các phong trào đấu tranh củ Công hội bí mật
đã tranh thủ sự ủng hộ to lớn về vật chất và tinh thần của nhiều lực lượng ở
Sài Gòn – Chợ lớn như: thợ thuyền, dân cày và tiếng nói đồng tình của báo
chí trong nhóm trung kiên cùng gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên, giới thiệu đưa thanh niên có tâm huyết sang Quảng Châu học tập. Từ
đây, Công hội của Tôn Đức Thắng trở thành một cơ quan quan trọng cho sự
phát triển của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

19


lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, chuẩn bị miếng đất tốt cho Nguyễn Ái Quốc “gieo
trồng hạt giống đỏ” vào phong trào công nhân Việt Nam.
Từ năm 1927, trung tâm phong trào công nhân Việt Nam đã chuyển ra
Bắc Kỳ, nơi có lực lượng công nhân đông đảo nhất. Gần như tất cả các
cuộc bãi công lớn trong tổng số 40 cuộc bãi công năm 1929 là ở Bắc
và Trung Kỳ. Tại một trung tâm Công hội đỏ xứ Bắc Kỳ là Nam Định
trước tháng 07/1929 đã xuất hiện nhiều truyền đơn của Tổng Công hội
Bắc Kỳ với lời kêu gọi “Tổ chức bãi công bênh vực quyền lợi minh và
vô sản liên hiệp lại” [10; tr.137].
Hà Nội lúc đó thực sự trở thành trung tâm của phong trào Công hội đỏ
của cả nước. Công hội đỏ ở Hà Nội thực sự vươn lên với cuộc vận động Vô
sản hóa từ mùa thu năm 1929, Công hội ở Hà Nội phát triển như gió lốc, Tỉnh
bộ Hà Nội thành lập Tổng công hội Hà Nội do đông chí Trần Văn Sửu phụ
trách. Trong hững cuộc bãi công lớn của Hà Nội đầu năm 1929, nổi bật là vai
trò của Công hội đỏ là trong cuộc bãi công nổi tiếng của xưởng ôtô AVIA
ngày 04/05/1929. Đích thân đồng chí Ngô Gia Tự cùng Uỷ Ban bãi công do
công hội nhà máy lập ra chỉ huy cuộc bãi công có trụ sở đàng hoàng ở chùa
Hương Tuyết, Bạch Mai.
Ngày 28/07/1929, theo quyết định của Đông Dương Cộng Sản Đảng,
đồng chí Nguyễn Đức Cảnh triệu tập Hội nghị đại biểu Công hội Bắc Kỳ lần
thứ nhất. Đại hội đã nhất trí thông qua Chương trình Điều lệ và phương
hướng hành động của Tổng công hội Bắc kỳ và bầu ra Ban chấp hành do
Nguyễn Đức Cảnh phụ trách, các ủy viên như: Trần Hồng Vận, Trần Văn
Các, Nguyễn Văn Đoài, Nguyễn Huy Thảo… và đại hội còn quyết định xuất
bản tờ báo Lao Động làm cơ quan thông tin, tuyên truyền và tạp chí Công hội
đỏ làm cơ quan lý luận truyền bá quan điểm, chủ trương của Công hội đỏ
trong giai cấp công nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status