Ngôn ngữ nghệ thuật thơ chế lan viên qua tập điêu tàn - Pdf 29

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

HÀ THỊ KIM ANH

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THƠ
CHẾ LAN VIÊN
QUA TẬP THƠ ĐIÊU TÀN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học HÀ NỘI – 2014
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Ngôn Ngữ nghệ thuật thơ Chế Lan
Viên qua tập Điêu tàn” được thực hiện tại trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
2 dưới sự hướng dẫn của cô giáo ThS. Hoàng Thị Duyên.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo
ThS. Hoàng Thị Duyên - Người thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo, tận tình, trực
tiếp và thường xuyên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, các thầy cô trong khoa Ngữ

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả khóa luận
Hà Thị Kim Anh
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Đóng góp của khóa luận 5
7. Cấu trúc của khóa luận 6
PHẦN II: NỘI DUNG 7
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THƠ VÀ
VÀI NÉT VỀ NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN 7
1.1. Ngôn ngữ nghệ thuật 7
1.1.1. Khái niệm 7
1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ nghệ thuật trong văn học 7

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XX đã trôi qua nhưng “chúng tôi quan niệm rằng thế kỷ XX
là thế kỷ dữ dội nhất, quyết liệt nhất, dã man nhất và cũng tiến bộ nhất”.
[25; 14] Chính trong thời gian này xuất hiện nhiều nhà thơ tiêu biểu cho dân
tộc như “Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền…trong
các bài thơ của mình, họ đã ghi lại được một vài mảnh vụn của đời sống
chính trị, xã hội và tâm hồn của người Việt Nam trong cái thế kỷ vĩ đại này
bằng những hình thức độc đáo của nghệ thuật ngôn từ”. [25; 13] Trong số
các bậc thi bá, chúng tôi chọn nhà thơ Chế Lan Viên để nghiên cứu. Viết về
Chế Lan Viên Hoài Thanh đã nhận xét: “Con người này của trời đất bốn
phương, không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được”. [24; 288] Còn
Nguyễn Hạnh dẫn ý: “…anh luôn đi song hành với cuộc sống, với thời đại,
anh mải mê tìm tòi, anh muốn thử sức, muốn bộc lộ mình ở tất cả giọng
điệu, ở mọi cung bậc, sắc thái, (…) Giọng cao là anh, giọng trầm cũng là
anh. Súc tích, cổ điển, truyền thống mà rất mực phóng túng, hiện đại cũng
đủ cỡ khó mà đoán được (…) Anh là nhà thơ đầy bản lĩnh, mở những đường
mới cho thi ca hiện đại”. [15; 14]
Lý do mà chúng tôi chọn Chế Lan Viên để nghiên cứu bởi vì thứ nhất
một lý do rất đơn giản là chúng tôi rất yêu thơ ông. Lý do thứ hai là thơ ông là
tứ thơ triết mỹ, giàu màu sắc nhận thức luận, một tứ thơ không chỉ ru mà còn
thức tỉnh, không chỉ ơ hời mà còn đập bàn quát tháo, lo toan. (Đó là một loại
thơ tranh luận, hùng biện thơ chính luận đánh giặc rất tiêu biểu mà Chế Lan
Viên đã sử dụng rất thành công). Lý do thứ ba thơ Chế Lan Viên không chỉ
phản ánh lịch sử, phản ánh thời đại, mà còn phản ánh bản thân tiến trình thơ
ca dân tộc thế kỷ XX. Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, nhà hoạt động
văn hóa có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Chế
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Hà Thị Kim Anh - Khoa: Ngữ Văn Trang: - 2-


chúng tôi xin được đi tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật mà Chế Lan Viên khắc
họa trong Điêu tàn.
Dựa trên tính chất mới mẻ của vấn đề nghiên cứu và trên sự mong muốn
có đóng góp nhỏ trong việc nghiên cứu và ứng dụng với những lý do trên
chúng tôi quyết định lựa chọn và thực hiện đề tài: “Ngôn ngữ nghệ thuật thơ
Chế Lan Viên qua tập Điêu tàn”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu Điêu tàn của Chế Lan Viên không phải là vấn đề hoàn toàn
mới mẻ. Đi vào khai thác tìm hiểu ở một số phương diện khác nhau đã có rất
nhiều bài viết, công trình, ý kiến xoay quanh tập thơ này.
Nhà phê bình Hoài Thanh đã nhận xét về Điêu tàn như sau: “Cái mạnh
mẽ, cái to lớn ấy, những đau thương vô lý và da diết ấy, cái thế giới lạ lùng và
rùng rợn ấy, ai có ngờ ở trong tâm lý cậu bé 15-16 tuổi. Cậu ấy đã khiến bao
người ngạc nhiên. Giữa đồng bằng nó đứng sừng sững như một cái tháp
Chăm chắc chắn và lẻ loi, bí mật. Chúng ta người đồng bằng, thỉnh thoảng
trèo lên đó có người trèo đuổi sức mà trầm ngâm và xem gạch rung, nghe
tiếng rên rỉ của ma Hời cũng hay, nhưng triền miên trong đó không nên, riêng
tôi mỗi lần nấn ná trên ấy quá lâu, đầu tôi choáng váng”. [24; 219]
Phong Lan đã dẫn ý “Nếu Chế Lan Viên là con cháu của họ Chế Bồng
Nga, Chế Mân, thì thơ này là tiếng gọi của máu và nước mắt đầy bi hận của
dân tộc Chàm”. “Nếu anh là người Việt mượn tên Chàm thì đây là những lời
thanh cao tuyệt vời, đáng ghi vào lịch sử thơ ca”. [28; 28]
Trong Điêu tàn và tâm hồn Thơ Chế Lan Viên, Hà Minh Đức khẳng định
Điêu tàn khai thác một đề tài thi ca căn cứ lịch sử nhưng không rõ mối quan
hệ với thi nhân: “Sự sụp đổ cuả nhà nước Chàm. Một thế giới u linh của quỷ
dữ ma hời, những đầu lâu sọ dừa, máu xương và cả những tiếng khóc than
không dứt và cuối cùng là tấm lòng đau đớn, nối tiếc không nguôi của nhà thơ
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Hà Thị Kim Anh - Khoa: Ngữ Văn Trang: - 4-


trong cái “chân”, cái “thiện” mà tìm trong hư ảo với Điêu tàn. Điều này được
khẳng định trong Đôi điều về mĩ học của nhà thơ Chế Lan Viên đăng trên báo
Văn nghệ số 26, năm 1999.
Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu tùy theo quan niệm và sở thích cá nhân
mới chỉ đề cập đến một khía cạnh, một vấn đề trong Điêu tàn. Đặc biệt, do
khuôn khổ các bài đăng báo hay tham gia hội thảo, các tác giả chỉ nêu vấn đề,
cảm nhận của mình mà chưa đi sâu vào làm rõ nhận xét qua toàn bộ Điêu tàn.
Kế thừa người đi trước, chúng tôi đi sâu vào Ngôn ngữ nghệ thuật thơ
Chế Lan Viên qua tập Điêu tàn, mong sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về tập
thơ đầu tay của Chế Lan Viên, đồng thời góp phần tìm hiểu sự nghiệp thơ ca
của ông.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật thơ Chế Lan Viên trong tập thơ Điêu tàn
trên các phương diện: Đặc điểm ngôn ngữ, sự độc đáo trong các biện pháp,
thủ pháp sáng tạo ngôn từ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên qua tập thơ
Điêu tàn.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chủ yếu đi sâu khảo sát tập thơ Điêu
tàn. Ngoài ra còn so sánh thơ Chế Lan Viên ở các tập thơ khác.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong đề tài, chúng tôi sử dụng 3 phương pháp cơ bản:
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích tổng hợp
6. Đóng góp của khóa luận
Về mặt khoa học: Khóa luận đưa ra những cách tìm hiểu và đánh giá
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Hà Thị Kim Anh - Khoa: Ngữ Văn Trang: - 6-


được dùng trong văn học. Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này có ý nghĩa rộng
hơn, nhằm chỉ một cách bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùng một
cách chuẩn mực trong cách văn bản nhà nước, trên báo chí, đài phát thanh,
trong văn bản và khoa học”. [10; 215]
Theo tác giả Trần Đình Sử trong cuốn Lí luận văn học: “Mọi tác phẩm
văn học đều được viết hoặc kể bằng lời: Lời thơ, lời văn, lời tác giả, gộp
chung gọi là lời văn. Nếu ngôn từ tức là lời nói, viết trong tất cả các tính chất
thẩm mĩ của nó là chất liệu của sáng tác văn học, thì lời văn là hình thức ngôn
từ nghệ thuật của tác phẩm văn học”. [23; 313].
Như vậy, ngôn ngữ nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng thể
hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn. Và ngôn ngữ nghệ
thuật chính là ngôn ngữ nhân dân, ngôn ngữ dân tộc được tác giả vận dụng tổ
chức trong tác phẩm để tạo ra hiệu quả và giá trị thẩm mĩ.
1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ nghệ thuật trong văn học
Khác với loại hình nghệ thuật khác, văn học sử dụng ngôn ngữ là chất
liệu để “mã hóa” tư tưởng, cảm xúc…về đời sống. Một tác phẩm văn học khi
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Hà Thị Kim Anh - Khoa: Ngữ Văn Trang: - 8-

đến tay bạn đọc nó chỉ đơn giản là “một mớ” những kí tự. Muốn hiểu được
nó, bạn đọc phải “giải mã” văn bản đó để biến văn bản thành tác phẩm trong
tâm trí của mình.
Tính hình tượng, tính cảm xúc, tính cá thể…là thuộc tính cơ bản của
ngôn ngữ nghệ thuật. Nhờ đó mà văn học phản ánh đời sống theo đúng đặc
trưng mà không giống bất kì một loại hình nghệ thuật nào khác. Ngôn ngữ
nghệ thuật là hình thái hoạt động ngôn ngữ mang ý nghĩa thẩm mĩ. Nó sử
dụng để phục vụ nhiệm vụ trung tâm là xây dựng hình tượng văn học và giao
tiếp nghệ thuật. Vì vậy tính hình tượng, tính thẩm mĩ là thuộc tính bản chất
xuyên thấm vào mọi thuộc tính khác, qui định những thuộc tính ấy.
Ngôn ngữ dân tộc là vốn chung, ai cũng có thể dùng. Nhưng các nhà

“Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử
Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi”.
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hòa âm, ở sự thay đổi độ
cao giữa hai nhóm thanh điệu. Xuân Diệu đã biểu hiện được cảm xúc lâng
lâng, bay bổng theo tiếng đàn du dương, êm nhẹ:
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”.
Chính Tố Hữu viết:
“Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa”
(Mẹ Tơm)
Đó đâu chỉ là âm vang của tự nhiên mà là âm vang của tâm hồn. Sự tầm
bổng còn thể hiện ở nhịp điệu:
“Sen tàn/cúc lại nở hoa
Sầu dài/ngày ngắn/đông đà sang xuân”.
Cách ngắt nhịp 2/4 và 2/2/4 đều đặn nhịp nhàng. Nhịp thơ ở đây là nhịp
của cảm xúc.
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Hà Thị Kim Anh - Khoa: Ngữ Văn Trang: - 10-

Như vậy âm thanh và nhịp điệu trong thơ không đơn thuần là hình thức
mà là yếu tố góp phần biểu hiện những khía cạnh tinh vi của đời sống tình cảm.
Sự trùng điệp thể hiện ở sự dùng vần, điệp từ, ngữ, điệp cú, vừa dễ nhớ,
vừa tạo nên vẻ trùng điệp cho ngôn ngữ thơ:
“Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan”
(Tiếng đàn mưa_Bích Khê)
Như vậy, nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ.
Ngày nay có xu hướng bỏ vần để tạo cho câu thơ tự do. Nhưng nếu không có
một nhạc điệu nội tại nào đó thì sự đối xứng giữa các dòng, các đoạn thơ, tiết

nhưng bằng các biện pháp tu từ đã thể hiện được tâm trạng khắc khoải nhớ
mong của người con gái còn vang mãi, dư âm đến tận bây giờ và cả mai sau,
không chỉ của một người mà của nhiều người.
c. Ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm
Do tác phẩm văn học là sản phẩm của cảm xúc của người nghệ sĩ trước
cảnh đời, cảnh người nên ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện
được cảm xúc, phải truyền cảm xúc thẩm mĩ tới bạn đọc. Thơ là tiếng nói trực
tiếp của tình cảm, trái tim nên ngôn ngữ thơ ca có sức gợi cảm đặc biệt.
Ngôn ngữ thơ không chú trọng tả, kể như ngôn ngữ trong tác phẩm tự
sự. Nếu dùng thì thường nhằm mục đích để truyền cảm. Khi Quang Dũng viết
Tây Tiến:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có thấy dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.
Thì Quang Dũng không hỏi ai lên Châu Mộc có nhìn thấy phong cảnh
hữu tình không mà tác giả gợi nỗi nhớ thương mất mát, nuối tiếc những ngày
tháng, kỷ niệm, những ảo ảnh đã tan biến trong đời. Quang Dũng đã gợi cho
ta những gì đã mất, đồng thời phản ánh tâm trạng của chính mình.
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Hà Thị Kim Anh - Khoa: Ngữ Văn Trang: - 12-

Tính truyền cảm của ngôn ngữ thơ không chỉ biểu hiện qua cách lựa
chọn từ ngữ, các phương diện tu từ mà còn biểu hiện qua nhạc điệu thơ:
“Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường Bạch Dương sương trắng nắng tràn”
(Tố Hữu)
Sự tập trung dày đặc các nguyên âm có độ mở rộng và phụ âm mũi vang
khiến câu thơ giàu nhạc tính. Nhạc tính không đơn thuần là sự ngân nga của
ngôn ngữ mà còn là khúc nhạc hát lên trong lòng người.

Thời kỳ tham gia kháng chiến chống Pháp, dấu chân ông in đậm suốt cả
vùng từ Thanh - Nghệ - Tĩnh đến Bình - Trị - Thiên, nhất là vùng Quảng Trị
quê mẹ nghèo khổ, lam lũ, bời bời gió lào và cát trắng, luôn trở về trong tâm
trí nhà thơ. Trong bài Kết nạp Đảng trên quê mẹ [16; 357] ông viết:
“Gió Lào ơi! Người đừng thổi nữa
Những ruộng đói mùa, những đồng đối cỏ”
Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập báo Văn học. Từ
năm 1956 đến năm 1958, ông làm công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn
Trung ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học (sau là
báo Văn nghệ). Từ năm 1963 ông là ủy viên thường vụ Hội nhà văn Việt Nam,
ủy viên ban thư ký Hội nhà văn Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội các
khoá IV, V, và VI, Uỷ viên Ban văn hóa - giáo dục của Quốc hội.
Sau năm 1975, “thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và những
trăn trở của cái “tôi” trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống”.
Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo, nổi bật nhất là “chất suy
tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ
được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa.” Ông được nhà nước trao
tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt I (1996).
Có thể nói, trên từng chặng đường sáng tác, ngay cả khi nằm trên giường
bệnh Chế Lan Viên vẫn luôn sống hết mình cho đời và cho thơ. Ông tìm tòi,
sáng tạo với khát vọng để lại cho người đọc những vần thơ mới mẻ, đặc sắc,
và thực tế ông đã làm được điều đó.
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Hà Thị Kim Anh - Khoa: Ngữ Văn Trang: - 14-

CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THƠ
CHẾ LAN VIÊN
2.1. Những yếu tố chi phối tới ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên
2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội
2.1.1.1.Ảnh hưởng từ những phong trào cách tân đương thời

Xuân Thu nhã tập chỉ tồn tại trong vòng mấy năm (1942-1945), nhưng
lại hội tụ đầy đủ cả “đại gia đình” nghệ thuật: Thơ ca, âm nhạc, hội họa. Số
lượng sáng tác cũng rất “khiêm tốn” nhưng lại rất đa dạng về thể loại: thơ,
văn xuôi, tiểu luận. Mục đích sáng tác cũng khá độc đáo “Dưới bóng Xuân
Thu sẽ thực hiện trí thức - đạo đức - sáng tạo. Xuân Thu ra đời khi Thơ Mới
rơi vào bế tắc, khủng hoảng họ trăn trở, tìm một hướng đi mới cho thơ ca dân
tộc: “Tìm con đường thực, nối liền nguồn gốc xưa với ước vọng nay. Gọi về
những tính cách riêng của ta, để có thể xuôi chảy trong cái dòng sống thực
của ta, không quanh co, lúng túng vì những ảnh hưởng ngoài”. [6; 137]
Những cuộc cách tân thơ ca ấy đã có những ảnh hưởng nhất định tới Chế
Lan Viên đặc biệt là nghệ thuật sáng tạo ngôn ngữ trong thơ ông.
2.1.1.2. Ảnh hưởng từ chủ nghĩa tượng trưng
Chủ nghĩa tượng trưng là một trào lưu nghệ thuật và một quan điểm mỹ
học xuất hiện cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX. “Chủ nghĩa tượng trưng chỉ
một trường phái thần học, triết học hay mỹ học, chủ trương các văn bản tôn
giáo và các tác phẩm nghệ thuật không thể mang nghĩa đen hay khái quát, mà
chỉ là những biểu đạt tượng trưng và chủ quan của tình cảm và của tư duy”.
[1; 23] Về nguyên tắc mỹ học chủ nghĩa tượng trưng xem thế giới hữu hình chỉ
là hình ảnh, là cái bóng, là tượng trưng cho một thế giới mà ta không nhìn thấy
được. Thơ tượng trưng dùng biểu tượng như là một cấu tạo hình tượng đặc biệt
để chống lại lối miêu tả và biểu lộ tình cảm trực tiếp của chủ nghĩa lãng mạn.
Nó đã khai thác triệt để khả năng ám gợi, tính đa nghĩa của ngôn ngữ để đem
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Hà Thị Kim Anh - Khoa: Ngữ Văn Trang: - 16-

đến một thế giới bí ẩn, với những mê lộ huyền diệu. Những nhà thơ tượng
trưng đã đưa thơ ca tới một bến bờ mới tưởng chừng như xa lạ nhưng đó mới
chính là bản thể uyên nguyên, là cái tôi đa diện của con người
Nhà phê bình Hoài Thanh coi Xuân Diệu là “Nhà thơ mới nhất trong các
nhà thơ mới” [24; 120]. Trong thơ Xuân Diệu cũng đã thấp thoáng những yếu

Đối với ông, thi sĩ phải là người thoát ly triệt để thực tại để tìm giải thoát
ở cõi siêu hình bất tận. Đối với ông, cảm xúc thẩm mỹ lẫn đối tượng thẩm mỹ
của thơ chính là nỗi đau khổ khôn cùng của thi nhân trên cõi trần gian.
Cũng chính quan niệm “làm thơ là làm sự phi thường”, quyết không đi
lại những con đường của các nhà Thơ Mới thời ấy, đã khiến cho Điêu tàn trở
thành hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử thơ ca dân tộc. Ngay từ lúc ấy,
chính Chế Lan Viên đã ý thức được sự cô đơn trên nẻo đường riêng của thơ
mình. Điêu tàn chính là sự thực hiện quan niệm thơ ấy trong hoạt động sáng
tạo nghệ thuật.
Thứ hai, Chế Lan Viên đặc biệt quan tâm đến những vấn đề cơ bản nhất
của thơ. Đó là mục đích của thơ, đối tượng và mạch nguồn sức sống của thơ,
là nhiệm vụ của nhà thơ trong sự nghiệp cách mạng. Chế Lan Viên đã trả lời
dứt khoát được câu hỏi về bản thể từ lâu đã làm ông suy tư, trăn trở: Từ “Ta
là ai?” đến “Ta vì ai?” là cả hai chân trời khác nhau trong sáng tạo thơ ca, là
cả hai hướng đối lập nhau trong quan niệm nghệ thuật. Mục đích của thơ ông
giờ đây đã khác xưa: thơ phải vì cách mạng, vì nhân dân mà phục vụ, mà
hướng tới. Mục đích đã thay đổi thì đối tượng thơ cũng thay đổi. “Tôi viết cho
ai? Cho tất cả mọi người Cho ai cũ thơ tôi làm ướt áo. Nay họ về sưởi ấm
giữa thơ tôi” (Nghĩ về thơ). Sống gắn bó với nhân dân, với thực tiễn cuộc
sống Chế Lan Viên hoàn thiện thế giới quan cộng sản: “chúng ta làm văn
nghệ là để tả sự thật. Vả chăng sau này muốn truyền cảm cho người đọc, cố
nhiên không phải chỉ nói cảm xúc của ta mà phải nói cả sự việc”. [19; 197]
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Hà Thị Kim Anh - Khoa: Ngữ Văn Trang: - 18-

Những năm 60, 70 Chế Lan Viên quan niệm nhà thơ phải “chịu suy
nghĩ”, với ông thơ không chỉ quan trọng về nội dung mà còn chú ý đến hình
thức thơ:
“Hình thức cũng là vũ khí
Sắc đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lý”

ta có thể thấy rõ ngôn ngữ tập thơ chịu ảnh hưởng nhiều từ những cuộc cách
tân đương thời, ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, đặc biệt là quan niệm
về thơ của ông giai đoạn này.
2.2. Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
2.2.1. Ngôn ngữ mang tính chất suy tưởng, trí tuệ
Chất trí tuệ trong văn chương không phải là những gì khô khan. Chất trí
tuệ ở đây được thăng hoa từ cảm xúc và suy nghĩ trên cái nền hiện thực cụ thể
mà chủ thể sống qua. Còn “suy tưởng là một phương thức nhận thức của thơ
ca, nhằm biểu lộ bản chất sự vật bằng hình tượng nghệ thuật ngôn từ.” [25; 19]
Theo dõi toàn bộ sáng tác của Chế Lan Viên cùng với tìm hiểu nhận định
của nhà lý luận phê bình văn học, chúng ta dễ dàng đi đến nhận xét: “Thơ Chế
Lan Viên lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ, thể hiện khuynh hướng tư duy sắc sảo mang
tính triết luận sâu sắc”. Chất trí tuệ được biểu hiện ở chỗ thơ Chế Lan Viên ít
những chi tiết đời sống. Hiện thực trong thơ ông thường là hiện thực cảm
thấy, nghĩ thấy. Nó là bóng dáng của cái nhìn thấy. Đúng hơn nó là cái nhìn
thấy được khái quát, nhào nặn qua tư duy, qua suy tưởng, qua tưởng tượng, có
thể bị xáo trộn, bị gián đoạn, nó là cái vô nghĩa hợp lý nghĩa là cái
nhìn thấy đã qua giai đoạn nhận thức lý tính, nhận thức trừu tượng. Chế Lan
Viên đã chọn cho mình một lối thơ giàu tính suy tưởng trong Điêu tàn. Sự suy
tưởng biểu hiện rõ nhất qua mối quan hệ giữa: bãi tha ma - cái tôi - vũ trụ.
Thoát ly vào thơ và làm cho thơ thoát ly hiện thực. Đó là đặc điểm cốt lõi
nhất của phong trào Thơ mới nói chung và Chế Lan Viên nói riêng. Chúng ta
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Hà Thị Kim Anh - Khoa: Ngữ Văn Trang: - 20-

sẽ nghiên cứu xem quan niệm ấy đã chi phối quá trình suy tưởng trong Điêu
tàn như thế nào.
“Bãi tha ma” không phải là hiện thực cuộc sống, nó là tổng hợp của cái
chết chóc, cái đau khổ, cái đổ vỡ và tang thương… mà trong cuộc đời thực
con người phải chịu đựng. “Bãi tha ma” chính là một cái nền hoang vắng mà


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status