TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA VIỆT NAM HỌC
----------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THƠ XUÂN DIỆU
GIAI ĐOẠN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8 - 1945
(Qua 2 tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió)
Chuyên ngành: Văn học
Giáo viên hướng dẫn
: PGS.TS Lê Quang Hưng
Sinh viên thực hiện
: Phan Thị Tuyết
Lớp
: K60B – Việt Nam học
Hà Nội, 05/2014
2
LỜI CẢM ƠN
Thơ Xuân Diệu đắm say, rạo rực một tình yêu mãnh liệt, yêu con người, yêu
cuộc đời, yêu trần thế da diết đến cuồng nhiệt… Thơ ông là cả một thế giới
nghệ thuật rộn ràng thanh sắc, say đắm tình đời. Không những thế, xuất hiện
với một thần thái mới, cá tính và mạnh mẽ, Xuân Diệu đã đem đến góp vào
cho thơ Mới một phong cách nghệ thuật đặc trưng, tiêu biểu, thật riêng tư và
khác biệt vô cùng. Đọc thơ Xuân Diệu, dễ ám ảnh những câu thơ mạnh bạo,
gấp gáp, giục giã như một dòng suối ào ạt tuôn chảy, tưởng chừng ngôn từ xô
đẩy vào nhau, chen lấn nhau để cho kịp mạch cảm xúc đang bừng lên sôi
sục…Đó là nhờ vào hệ thống ngôn từ nghệ thuật trong thơ.
Thơ Mới 1932 - 1945, nếu như thơ Huy Cận gắn với nỗi sầu thiên cổ,
thơ Nguyễn Bính nhẹ nhàng, tha thiết, êm ái du dương thì Xuân Diệu – nhà
thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, lại dâng cho người đọc những lời thơ sôi
nổi, gửi gắm một thứ tình yêu nguyên sơ như thuở hồng hoang. Thơ Xuân
Diệu tài tình ở phong cách nghệ thuật, đó là cảm hứng, là thi tứ, là bút pháp.
Ông sử dụng từ ngữ đúng lúc, đúng chỗ, với giọng điệu giàu chất nhạc, nhịp
thơ đa dạng linh hoạt, tất cả được đan quện vào nhau tạo nên một hồn thơ với
những giai điệu trầm bổng, lúc da diết, nồng nàn, khi mãnh liệt, trào bung. Ở
đây, tôi muốn nhắc đến sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống ngôn ngữ giàu giá trị
biểu cảm đã diễn tả được cái thần thái, phá cách trong hồn thơ Xuân Diệu.
2
Việc nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật thơ Xuân Diệu là một cơ sở quan
trọng và cần thiết để tiến tới cảm thụ tác phẩm một cách trọn vẹn, đầy đủ
nhất. Lý giải mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và tác phẩm, có thể thấy,
khi nghiên cứu bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào cũng không thể thoát ly
khỏi chất liệu mà nó sử dụng để tổ chức tác phẩm. Nếu như nghiên cứu nghệ
thuật điêu khắc phải dựa trên đường nét, hình khối; hội họa phải dựa trên màu
sắc… thì nghiên cứu tác phẩm văn học không thể không bắt đầu từ ngôn ngữ.
Theo lý thuyết kí hiệu học, giữa hai mặt của ngôn ngữ có tính võ đoán, điều
là “văn chương” nữa, đó là lời nói, là tiếng reo vui hay tiếng năn nỉ, là sự chân
thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẩn trong những âm thanh”.
Song, thơ Xuân Diệu cũng bị dư luận khen chê không tiếc lời. Thái Phỉ trong
một bài đăng trên báo Tin Văn số 4 năm 1936 xuất bản ở Hà Nội đã mạt sát
Xuân Diệu không tiếc lời: “... thơ của ông ta được kể là khá nhất đám nhưng
chẳng ra gì...Thơ thì chẳng ra thơ, Tây cũng chẳng phải Tây, mà Tàu lại cũng
chẳng phải là Tàu”. Đó là những nhận xét ban đầu, rất chung chung, mang
tính chất chủ quan của người bình luận.
Năm 1941, Thi nhân Việt Nam ra đời, Xuân Diệu đã dành được một
chỗ ngồi trang trọng trong làng thơ Mới. Khi viết về Xuân Diệu, Hoài Thanh
và Hoài Chân nhận xét: “Ngay lời văn Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi, Xuân
Diệu viết văn tựa trẻ con học nói hay như người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng
Nam. Câu văn tuồng như bỡ ngỡ. Nhưng cái bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân
Diệu hơn người. Dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo những đường
có sẵn. Ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu văn phải lung lay”. Có thể nói đó là
những dòng đầu tiên nhận trong dư luận phê bình đánh giá tuy rất chung,
nhưng khá tinh về nội dung và phong cách thơ Xuân Diệu, một hồn thơ “thiết
tha, rạo rực, băn khoăn”. Song riêng về hình thức, các ông chỉ tập trung giới
thiệu về các thể thơ đã định thể và hẹn “một dịp buồn rầu hơn chúng ta sẽ
thảo luận kỹ về luật Thơ Mới, về những vần gián cách, vần ôm nhau, vần hỗn
tạp, về cú pháp và nhiều rắc rối khác nữa”?!
Sau, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, Nxb Tân
Dân 1942, cũng đã có những nhận xét xác đáng về Xuân Diệu: “Xuân Diệu là
4
người đem đến cho thi ca Việt Nam nhiều cái mới nhất”. “Xuân Diệu mới
nhất, đằm thắm và nồng nàn nhất trong tất cả Thơ Mới”. Một trong những cái
mới của thơ Xuân Diệu là cái vẻ “ngô nghê”, và “tây” mà sau này nhiều
người tán đồng. Dùng chữ, dùng lời một lối “cách mệnh, mới đầu người đọc
Tổng hợp Hà Nội, 1995 có bàn tới vấn đề ngôn ngữ trong thơ Xuân Diệu
trước 1945.
Luận án PTS Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kì trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945 , của Lê Quang Hưng, Đại học Sư phạm HN,
1996, đã phân tích được mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
trong sáng tạo thơ ca của Xuân Diệu. Công trình đã đem lại cho ta một cái
nhìn chi tiết hơn, hệ thống hơn về thơ Xuân Diệu.
Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 19321945 của Lê Tiến Dũng , Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2004, đã phân
tích, làm rõ được những cách tân nghệ thuật đặc sắc trong thơ Xuân Diệu giai
đoạn 1932- 1945
Luận văn Th.S Phong trào Thơ Mới từ Thế Lữ đến Xuân Diệu, của
Triệu Thị Thu, Đại học Sư phạm HN, 2005, đã làm rõ những cái mới trong
thơ Xuân Diệu so với những nhà Thơ Mới cùng thời.
Có thể thấy, Xuân Diệu là một mảnh đất hấp dẫn cho nhiều nhà nghiên
cứu và sẽ còn nhiều vấn đề được khai thác và tìm hiểu ở tác giả này qua
những tác phẩm của ông. Có điều, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình
nào trình bày được một cách trọn vẹn ngôn ngữ nghệ thuật thơ Xuân Diệu
giai đoạn trước Cách mạng tháng 8/1945, thường mới chỉ dừng lại ở những
lời nhận định, thẩm bình mà chưa đi sâu phân tích nội dung một cách hệ
thống. Trong các bài viết về ngôn ngữ thơ, các nhà nghiên cứu có nhắc đến
việc tổ chức từ ngữ trong thơ, đặc sắc nghệ thuật...song còn nhiều tản mạn,
chưa có tác giả nào đặt vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật như một đối
tượng độc lập, hoàn chỉnh. Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu
về thơ Xuân Diệu, thêm nữa là những ý kiến nhận định về những đặc sắc
trong ngôn ngữ thơ Xuân Diệu, chúng tôi đã triển khai tìm hiểu hệ thống
6
ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ thi sĩ một cách lôgic, khoa học, trên tinh thần
thái độ làm việc nghiêm túc.
gợi hình gợi cảm để tạo nên một phong cách đặc trưng riêng biệt.
- Khảo sát cách tổ chức câu thơ và giọng điệu trong thơ Xuân Diệu.
Khóa luận chỉ rõ những dạng thức câu thơ tiêu biểu, đưa những nhận định về
các vấn đề thanh điệu, vần điệu, nhạc điệu, nhịp điệu trong 97 bài qua hai tập
thơ của Xuân Diệu.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Về đối tượng, khóa luận nghiên cứu những tác phẩm thơ Xuân Diệu
sáng tác thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Người viết dựa vào hai
tập thơ: tập Thơ Thơ, ( Nxb Đời nay năm 1938), khảo sát 46 bài trên tổng số
46 bài thơ; tập Gửi hương cho gió (Nxb Thời Đại 1945), khảo sát 51/51 bài
thơ. Tổng cộng 97 bài thơ.
Những sáng tác thuộc các thể loại khác như văn xuôi, ký, các bài báo,
các tác phẩm thơ... xuất bản sau năm 1945 của Xuân Diệu không thuộc phạm
vi nghiên cứu của khóa luận. Khóa luận cũng không coi việc minh định những
vấn đề còn tồn nghi về mặt thuật ngữ là đối tượng cần phải đi sâu phân tích.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình làm bài khóa luận, để làm rõ vấn đề, thực hiện các
nhiệm vụ đã trình bày, người viết đã sử dụng linh hoạt các phương pháp
nghiên cứu:
Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật trong
thơ Xuân Diệu là một chỉnh thể, được cấu thành từ nhiều chất liệu khác nhau.
Bài nghiên cứu luôn bám sâu vào những thành tố tạo nên chỉnh thể và cấu
trúc nên nó. Mọi đối tượng, vấn đề khảo sát được người viết đặt trong tương
quan hệ thống, trong quy luật cấu trúc này.
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Thao tác cơ bản, thực hiện xuyên
suốt trong quá trình làm khóa luận. Phương pháp phân tích tác phẩm là
phương pháp cơ bản nhất, làm cơ sở cho việc nhận định, đánh giá, bất kì lĩnh
vực nào của văn học trong khi nghiên cứu. Do mục đích của đề tài nên mức
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGÔN NGỮ THƠ XUÂN DIỆU
1.1. Cơ sở khách quan
1.1.1. Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật Thơ Mới
1.1.1.1. Ngôn ngữ Thơ Mới mang đậm dấu ấn của chủ thể trữ tình
Nếu như giai điệu, âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường
nét là ngôn ngữ của hội họa; mảng khối là ngôn ngữ của kiến trúc thì ngôn
ngữ là chất liệu của tác phẩm văn chương. Và ngôn ngữ thơ là hóa công của
người nghệ sĩ. Mỗi chữ trong thơ đều phải là sự vang vọng từ tâm hồn thi
nhân. Xét về bản chất, thơ trữ tình là phương thức biểu hiện trực tiếp các
trạng thái cảm xúc và suy tư của nhà thơ trước các hiện tượng đời sống. Nó đã
được khẳng định là “vương quốc chủ quan” (Biêlinxki), là “sự biểu hiện và
cảm thụ của chủ thể” (Hêghen). Tuy nhiên không phải lúc nào đặc trưng này
của thơ cũng được bộc lộ rõ.
Trong tiến trình văn học dân tộc, thơ trữ tình đã có bề dày lịch sử gắn
với dòng chảy bốn ngàn năm của thơ trữ tình dân gian và hàng ngàn năm của
thơ trữ tình trung đại. Song thơ trữ tình dân gian là sản phẩm của tập thể, hiển
nhiên yếu tố chủ quan bị triệt tiêu. Chủ thể trữ tình thường xuất hiện qua cách
xưng hô phiếm chỉ như: anh – em, thiếp – chàng, mình – ta... Ở thơ trung đại,
chủ thể trữ tình ít khi xuất hiện trực diện mà thường ở trạng thái vô nhân xưng
dẫu tâm trạng được nói đến là của một cá nhân. Lời thơ như là “không của ai
cả” (Trần Đình Sử). Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ siêu cá thể theo qui luật đối,
niêm, vận… Bút pháp thơ trung đại mang tính chất gián tiếp đầy ngụ ý, kí thác.
Chỉ đến Thơ Mới, dòng ý thức chủ quan của chủ thể được bộc lộ một
cách trực tiếp. Trước hết nó thể hiện ở sự tự khẳng định của ý thức cá nhân.
Có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử văn học, ý thức cá nhân được bộ một
cách đầy đủ. Trong rất nhiều biểu hiện của ý thức cá nhân, cái tôi chủ thể Thơ
Mới khát khao bộc lộ “thành thực” cảm xúc, được nói lên “sự thật” của tâm
hồn bằng tiếng nói riêng của mình. Các nhà Thơ Mới đã lấy cái tôi – một cái
(Trả lời – Thế Lữ)
11
Từ sự mở đường của Thế Lữ, các nhà thơ mới sau này tiếp tục trải lòng
mình. Xuân Diệu cũng say sưa khẳng định:
Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
Để linh hồn ràng buộc với muôn dây
Hay chia sẻ bởi tình yêu mến
(Cảm xúc)
Ở đây hình thành mối quan hệ giữa nhà thơ và cái đẹp. Nhà thơ là
người sở hữu cái đẹp:
Nhà thi sĩ nâng niu bầu cảm xúc
Của trời mây đúc lại mấy lời hoa
(Trả lời – Thế Lữ)
Hồn trăng gió hãy nghe chàng kể lể
Hồn của người là hồn của người thơ
(Mai sau – Huy Cận)
Ý niệm sở hữu qua cách biểu hiện trên khoác lên mọi sự vật hiện tượng
màu sắc chủ quan của chủ thể trữ tình. Ở Xuân Diệu, cái tôi Thơ mới không
dè dặt, bóng gió như trước nữa. Ta bắt gặp một cái tôi lồ lộ với nỗi đam mê
mãnh liệt, một tấm lòng “ân ái đa tình”.
1.1.1.2. Ngôn ngữ Thơ Mới tràn đầy cảm xúc, coi trọng nhạc tính
Bản chất của thơ trữ tình cho phép chủ thể bộc lộ một cách trực tiếp cảm
xúc, tâm trạng. Tuy nhiên dưới thời trung đại nét bản chất này của thơ trữ tình
chưa có điều kiện để bộc lộ. Với quan niệm “nói chí”, “tỏ lòng”, thơ trữ tình
trung đại hướng người đọc vào một miền lý tưởng, hoài bão, điều họ muốn bộc
lộ là cảnh ngộ, là vị thế của mình, qua đó tâm trạng được kí thác. Trần Đình Sử
cho rằng bài Đêm thu của Nguyễn Du “nổi bật kiểu trữ tình này”:
cung bậc.
Có khi là những từ ngữ diễn tả nỗi buồn nhẹ mà man mác bâng khuâng:
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng – Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn (Thế Lữ);
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều – Lòng không sao cả hiu hiu khẽ buồn (Xuân
Diệu); Gió theo lối gió mây đường mây – Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
(Hàn Mặc Tử)... Có khi là những từ ngữ thể hiện nỗi buồn đến độ nhức nhối,
13
đau đớn: Tiếng gà gáy buồn như máu ứa – Chết không gian khô héo cả hồn
cao (Xuân Diệu); Trời ơi chán nản đương vây phủ - Ý tưởng hồn tôi giữa cõi
tang (Chế Lan Viên).
Năng lượng cảm xúc trong ngôn ngữ dồi dào khiến các nhà thơ mới
phá tung những khuôn hình chật hẹp và gò bó của câu thơ, nhịp thơ trung đại.
Kiểu câu thơ “ý tại ngôn ngoại” không còn phù hợp cho “cảm xúc tràn bờ”
của các nhà thơ mới. Câu thơ không còn gò theo khuôn hình cố định mà trở
thành dòng tâm trạng, nó tuôn chảy theo cảm xúc; nhịp thơ chảy tràn qua các
dòng thơ:
Tôi muốn sống cuộc đời thi sĩ, để
Dốc chén mơ màng nhưng chỉ thấy chua cay
(Lựa tiếng đàn – Thế Lữ)
Ngôn ngữ thơ trung đại đạt đến độ tinh tế, vi diệu trong cảm nhận thị
giác và thính giác của chủ thể trữ tình. Trong khi ngôn ngữ Thơ mới đã làm
giàu có hơn nguồn cảm xúc đó. Các nhà Thơ mới đã “Sống toàn tâm và thức
nhọn các giác quan” để cảm nhận cuộc sống và những rung động của tâm
hồn. Đặc biệt, các nhà Thơ mới rất coi trọng nhạc tính của ngôn ngữ thơ;
dùng nhạc thơ để biểu hiện tiếng “nhạc lòng”.
Xuân Diệu đã lấy câu thơ nổi tiếng của Baudelaire: “Les parfums, les
couleurs et les respondent” (Những mùi hương, những màu sắc,và những âm
thanh đáp ứng với nhau) làm đề từ cho bài thơ Huyền diệu. Sự bùng nổ cảm
dụng chủ yếu thanh bằng).
Trong Đàn ngọc, Hàn Mặc Tử lại tạo nhạc thơ bằng cách kết hợp các
từ láy có cung bậc thanh điệu khác nhau để diễn tả những thái cực của “khúc
nhạc lòng” dâng cao hoặc trầm lắng:
Nàng! Lạy Nàng! Hãy nghe tôi cầu khẩn:
Hãy khoan tay cầm lại trí tương tư
Đang chờn vờn trong nguồn sáng ngất ngư
Đang lướt mướt ở trong màu hoa lệ
15
Tiếp thu phương Tây, các nhà Thơ mới chủ trương một quan điểm mở
giới hạn “vô biên và tuyệt đích” cho thơ và giải phóng mọi giác quan để cảm
nhận thế giới. Ngôn ngữ Thơ mới cũng phá tung ước lệ cổ điển để biểu lộ
những cung bậc tận cùng của cảm xúc.
Phong trào Thơ mới đã làm một cuộc cách mạng trong thi pháp và tư
duy thơ, đã đưa ra một cái nhìn cá thể hóa về thiên nhiên, tạo vật thông qua
cái tôi chủ thể trữ tình” (Phan Cự Đệ). Thơ mới đã mở ra “một thời đại trong
thi ca” (Hoài Thanh), mở đầu cho sự phát triển thi ca Việt Nam hiện đại. Sự
cách tân ngôn ngữ Thơ mới đã góp phần làm nên một cuộc cách mạng thơ ca
(1932 -1945). Chính đặc điểm ngôn ngữ của Thơ Mới thời kì này chính là cơ
sở khách quan quan trọng làm nền tảng cho việc hình thành ngôn ngữ thơ
Xuân Diệu. Lịch sử phát triển của Thơ mới chính là quá trình phát triển của
cái tôi tiểu tư sản trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Xuân Diệu trở thành
đỉnh cao của phong trào Thơ mới ở độ tròn đầy, sung mãn nhất bởi đây là
người có ý thức cao về cá nhân, dám sống thành thực với cái tôi cá nhân và
nhiệt tình phơi trải tấm lòng khát khao hưởng thụ trần tục với người đời –
“nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ Mới”.
1.1.2. Ảnh hưởng từ nền văn học phương Tây
Trong vòng gần mười năm đầu thế kỷ XX (1932- 1945) các nhà thơ
hóa phương Tây ngay từ nhà trường, làm nên một thứ nhân tố mới hình thành
trong xã hội. Nhắc đến Xuân Diệu là nhắc đến con người của ham muốn say
đắm muốn sống hết mình. Chỉ cần đọc một câu thơ: “Anh nhớ tiếng. Anh nhớ
hình. Anh nhớ ảnh - Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi!”, đã cảm được cái sự
nồng nàn của nó…Người ta đã biết ngay nó không thể có ở nhà thơ cổ điển,
nó phải thuộc về một nhà thơ hiện đại. Ảnh hưởng từ trường phái thơ tượng
trưng, hết sức đề cao quan hệ tương giao giữa các giác quan cùng tính tạo
nhạc của thơ và mài sắc các giác quan để cảm nhận và diễn tả được những
biến thái tinh vui nhất của tạo vật và lòng người, thi sĩ cảm thụ thế giới bằng
tất cả mọi giác quan và phát huy mối tương giao giữa các giác quan khi cảm
thụ thế giới. Những quan niệm của phái tượng trưng về cảm giác cái tôi cá
nhân đã in đậm nét trong các bài thơ Huyền diệu, Nguyệt cầm của Xuân
17
Diệu. Nhà thơ còn tiếp thu tính nhạc điệu, cái tiên nghiệm, tinh thần âm nhạc
của thơ tượng trưng.
Sớm thấm nhuần nền văn hoá phương Tây, Xuân Diệu nhìn đời như
một cái gì trôi chảy mà mình không thâu tóm, thì nó sẽ bay biến. Từng biểu
hiện nhỏ của cuộc sống được ông chắt chiu góp nhặt. Thấy cái gì mới cũng
hồi hộp, nhận được cái gì cũng biết ơn, và làm được cái gì thêm cho đời, ông
cũng sẵn sàng. Tuy sống cách xa nhau một thế kỉ và thuộc hai dân tộc khác
nhau nhưng trên bối cảnh xã hội có phần tương đồng nên họ mang tâm trạng
giống nhau. Đó là tâm trạng của những người trí thức tiểu tư sản trước những
biến đổi lớn lao của xã hội.
Đơn cử một ví dụ cụ thể, trong Sự uyên bác với việc làm thơ, Xuân
Diệu viết: Bài thơ Yêu của ông vay mượn của ba thi sĩ Pháp. Nhà thơ Pháp
Edmont Haroucourt có bài thơ ngắn rất nổi tiếng Partir, C’est mourir unpeu =
đi là chết ở trong lòng một ít; đúng quá, những đôi lứa muôn đời đứt gan, đứt
ruột phải biệt xa nhau. Khoảng 1934 – 1935, tôi đang yêu bèn vận vào mình
Người ta phụ hoặc thờ ơ chẳng biết
Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt
Tưởng trăng tàn, hoa tạ, với hồn tiên
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Yêu là chết ở trong lòng một ít
Và ở đoạn cuối thứ ba, câu thứ mười ba là câu cuối cùng, láy lại câu
thứ nhất. Và có thể nói một cách chân thật: Charles d'Orléans khi láy lại, đã
tạo ra một nhạc điệu rất hay; tuy nhiên không đắc thế bằng tôi khi láy lại các
câu, vì mùa xuân đang luẩn quẩn, còn tình yêu khi không được chia sẻ, thì
người đang yêu như con tằm rút ruột tự giam thân vướng vít ở trong cái kén
đau khổ bịt bùng" (Sự uyên bác với việc làm thơ, Xuân Diệu)
Có thể thấy, Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây, tự
đổi mới cách tân từ suy nghĩ một cách có ý thức. Ồng có riêng một bài viết
mang tên Tính cách An Nam trong văn chương (báo Ngày nay 28-1-1939 ),
19
ở đó ông nói rằng “Trong lòng An Nam của chúng ta vẫn có những phần,
những ý, những cảm giác mà người Tây có. Xưa kia ta không nói là vì ta
không ngờ; bây giờ cái não khoa học của Âu Tây đã cho biết rằng ta có, vẫn
có đã lâu những của cải chôn giấu trong lòng thì sao ta không nói”. Nhớ lại
khi Xuân Diệu mới xuất hiện, Hoài Thanh thú nhận: “Bây giờ khó mà nói
được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới
giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm
thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần vì
ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng” .
Và ở Xuân Diệu không chỉ có Rimbaud với Verlaine…
Trong cả Thơ thơ lẫn Gửi hương cho gió, còn xuất hiện cái chất
Trung Hoa ở nhiều dạng. Trong vốn từ ngữ, trong cái nhịp thơ tứ tuyệt, và
trong thi liệu :
riêng. Những ảnh hưởng đó thể hiện trong thơ Xuân Diệu như là những thành
tố hợp thành tư duy thơ ông.
1.2. Cơ sở chủ quan
1.2.1. Đặc điểm tình cảm, tâm hồn thơ Xuân Diệu
Xuân Diệu tên đầy đủ là Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 2/2/1916 tại quê
ngoại vạn Gò Bồi, xã Tùng Giản, Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Quê nội ông ở
làng Trảo Nha (nay là xã Đại Lộc), huyện Can Lộc tỉnh, Hà Tĩnh. Cha là Ngô
Xuân Thọ, quê ở Hà Tĩnh vào dạy học và kết duyên với mẹ là Nguyễn Thị
Hiệp. Xuân Diệu học Tiểu học ở quê, sau đó ra Hà Nội học, ông tốt nghiệp kỹ
sư canh nông năm 1943. Xuân Diệu học được ở cha tính cần cù, siêng năng,
kiên trì, lao động nghệ thuật. sống nhiều ở quê mẹ làm phong phú tâm hồn
ông bởi cảnh sắc thiên nhiên rất đẹp.
Trong con người ông có sự chung đúc hai truyền thống quý báu của hai
miền đất nước. Xuân Diệu được kế thừa đức tính cần cù, tinh thần vượt khó,
đáng khâm phục của con người xứ Nghệ, đồng thời được hấp thụ cái nồng
nàn, dạt dào của con người vùng biển đầy nắng gió Bình Định, Quy Nhơn.
Chính thi sĩ đã rất tự hào khi viết bài Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong vào
giữa năm 1960:
21
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Hai phí Đèo Ngang: Một mối tơ hồng.
Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô rang
Đói bao thuở, cơm chia phần từng bát,
Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát
Bình Định xanh ôm bóng tháp Chàm…
Đội ơn thầy, đội ơn má sinh con
Cảm ơn Thầy, vượt Đèo Ngang bất kể
Cảm ơn Má biết yêu người xứ Nghệ
mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cữu, tất cả được diễn
tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lí nhân sinh.
Có thể nói Xuân Diệu là một trái tim lớn, một nguồn tình cảm yêu
đời, yêu cuộc sống trần thế một cách mãnh liệt đến say mê cuồng nhiệt.
Ngay cả khi sắp phải giã từ cuộc đời, thi sĩ vẫn không quên để lại những
vần thơ cảm động:
''Hãy để cho tôi được giã từ
Vẫy chào cõi thực để vào hư
Trong hơi thở chót dâng trời đất
Cũng vẫn si tình đến ngất ngư"
(Không đề)
1.2.2. Quan niệm thẩm mỹ độc đáo của Xuân Diệu
Thế Lữ viết trong Lời tựa cho tập Thơ thơ đầu tay của Xuân Diệu:
“Xuân Diệu là một người của một đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ
của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian; ông đã không trốn
tránh mà còn quyến luyến cõi đời…” Có thể nói, Xuân Diệu là nhà thơ của
trần gian và hiện tại. Trong lúc các thi sĩ Thơ mới, mỗi người tìm một ngả
đường trốn chạy khác nhau khỏi chờ đời, kịch đời thì Xuân Diệu lại chủ
trương chẳng thoát ly đi đâu cả, mà đứng vững trên cõi trần này, bám chặt lấy
23
mỗi phút giây hiện tại mình đang được sống, để tận hưởng. “Xuân Diệu đã
đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới” (Hoài Thanh).
Khi đứng vững trên mảnh đất trần gian, bám chặt vào hiện tại, Xuân
Diệu nhận ra rằng, hạnh phúc trong cuộc đời được kết đọng đầy đủ nhất nơi
tuổi trẻ và tình yêu. Nếu như Chế Lan Viên ghét mùa xuân mà khắc khoải tìm
về “thu trước xa lăm lắm” thì Xuân Diệu lại yêu say đắm mùa xuân bấy
nhiêu: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”. Quan niệm xuân - tuổi trẻ chỉ
có ý nghĩa lúc gắn với tình yêu; tình yêu chỉ thực sự được hạnh phúc đủ đầy