Tìm hiểu giá trị truyện đồng thoại Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 - Pdf 44

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ
TRUYỆN ĐỒNG THOẠI TÔ HOÀI GIAI ĐOẠN
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học trẻ em

HÀ NỘI – 2017


Â

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ
TRUYỆN ĐỒNG THOẠI TÔ HOÀI GIAI ĐOẠN
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học trẻ em

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. TRẦN THỊ MINH


tháng 04 năm 2017
Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hằng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
6. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 5
Chƣơng 1. GIÁ TRỊ NỘI DUNG TRUYỆN ĐỒNG THOẠI TÔ HOÀI
GIAI ĐOẠN TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945................. 6
1.1. Bức tranh thiên nhiên sinh động, phong phú ............................................. 6
1.2. Hiện thực cuộc sống con người................................................................ 13
1.2.1. Bi kịch về cái đói ................................................................................... 13
1.2.2. Cuộc đời lam lũ của người dân quê sau lũy tre làng ............................ 15
1.2.3. Hồi chuông báo động về những tính cách, lối sống đáng phê phán .... 18
1.2.4. Hoài bão về một cuộc sống tươi đẹp, tự do .......................................... 21
1.3. Những tình cảm cao đẹp .......................................................................... 23
1.3.1. Tình mẫu tử ........................................................................................... 23
1.3.2. Tình vợ chồng ........................................................................................ 25
1.3.3. Tình bạn................................................................................................. 27
Chƣơng 2. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRUYỆN ĐỒNG THOẠI TÔ HOÀI
GIAI ĐOẠN TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 .............. 31
2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ................................................................. 31

hội trong giai đoạn này đã làm xuất hiện đông đảo các nhà văn trẻ đi sâu khai
phá, lột tả hiện thực xã hội đương thời với nhiều phương diện, khía cạnh khác
nhau. Tô Hoài là một trong các nhà văn trẻ tiêu biểu ấy. Các chặng đường
sáng tác của nhà văn gắn bó chặt chẽ với từng bước đi và có đóng góp xuất
sắc cho nền văn học hiện đại nước nhà. Thành công trên nhiều thể loại khác
nhau như: truyện ngắn, truyện dài, hồi kí, bút kí, tiểu thuyết… nhưng có thể
nói những sáng tác trong mảng truyện đồng thoại đã gây được tiếng vang lớn
cho Tô Hoài và để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng bạn đọc, nhất là bạn
đọc tuổi thơ. Tuy nhiên, qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng
mảng truyện đồng thoại Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm
1945 vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo và hoàn chỉnh. Vấn đề này vẫn còn
những khoảng trống có thể nghiên cứu, bổ sung đầy đủ hơn. Bên cạnh đó, là
một giáo viên mầm non trong tương lai cùng với lòng say mê văn chương, tôi
muốn thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài này giúp các em hiểu và cảm
nhận được cái hay, cái đẹp cũng như những bài học sâu sắc trong mỗi câu
chuyện đồng thoại.

1


Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Tìm
hiểu giá trị truyện đồng thoại Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945”. Với đề tài này, chúng tôi muốn có được cách tiếp cận đúng đắn
với mảng truyện đồng thoại Tô Hoài đồng thời khẳng định tài năng sáng tạo
của nhà văn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tuy xuất hiện cùng với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam vào
những năm đầu thế kỉ XX và gây được tiếng vang lớn với tác phẩm Dế Mèn
phiêu lưu kí (Tô Hoài) nhưng lúc này truyện đồng thoại chưa được giới lý
luận phê bình đương thời chú ý đến, hoặc có chăng chỉ được nhắc đến như

độc đáo trong văn xuôi Tô Hoài, sáng tác một nhân vật trong thế giới của các
nhân vật nhỏ bé giữa thiên nhiên. Ở ngoài tuổi hai mươi, Tô Hoài bộc lộ khả
năng đột xuất về nhiều mặt. Đó là khả năng hóa thân vào sự sống của nhân
vật và đồng thời đưa lại thế giới nhân vật sự sống của con người” [10,13].
Trong lời giới thiệu cho Tuyển tập Tô Hoài, tác giả Hà Minh Đức đã
bắt đầu từ những nhận xét về tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí: “Chú dế nhỏ bé
mang bao tâm trạng có ý nghĩa xã hội rộng rãi, ước mơ đổi thay hoàn cảnh,
ước mơ về một thế giới đại đồng xa xôi, ở đấy con người được sống trong hòa
bình, bình đẳng. Tác phẩm đã thể hiện được thành công chủ đề xã hội thông
qua câu chuyện về thế giới cỏ cây, loài vật. Những sự việc cụ thể, những mẩu
truyện hồn nhiên với tính chất tuổi thơ trong tác phẩm lại luôn mở ra những
liên tưởng phong phú với người lớn về mặt xã hội” [xem 2].
Khi tìm hiểu về Dế Mèn phiêu lưu kí, tác giả Trần Hữu Tá trong Văn
học Viêt Nam 1945 - 1975, tập II đã viết: “Dế Mèn phiêu lưu kí là một thành
công xuất sắc của Tô Hoài, khẳng định tiếng nói đặc sắc cũng như vị trí văn
học độc đáo của ông trong văn học đương thời cũng như trong lịch sử văn học
lâu dài sau này. Mỗi đối tượng độc giả - người lớn và trẻ nhỏ - đều có thể tìm
thấy ở Dế Mèn phiêu lưu kí những thích thú riêng. Tuổi thơ bị lôi cuốn bởi
cốt truyện lí thú lạ lùng, giàu kịch tính, pha trộn cả hiện thực và huyền thoại,

3


bởi thế giới loài vật bé nhỏ gần gũi: chàng Dế Mèn hùng dũng, đường hoàng
đáng yêu; anh Dế Trũi cần cù, chung thủy; bác Xiến Tóc trầm lặng chán đời;
các chị Cào Cào ồn ào duyên dáng; cô Nhà Trò yếu đuối đáng thương; võ sĩ
Bọ Ngựa kiêu căng ngạo mạn; lão Cóc huênh hoang dở hơi; Ếch Cốm Đại
vương khệnh khạng thông thái giả… ngần ấy con vật, đông đúc nhốn nháo mà
sinh động, quen thuộc đấy mà sao vẫn làm ta ngỡ ngàng” [xem 9].
Tác giả Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại đã góp

- Qua đó, thấy được ý nghĩa của truyện đồng thoại Tô Hoài đối với việc
giáo dục trẻ thơ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Giá trị nội dung của truyện đồng thoại Tô Hoài giai đoạn trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945
- Giá trị nghệ thuật của truyện đồng thoại Tô Hoài giai đoạn trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi khảo sát những tác phẩm sau:
- Dế Mèn phiêu lưu kí, (NXB Kim Đồng, 2001)
- Truyện đồng thoại, (NXB Kim Đồng, 2005)
- Những truyện hay viết cho thiếu nhi, (NXB Kim Đồng, 2012)
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học.
- Phương pháp so sánh văn học.
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Nội dung
của khóa luận được triển khai trong 2 chương:
Chương 1: Giá trị nội dung truyện đồng thoại Tô Hoài giai đoạn trước
Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Chương 2: Giá trị nghệ thuật truyện đồng thoại Tô Hoài giai đoạn trước
Cách mạng tháng Tám năm 1945.

5


NỘI DUNG
Chƣơng 1

Trong bụi
Oanh vàng ríu rít
Đầu nhà
Chim én nhỏ hát hay” [ xem 3]
Không chỉ có trong Dế Mèn phiêu lưu kí, khung cảnh mùa xuân cũng
được hiện nhiều lần trong các trang đồng thoại khác như Dê và Lợn. Bức tranh
xuân đầu tiên xuất hiện khi chú Dê vừa trải qua một biến cố lớn của cuộc đời:
“Cu Xược đã đem mẹ Dê đi chọc tiết làm thịt rồi”. Trong nỗi đau quặn thắt của
Dê, khung cảnh mùa xuân thật ảm đạm, lạnh lẽo: “ Độ ấy đương là mùa xuân.
Nhưng chưa có mưa tới. Cỏ cây đã trút hết lá vàng cho mùa đông năm cũ bây
giờ cây cối đứng đợi nước trời, chưa thể trổ được một tấm lá nhỏ. Các bụi tre
không lá, trơ những cành rong như bộ xương cá. Cánh đồng khát nước , đất thì
nẻ mà cỏ thì cằn” [5,162]. Mùa xuân nơi đây như héo hon, cằn cỗi theo từng
tiếng lòng của Dê. Dê ngao ngán nghĩ về một nơi “Chỉ rặt những cỏ cằn, lá úa,
những sự trói buộc và những thằng Xược quái ác như ở đây” [5,164].
Trước nỗi chán chường ấy, trong lòng Dê nhen nhóm ý tưởng bỏ trại
mà đi để đến một nơi tươi đẹp. Đó chính là: “Ở bên kia đồi, mặt trời hạ
xuống, dáng nắng bừng vàng ánh lên một thung lũng xanh mờ. Ở chỗ ấy, cỏ
hẳn tốt lắm, cỏ hẳn xanh lắm” [5,165]. Khung cảnh mùa xuân trên mảnh đất
mà Dê đang mơ tưởng ở bên kia đồi sao hùng vĩ, nên thơ đến thế. Đó chính là
thời khắc chuyển giao giữa ngày và đêm. Bước chuyển mình ấy đã tạo nên
một bức tranh xuân kì vĩ, căng tràn nhựa sống.
Quyết tâm chạy trốn tới vùng trời mơ ước ấy, Dê vận động người bạn
Lợn Ỉn cùng đồng hành với mình. Khi thuyết phục bạn, một lần nữa, hình ảnh
mùa xuân bên kia đồi lại hiện lên lấp lánh trong mắt Dê: “Chiều hôm qua, tôi

7


nhìn sang thấy ánh nằng bừng trong cỏ lá xanh rờn và nước ao đầm sáng

to bản đều cụp uốn xuống, để lộ ra những cánh hoa màu vàng gắt. Có tiếng vỗ
cánh sè sè của những con ong bò vẽ đen bóng, bay rập rờn trong bụi cây
tranh” [5, 231]. Với các chất liệu tự nhiên như cây, hoa, ong… Tô hoài đã
nhào nặn nên một bức tranh mùa hạ đặc trưng, không bị pha loãng, hòa tan
với bất cứ khung cảnh thiên nhiên nào.
Tiết trời mùa hạ như rũ bỏ hoàn toàn cái nắng, cái nóng vốn có, ngập
tràn không gian hùng vĩ những gió và mây để gọi “mưa ào ạt đến” : “ Mây
đến rồi mây đi, mây đến mây lại đi, các tảng mây chuyển vùn vụt. Ấy thế rồi gió
nổi lên dạt dào trong các lũy tre” [ 5, 236- 237]. Với sự quan sát tỉ mỉ và tài năng
độc đáo của mình, Tô Hoài đã miêu tả bức tranh mùa hạ với tất cả sắc thái đặc
trưng của nó, mang đến cho bạn đọc cảm giác gần gũi cũng như cảm nhận đa
chiều về bức tranh thiên nhiên quen thuộc trong cuộc sống.
Xuân về - hè tới - thu sang, bức tranh mùa thu xinh đẹp dịu dàng
nghiêng mình trong từng trang đồng thoại của Tô Hoài. Ông dẫn người đọc
bước vào những ngày đầu thu trong veo, thơ mộng: “Mùa thu mới chớm nhưng
nước đã trong vắt. Trông thấy cả hòn cuội trắng tinh nằm dưới đáy. Nhìn lại
bên ven sông, phong cảnh đổi thay đủ điều ngoạn mục. Cỏ cây và những làng
gần núi xa luôn luôn mới” (Dế Mèn phiêu lưu kí, trang 53). Trong thế giới
thiên nhiên kì vĩ, tráng lệ của thiên truyện, ta vô tình bắt gặp một ngày chớm
thu trong trẻo đến thế qua hình ảnh dòng nước. Tô Hoài đã đặt một hòn cuội
trắng tinh nổi bần bật dưới đáy để lột tả dòng nước với vẻ đẹp tinh khôi, thanh
khiết ấy. Khung cảnh tươi đẹp ven sông như thổi một làn gió tươi vui vào bức
tranh mùa thu có phần lặng lẽ.
Đôi chân Mèn cứ ngang tàng bước đi mặc cho gió sương có làm bờ vai
rám nắng. Đến một ngày, Mèn ngỡ ngàng nhận ra đất trời lại đã sang thu:
“Chẳng còn mấy ngày nữa thì mùa xuân hết. Rồi mùa hạ qua đi, bây giờ hoa
sen trong đầm nước đã tàn rồi. Lá ngàn xanh ngắt bắt đầu úa đỏ.Trời đã ngả

9


10


Đối lập với những ngày đông lạnh lẽo trong Dế Mèn phiêu lưu kí là
những ngày đông ấm áp đến ngọt ngào trong Võ sĩ Bọ Ngựa: “Một hôm, trời
có nắng. Nắng mùa đông ấm áp, dịu dàng làm sao hai mẹ con hong cánh dưới
mặt trời” [5, 73]. Dưới tiết trời ấy, mẹ Bọ Ngựa đã nhẹ nhàng chỉ ra những
lầm lỗi mà cậu mặc phải trong những ngày mẹ vắng nhà. Bức tranh mùa đông
với : “Ánh nắng rung rinh trong lá cây” [5, 74] như bị nhòe đi trong đôi mắt
ngấn lệ của chú Bọ Ngựa khi đã nhận ra những lỗi lầm của mình. Nhà văn Tô
Hoài đã vẽ nên một khung cảnh mùa đông giản dị mà chất chứa bao tình cảm
cao đẹp, giúp độc giả vừa thưởng thức bức tranh thiên nhiên, vừa chiêm
nghiệm những đạo lí sống ở đời.
Với Đôi Ri Đá, độc giả lại có dịp chiêm ngưỡng bức tranh phong cảnh
mùa đông với một vẻ đẹp rất khác: “Bấy giờ là đầu mùa đông. Ngoài ruộng,
lúa chín vàng hây. Những bông thóc nếp mập và tươi ong óng, trĩu gù lưng
xuống. Màu vàng san sát giải từ cánh đồng làng Nghĩa Đô mênh mông đến
tận bờ tre làng Phú Gia” [5, 92]. Mùa đông trong đoạn văn được khắc họa bởi
vẻ đẹp của cánh đồng lúa chín đang đến độ thu hoạch. Tông vàng chủ đạo
như bao trùm cả đoạn văn, làm nên một vẻ đẹp giàu có, trù phú đối lập với
mảnh đời của các nhân vật trong tác phẩm.
Bên cạnh thiên nhiên bốn mùa tươi đẹp, ta còn bắt gặp trong những trang
đồng thoại của Tô Hoài một thiên nhiên nhuốm màu tâm trạng. Đặt nhân vật
trong không gian bức tranh thiên nhiên phảng phất tâm trạng của mình, Tô Hoài
đã tạo nên một sự liên tưởng gần gũi, gắn bó giữa thiên nhiên và con người. Ta
bắt gặp sự liên tưởng ấy trong các truyện đồng thoại của ông khi nhà văn đặt các
nhân vật vào những hoàn cảnh quyết định số phận, sự đổi thay cuộc đời.
Khát vọng được ra đi, khám phá những điều kì thú của thế giới đó đây
ngày một lớn dần trong Dế Mèn sau cuộc trở về từ thế giới loài người. Đưa
đôi mắt khát khao, cháy bỏng hướng ra xa, Mèn cảm thấy thiên nhiên thật bao

xám mờ những đám gốc rạ và gốc cỏ của trẻ chăn trâu đã nhổ lên, chất đống,
để đốt sưởi. Đám khói cỏ xanh ngắt trong vòm trời gió buốt, càng đượm vẻ

12


thê lương” [3, 92]. Khung cảnh thiên nhiên như thay Dế Mèn nói lên nỗi lòng
đau đáu về người em Dế Trũi. Không biết giờ này Trũi đang lưu lạc nơi
phương trời nào? Trũi có được bình an hay đang là kẻ tù binh khốn khổ? Trũi
và Mèn bao giờ mới có ngày hội ngộ? Tất cả nỗi niềm ấy cứ khắc khoải khôn
nguôi, bao trọn không gian của một ngày đông buồn.
Với sự quan sát tinh tế, tỉ mỉ và tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ,
Tô Hoài đã dẫn các em tới chiêm ngưỡng những bức tranh thiên nhiên bốn
mùa đậm đà phong vị đặc trưng mà nên thơ, sống động; giúp các em cảm
nhận một thiên nhiên trĩu nặng những tâm tư, tình cảm của nhân vật. Những
áng văn miêu tả đó cũng chính là yếu tố làm nên giọng điệu trữ tình trong các
sáng tác của ông đồng thời khẳng định tài năng độc đáo của một nhà văn lớn.
1.2. Hiện thực cuộc sống con ngƣời
1.2.1. Bi kịch về cái đói
Khai thác hình thức đồng thoại, Tô Hoài đã khắc họa một cách chân thực,
đầy ám ảnh bi kịch về cái đói thông qua phận đời của những loài vật trong các
tác phẩm như: Ba anh em, Dê và Lợn, Mèo già hóa cáo, Hai con ngỗng, Dế Mèn
phiêu lưu kí… Trong các tác phẩm ấy, cái đói và miếng ăn tuy là câu chuyện của
loài vật nhưng vẫn nằm trong mạch cảm hứng của con người bởi chúng đã được
nhân cách hóa để trở thành một ẩn dụ của con người trong xã hội.
Cũng như nhiều nhà văn đương thời, Tô Hoài quan niệm miếng ăn “là
thử thách ghê gớm đã phân hóa tính cách theo hai thái cực hoặc mất cả nhân
cách (...) hoặc trở thành những bậc trí thiện” [7, 272]. Chúng ta cùng nhau tìm
hiểu xem Tô Hoài đã miêu tả bi kịch xót xa về cái đói và miếng ăn như thế
nào ở thái cực thứ nhất - Do đói đến nỗi không còn biết trời đất là gì nữa nên

xuyên uống nước lã. Từ việc miêu tả sự gian nan tranh đấu để kiếm miếng ăn
của loài chuột, nhà văn đã đưa người đọc tiếp cận hình ảnh ngôi nhà mà ở đó
“chĩnh gạo không, chai nước mắm không”. Sự hiện diện của cuộc sống con

14


người trong trường hợp này có ý nghĩa bổ sung tương hợp để tạo ra những cảm
nhận đa chiều về bức tranh hiện thực mà nhà văn phản ánh.
Nếu như Nam Cao đi sâu khai thác cái đói và miếng ăn làm cho tiêu
mòn đi, hủy diệt đi nhân cách, nhân phẩm, nhân tính con người thì Tô Hoài
lại đóng góp một tiếng nói riêng trong đề tài ấy khi phản ánh tình trạng thảm
hại và nỗi khát khao về một cuộc sống đổi thay qua từng trang đồng thoại. Sự
liều lĩnh trong cơn đói cuồng quay đã khiến cho nhân vật xuất hiện khát khao
được giải thoát để tìm đến một vùng trời mơ ước có ánh sáng tự do và được
no ấm mỗi ngày.
Cuộc sống của hai chú chó trong Ba anh em là những tháng ngày phải hứng
chịu liên tiếp đòn roi: “Bị cùm suốt ngày không được ăn uống gì cả”. Không
muốn chịu đựng thêm những tháng ngày giam hãm và cơn đói hành hạ hơn nữa,
Vện và Đen quyết chí cùng nhau tìm cách ra đi. Chú Dê trong Dê và Lợn cũng
vậy, cái nỗi niềm "ở đây khổ cực" cũng trĩu nặng tâm tư của chú Dê trẻ tuổi. Khi
còn nhỏ Dê đã không được bú mẹ nên gầy loeo khoeo. Dê chán ngán cuộc sống
hiện tại mà mơ tưởng về chân trời khác. “Ở chỗ ấy cỏ hẳn tốt lắm. Cỏ hẳn xanh
lắm. Ở đấy hẳn không có thằng Xược độc địa” [4, 164]. Ý nghĩ nung nấu tâm can
Dê và Dê đã thực hiện cuộc vận động bầy đàn cùng bỏ trốn mà đi. Rồi cuối cùng
cuộc ra đi của nhân vật không thành nhưng nó thật sự đã mang đến tiếng nói phản
ánh hiện thực và khát vọng về một thế giới khác tốt đẹp hơn.
Trong miêu tả, Tô Hoài quan sát loài vật từ góc độ theo những mối
tương quan hình thức, nội dung khác nhau. Nhà văn không miêu tả dài dòng
nhưng nhờ từ ngữ góc cạnh, so sánh thú vị kết hợp với nét sắc sảo mà đã tạo

của Vện và Đen là chuỗi ngày dài hứng chịu nỗi đau về thể xác bởi lão chủ nhà
độc ác: “Lão ta bèn thủ một cái gậy, cốp cho mỗi cậu mười gậy thật đau. Hai con
chó đau quá” [5, 111]; “Lão bổ luôn mấy gậy xuống đầu chó đen” [5, 113]; “Hai
cu cậu định tháo lui thì một trận mưa gậy đã giáng xuống đầu xuống lưng” [5,
115]; “Lão giáng cho mỗi cu cậu một gậy hạng nặng” [5, 119].

16


Dù không phải hứng chịu những trận đòn chí mạng hay sự hành hạ của
cơn đói, cuộc đời của chú Chuột Nhắt trong Đám cưới chuột vẫn trải dài trong
những tháng ngày khổ đau, bất hạnh. Cái chân bị thọt trong buổi lễ vinh quy
đã khiến cậu bị từ hôn. Nanh vuốt của lão Mèo lại cướp đi sinh mạng của mẹ
Chuột khi hắn đến khà khịa về cái chuyện cưới xin đã không thành ấy. Kể từ
đây, cuộc đời cậu bị mất phương hướng. Chú Chuột Nhắt hiện lên với một bộ
dạng thật thảm hại khi cùng với cái chân thọt “người chú gầy tọp lại. Lông tóc
chú rụng nhiều quá, hói hết cả đỉnh đầu” [5, 36]. Người ta không còn nhìn
thấy một vị tân khoa oai phong ngày nào nữa, chỉ thấy hình ảnh một kẻ tật
nguyền cả về thể xác lẫn tâm hồn ôm mộng báo thù.
Bước vào trang đồng thoại Tô Hoài, độc giả còn bắt gặp phận đời long
đong, khổ cực của những cặp vợ chồng, ấy là vợ chồng nhà Ri Đá (Đôi Ri
Đá) và vợ chồng nhà Cóc (Trê và Cóc). Sống dưới một xã hội mà những tai
họa có thể giáng xuống bất cứ lúc nào, hết lần này đến lần khác, vợ chồng Ri
Đá phải rời bỏ chiếc tổ sau bao ngày lam lũ, khổ cực mới dựng được để bay
đi lánh nạn và cuối cùng, họ không bao giờ còn quay trở về đó nữa. Bên cạnh
đó, sống dưới một chế độ mà những áp bức, bất công cứ ngày càng dồn nén,
đè nặng lên đôi vai bé nhỏ, vợ chồng nhà Cóc đã long đong bao ngày theo
kiện để đòi lại những đứa con thơ dại đã từ tay gã Trê độc ác.
Nỗi khổ của người dân đen như trào dâng lên đến đỉnh điểm bởi những
cái chết tức tưởi, kinh hoàng. Ngỗng em (Hai con ngỗng) sống trong một xã

những truyện loài vật này?
1.2.3. Hồi chuông báo động về những tính cách, lối sống đáng phê phán
Truyện đồng thoại Tô Hoài không những khiến người đọc liên tưởng
tới một thế giới loài vật phong phú, đa dạng mà còn tái hiện lại tính cách nhân
vật điển hình, đại diện cho tầng lớp con người trong xã hội với nhiều tình
huống, hoàn cảnh sống phức tạp khác nhau. Đặt vào hoàn cảnh xã hội Việt
Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 bấy giờ, có những tính
cách, lối sống tưởng chừng như vô hại nhưng lại thực sự nguy hiểm, rất đáng

18


lên án và phê phán. Đó chính là lối sống của một hạng người vô vị, đơn điệu,
tù túng trong cái “ao đời phẳng lặng” hay như cách nói của Nam Cao đó là
cuộc sống “chết mòn”.
Gã Chuột Bạch trong Truyện gã Chuột Bạch đã sống một cuộc đời như
thế. Suốt đời chỉ quanh quẩn với việc ăn gạo, đánh võng và ngủ đứng. Đối với
gã mọi việc trên đời chỉ như vậy, không thay đổi, không ồn ào. Gã tự nguyện
chấp nhận cuộc sống an phận thủ thường, tù túng, đơn điệu và tẻ nhạt.
Trước khi được Dê Đen thức tỉnh, Lợn Ỉn trong Dê và Lợn cũng đang
chìm đắm, u mê trong lối sống tai hại trên. Cuộc sống mà Dê Đen cho là chốn
ngục tù thì với Lợn Ỉn nó vẫn rất thoải mái. Có lẽ suốt đời “nhòm nhõm ngơ
ngẩn” trong cái chuồng hôi hám đã khiến Lợn “cứ ăn no là khoái” mà “quên cả
thế nào là nghĩa của hai chữ tự do”. Lợn hào hứng thanh minh với Dê Đen về
cuộc sống “loanh quanh, luẩn quẩn” ngày nào cũng thế mà Lợn đang rất hài
lòng: “Này tôi có thể cạy cửa, leo xuống cầu thang rồi chơi tha thẩn trong sân.
Những lúc cuồng cẳng tôi vẫn leo xuống đi thế luôn” [5, 168]. Lợn bằng lòng
với cuộc sống hiện tại và nếu không có Dê Đen thức tỉnh thì mãi mãi Lợn chỉ
mê muội trong “cái thoải mái có hàng rào đó” mà thôi.
Gã Mèo Mướp trong O Chuột cũng là một hình bóng khác của loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status