Quan niệm nghệ thuật thơ chế lan viên qua phê bình và tiểu luận - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ YẾN CHI

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT THƠ
CHẾ LAN VIÊN QUA PHÊ BÌNH VÀ TIỂU LUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội-2015

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ YẾN CHI

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT THƠ
CHẾ LAN VIÊN QUA PHÊ BÌNH VÀ TIỂU LUẬN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Bá Thành


trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi nhất
để chúng tôi hoàn thành khóa học.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những ngƣời thân, gia đình và bạn
bè – những ngƣời đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt
và hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015
Học viên

Nguyễn Thị Yến Chi

4


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………

3

1. Lí do chọn đề tài……………………………………………..

3

2. Lịch sử vấn đề………………………………………………..

3

3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu khảo sát…………...


1.2.2. Những nhận định khách quan và khoa học về thơ……….... 38
1.2.3. Nghệ thuật phê bình độc đáo…………………………….... 42
Tiểu kết chƣơng 1……………………………………………………... 51
Chƣơng 2: QUAN NIỆM CỦA CHẾ LAN VIÊN VỀ NHÀ THƠ VÀ
NGHỀ LÀM THƠ.................................................................................. 52
2.1. Thi sĩ – thi nhân của thế giới siêu hình...........................................

52

2.2. Thi sĩ – Nhà thơ chiến sỹ…………………………………………. 55
2.2.1. Nhà thơ với vấn đề “Sống và viết” ………………………

55

2.2.2. Nhà thơ là ngƣời nghệ sỹ giàu cá tính sáng tạo…………... 62

5


2.2.3. Nhà thơ – ngƣời nghệ sỹ có tƣ tƣởng lớn, tình cảm lớn…...

67

2.2.4. Làm thơ là một nghề............................................................. 77
Tiểu kết chƣơng 2…………………………………………………….

82

Chƣơng 3: QUAN NIỆM CỦA CHẾ LAN VIÊN VỀ THƠ………


một tấm lòng tha thiết với nghề. Sự nghiệp sáng tác của ông đi qua nhiều
thăng trầm của lịch sử. Nhƣng ở thời điểm nào, dù sáng tác trong hoàn cảnh
nào, những suy tƣ về thơ trong ông vẫn có một vị trí lớn lao. Phát biểu quan
niệm nghệ thuật thơ qua thơ, với Chế Lan Viên là chƣa thể nói hết những ấp ủ
của lòng mình, ông đƣa những quan niệm ấy vào trong những trang phê bình
và tiểu luận sắc sảo, trí tuệ và tài hoa. Song từ trƣớc tới nay, mảng lý luận này
của Chế Lan Viên thực sự chƣa đƣợc giới nghiên cứu đi sâu. Một khối lƣợng
tác phẩm đồ sộ, những đóng góp lớn trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu, lí
luận nghệ thuật của Chế Lan Viên ở đây còn để ngỏ. Vì những lí do trên
chúng tôi lựa chọn đề tài: Quan niệm nghệ thuật thơ Chế Lan Viên qua
phê bình và tiểu luận làm đối tƣợng nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về Chế Lan Viên với vai trò là tác gia lớn của nền văn học
thế kỉ XX, các bài viết và các công trình nghiên cứu tập trung khai thác: con

7


đƣờng thơ Chế Lan Viên (Các tập thơ của Chế Lan Viên và khuynh hƣớng
vận động của thơ ông); phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên; tìm hiểu,
phân tích, bình luận, đánh giá các tác phẩm đặc sắc ở tất cả các thể loại của
Chế Lan Viên; tìm hiểu con ngƣời nhà thơ qua kí ức bạn bè, đồng nghiệp và
ngƣời thân.
Về các tập tiểu luận và phê bình văn học của Chế Lan Viên, chúng tôi
nhận thấy, các nhà nghiên cứu đã quan tâm bình giá, nhận xét ngay từ những
ngày đầu mới xuất bản, song số lƣợng bài viết và công trình nghiên cứu còn
xuất hiện thƣa thớt và chƣa toàn diện. Hầu hết các bài viết chỉ tập trung đến
một vài tập tiểu luận, phê bình đơn lẻ. Giá trị đóng góp của mảng phê bình và
tiểu luận của Chế Lan Viên vì thế cũng chƣa đƣợc nhìn nhận ở tính hệ thống.
Đồng thời quan niệm nghệ thuật thơ trong những bài phê bình và tiểu luận

nhận thấy, qua gợi ý của Lại Nguyên Ân, sự đổi giọng của một nhà thơ để nói
lên quan niệm nghệ thuật của mình qua phê bình và tiểu luận bằng một “cái
tôi biện lý”.
Vẻ đẹp của văn Chế Lan Viên đƣợc Nguyễn Xuân Nam viết năm 1995.
Đọc Chế Lan Viên nhiều lần, Nguyễn Xuân Nam đã phải dừng lại suy nghĩ:
“Làm sao một ngƣời từng viết những vần thơ siêu hình hƣ ảo trƣớc kia lại có
thể viết những trang văn lý lẽ sắc sảo và thắm thiết tình đời đến thế?”[1, tr.
508]. Ông trân trọng những trang văn của Chế Lan Viên trong thời chống Mỹ
và coi đó là những trang văn của một ngƣời “muốn cho thơ văn sát với cuộc
đời hơn, có ích hơn” [1, tr. 509]. Trong bài viết của mình, Nguyễn Xuân Nam
đã nhận diện những đổi thay tích cực về quan niệm thơ của Chế Lan Viên
song nhƣ chính tác giả đã nói ở phần kết luận: “Tôi cứ muốn xem bài viết này
nhƣ một phác thảo về những đóng góp của Chế Lan Viên về lý luận, phê bình
và bút ký” [1, tr. 510], nên ông mới chỉ dừng ở những nhận xét khái quát mà
chƣa đi sâu vào việc làm rõ từng khía cạnh của quan niệm nghệ thuật thơ Chế
Lan Viên qua những trang phê bình tiểu luận.

9


Trong Một phong cách phê bình trực cảm mới (1999) tác giả Hoàng
Nhân có những nhận xét tinh tế về phong cách phê bình của Chế Lan Viên và
cho rằng: “Chế Lan Viên đã tiếp tục một phong cách phê bình trực cảm từ
thời Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam nhƣng hòa nhập nhiều yếu tố tích cực
mới từ sau thắng lợi của cách mạng và bút pháp của một nhà thơ tài hoa của
Điêu tàn (1937), Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa trên đá (1984)”...[1, tr.
518]. Đồng thời Hoàng Nhân cũng có những phát hiện sâu sắc về quan niệm
của Chế Lan Viên đối với nghệ thuật: “Chế Lan Viên yêu cầu cao về nghệ
thuật của tác phẩm văn chƣơng nhằm biểu hiện sinh động nội dung” [1, tr.
521] và mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống : “Sự sống bao giờ cũng cao

chuyên luận của Nguyễn Bá Thành; Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
(2004), chuyên luận của Hồ Thế Hà và Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên (2006),
chuyên luận của Đoàn Trọng Huy.
Nguyễn Bá Thành và chuyên luận Thơ Chế Lan Viên với phong cách
suy tƣởng đã đem đến những nhận định sâu sắc về nghệ thuật suy tƣởng và
suy tƣởng trong thơ Chế Lan Viên. Khẳng định suy tƣởng là một phƣơng thức
biểu hiện của tƣ duy thơ, trong quá trình khai thác chất suy tƣởng trong thơ
Chế Lan Viên qua các thời kỳ, tác giả đã nhận ra sự “phong phú vô biên” của
một hồn thơ tự do, phóng túng. Tìm hiểu những quy luật vận động của toàn
bộ tƣ tƣởng và tình cảm của nhà thơ thể hiện qua tác phẩm, Nguyễn Bá Thành
đã chỉ cho ngƣời đọc thấy, thơ Chế Lan Viên “có một số đã không đi theo con
đƣờng mòn mà thơ ca xƣa nay vẫn đi, tức là con đƣờng: “từ trái tim đi đến
trái tim”. Thơ ông đi theo con đƣờng trí tuệ để đến với trái tim”[46, tr. 198].
Con đƣờng ấy đã là một con đƣờng thơ rất riêng của một quan niệm nghệ
thuật thơ độc đáo đã đƣợc định hình trong suốt hành trình thơ kéo dài hơn nửa
thế kỉ của thơ Chế Lan Viên.
Nhà nghiên cứu Hồ Thế Hà, khi khám phá “Thế giới thơ rộng rinh, kỳ
ảo và nhiều biến hóa của Chế Lan Viên” đã dành cả chƣơng 1 trong cuốn

11


chuyên luận của mình để làm sáng rõ quan niệm nghệ thuật của Chế Lan
Viên. Căn cứ ở thơ viết về nghề và căn cứ ở chất thơ, ở phƣơng thức thể hiện,
ở mối quan hệ giữa chủ thể - khách thể, Hồ Thế Hà trình bày những quan
niệm đặc sắc về nghệ thuật của Chế Lan Viên ở ba mốc thời kỳ đặc biệt: Điêu
tàn, từ Vàng sao hƣ vô đến sao vàng cách mạng và Những lá thơm hái lúc về
già. Đồng thời chuyên luận cũng trình bày khá cụ thể quan niệm về hình thức
nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên. Chế Lan Viên là nhà thơ suy nghĩ nhiều và
sâu sắc về những khát vọng và giá trị vĩnh cửu của cuộc sống cách mạng, của

thơ qua phê bình và tiểu luận của Chế Lan Viên.
- Tuy nhiên, các bài viết chỉ đi vào một khía cạnh nào đó hay dừng lại ở một tập
tiểu luận, phê bình văn học cụ thể mà chƣa đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ, có hệ
thống về toàn bộ hoạt động phê bình, lý luận văn học của Chế Lan Viên cũng nhƣ
hệ thống quan niệm nghệ thuật thơ đƣợc phát biểu qua những trang phê bình
và tiểu luận của Chế Lan Viên.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu khảo sát
3.1. Với đề tài Quan niệm nghệ thuật thơ Chế Lan Viên qua phê bình
và tiểu luận, luận văn tập trung khảo sát 9 tập tiểu luận - phê bình văn học
của tác giả nhƣ sau:
- Kinh nghiệm tổ chức sáng tác, Nxb Thép mới, Hà Nội, 1952.
- Nói chuyện thơ văn (Chàng Văn), Nxb Văn học, Hà Nội, 1960.
- Vào nghề (Chàng Văn), Nxb Văn học, Hà Nội, 1962.
- Phê bình văn học, Nxb Văn học, Hà Nội, 1962.
- Suy nghĩ và bình luận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1971.
- Bay theo đƣờng dân tộc đang bay, Nxb Văn nghệ giải phóng, 1976.
- Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1981.
- Nàng tiên trên mặt đất, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1985.

13


- Ngoại vi thơ, Nxb Thuận Hóa, Huế,1987.
3.2. Bên cạnh đó, luận văn còn khảo sát các bài thơ nghĩ về nghề,
về thơ, văn xuôi, các bài viết đăng báo...của Chế Lan Viên.
4. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra hai mục đích chính khi tiến hành nghiên cứu đề tài
này:
4.1. Tìm hiểu vị trí mảng phê bình, lý luận trong sự nghiệp văn học của
Chế Lan Viên, từ đó khẳng định những đóng góp toàn diện của Chế Lan Viên

các thời kỳ văn học.
So sánh đối chiếu quan niệm nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên và các
tác giả khác cùng thời để thấy những nét độc đáo và riêng biệt.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, tƣơng ứng với các
mục đích nghiên cứu đã nêu trên, luận văn đƣợc triển khai qua ba chƣơng :
Chƣơng 1: Tổng quan về phê bình và tiểu luận trong sự nghiệp văn
học của Chế Lan Viên
Chƣơng 2: Quan niệm của Chế Lan Viên về nhà thơ và nghề làm
thơ
Chƣơng 3: Quan niệm của Chế Lan Viên về thơ

15


Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ PHÊ BÌNH VÀ TIỂU LUẬN TRONG SỰ NGHIỆP
VĂN HỌC CỦA CHẾ LAN VIÊN
1.1.

Sự nghiệp văn học của Chế Lan Viên
1.1.1. Thơ ca

Suốt hành trình thơ của mình, bằng tài năng và bản lĩnh của ngƣời nghệ
sỹ hết lòng vì nghệ thuật, Chế Lan Viên thực sự đã chinh phục đƣợc những
đỉnh cao của các thời kỳ thi ca. Điêu tàn xuất hiện giữa đồng bằng Thơ mới
(1932-1945) “sừng sững nhƣ một tháp Chàm chắc chắn và lẻ loi bí mật”
(Hoài Thanh). Cách mạng đến, hƣớng ngƣời thi sĩ đi từ “thung lũng đau
thƣơng đến cánh đồng vui”, tiếng thơ cô đơn lạc lõng một thời nay cất cao
thành lời thức tỉnh, “không chỉ ơ hời mà còn đập bàn, quát tháo, lo toan”

để “Nhớ lấy để trả thù”. Có thể nói, sống chân thành, sâu sắc với hiện thực
đời sống kháng chiến chống Pháp của dân tộc, Chế Lan Viên đã đƣa thơ ông
thoát khỏi dĩ vãng buồn thƣơng để trở về với cuộc đời hiện tại trong niềm tin
yêu.
“Khi đã có hƣớng rồi”, Chế Lan Viên nhanh chóng khẳng định mình
nhƣ một thi sĩ tiên phong. Năm 1960, mừng Đảng ta 30 tuổi, Chế Lan Viên
xuất bản tập Ánh sáng và phù sa với 69 bài.
Sự thật của cuộc sống và chiến đấu lớn của nhân dân đã in bóng trong
từng trang thơ của Chế Lan Viên sống động, chân thực. Tập thơ phản ánh,
ngợi ca cuộc sống mới đang đổi thay trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, góp
thêm tiếng nói đấu tranh cùng miền Nam trong lửa đạn. Tiếng nói vƣợt lên
“nỗi đau” cũ để tiếp nhận “niềm vui” mới đƣợc cái tôi trữ tình Chế Lan Viên
thể hiện sâu sắc, có chiều sâu của một cái tôi giàu suy tƣ, chiêm nghiệm. Chế
Lan Viên đã trở thành ngƣời thi sĩ ca hát vẻ đẹp muôn màu sắc của thời đại

17


mới, say sƣa, mê mải lƣợn trăm vòng trên tổ quốc thân yêu để thu nhận
“Ngàn núi trăm sông diễm lệ” vào hồn thơ đang căng tràn sức sống của mình.
Nối tiếp Ánh sáng và phù sa, những tập thơ Hoa ngày thƣờng, chim
báo bão, Những bài thơ đánh giặc và Đối thoại mới lần lƣợt đƣợc ra đời trong
những năm kháng chiến chống Mỹ hào hùng và quyết liệt.
Hoa ngày thƣờng, chim báo bão xuất bản năm 1967, gồm 49 bài thơ.
Chùm thơ Hoa ngày thƣờng giản dị, gần gũi và giàu chất sống. Với những Bé
Thắm đàn, Nhớ em nơi huyện nhỏ, Con đi sơ tán xa…ngƣời đọc gặp một Chế
Lan Viên cởi mở với những đề tài riêng tƣ mà đời thƣờng, mộc mạc. Những
lời ru tha thiết nhƣ Con cò, giọng điệu bi bô khi Con tập nói…là cuộc sống, là
chất sống ngời lên vƣợt qua sự hủy diệt khốc liệt của chiến tranh. Tập thơ
không dừng ở đó, bên cạnh Hoa ngày thƣờng là cánh Chim báo bão. Thơ Chế

Tự nguyện đem thơ phục vụ lợi ích cách mạng, Chế Lan Viên vì thế
cũng đã dứt khoát lựa chọn sứ mệnh mới cho thơ: “Thơ cần có ích cho cuộc
đời, cho nhân dân”. Với quan niệm ấy, thơ Chế Lan Viên đã đi qua hai cuộc
kháng chiến thần thánh của dân tộc và thực sự trở thành con đẻ của thời đại,
của Tổ quốc, của Nhân dân.
Cũng nhƣ bao nhà thơ khác, Chế Lan Viên đã viết về Bác Hồ với niềm
cảm hứng mãnh liệt. Hoa trƣớc lăng ngƣời (1976) với 14 bài thơ làm rải rác
trong khoảng hai mƣơi năm là tấm lòng của nhà thơ đối với vị cha già kính
yêu của dân tộc. Bằng tất cả sự kính trọng, yêu thƣơng, biết ơn vô hạn, thơ
Chế Lan Viên đã đem đến cho ngƣời đọc một bức chân dung bằng thơ giản dị,
thanh cao, thiêng liêng, vĩ đại về Ngƣời.
Sau năm 1975, thơ Chế Lan Viên kết tinh trong những tập thơ Hái theo
mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986).
Khép lại một giai đoạn thơ kháng chiến, Ngày chiến thắng và Thơ bổ
sung trong tập Hái theo mùa đƣợc Chế Lan Viên viết trong những ngày náo
nức của tháng 5 năm 1975, có ý nghĩa nhƣ khúc ca khải hoàn trong ngày đất

19


nƣớc trọn niềm vui. Bên cạnh đó Hái theo mùa còn là những xúc cảm đời
thƣờng với hơn 40 bài tứ tuyệt giàu sức gợi. 15 bài thơ trong tập Hoa trên đá
là một chất thơ mới của nhà thơ đang tìm hƣớng đi mới cho thơ, đang muốn
vƣợt lên chính mình để làm mới thơ. Qua giông bão chiến tranh, sau những
bài thơ hùng tráng, giờ đây hồn thơ Chế Lan Viên chín lại một lần nữa trong
những khúc trữ tình không còn trẻ trung nhƣng sâu lắng, tha thiết, thấm tận
đáy lòng.
Ở các tập thơ Hoa trƣớc lăng Ngƣời, Hái theo mùa và một phần Hoa
trên đá, Ta gửi cho mình, thơ Chế Lan Viên vẫn là tiếng kèn xung trận, tiếng
hát cất cao ngợi ca, cổ vũ nhân dân. Nhƣng càng về sau đặc biệt trong ba tập

ca nói chung là sự xúc động chân thành của cảm xúc. Và thơ Chế Lan Viên
cũng không nằm ngoài mạch nguồn chung ấy.
Đọc thơ của Chế Lan Viên, ngƣời đọc cảm nhận sâu sắc về một nhà thơ
với ý thức trách nhiệm lớn lao. Trách nhiệm với thơ, trách nhiệm với đời,
trách nhiệm với lịch sử và thời đại. Sáng tạo nghệ thuật bằng cả sức lực và trí
tuệ, thơ Chế Lan Viên thực sự là “Trái tim anh móc lại - Cho đời”, để anh
đƣợc tồn tại mãi giữa cõi đời, “Nhƣ ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên” (Từ thế
chi ca).
1.1.2. Văn xuôi dưới dạng bút kí
Nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân trong bài viết Giọng văn xuôi
tiểu luận Chế Lan Viên đã khẳng định: “Có một Chế Lan Viên – văn xuôi –
bên cạnh một Chế Lan Viên – thơ” [1, tr. 511]. Cùng với thơ, văn xuôi bút kí
Chế Lan Viên đã ghi lại sâu sắc sự vận động trong tƣ tƣởng của nhà thơ suốt
hơn 50 năm cầm bút; trải qua biết bao thăng trầm, biến động của lịch sử để đi
từ sầu bi huyền bí đến nơi có “Ánh sáng và phù sa” chan hòa, để cất cao tiếng
nói ngợi ca, cổ vũ, khích lệ, động viên. Cùng với thơ, văn xuôi, bút kí đã góp
thêm những trang văn làm phong phú thêm sự nghiệp văn chƣơng vốn rất đa
dạng và giàu sức hấp dẫn của Chế Lan Viên.

21


Khi Cách mạng tháng Tám diễn ra, Chế Lan Viên vừa tròn hai mƣơi
lăm tuổi, nhƣng đã cảm thấy già đi vì mang một gia tài đồ sộ của hàng triệu
nỗi buồn. Tác giả đã có lúc tự thú nhận: “Nỗi buồn ghê gớm nhất, những hƣ
vô sâu thẳm nhất để lại cho tôi, chính do các nền tôn giáo”[85, tr. 612]. Tập
Vàng sao ra mắt bạn đọc gồm các sáng tác của Chế Lan Viên từ 1937 đến
1942. Xuyên suốt Lệ (Tựa chung cho Vàng sao và Gai lửa), Chiều tin tƣởng,
Đêm giao thừa, Tạp bút, Trốn lửa, Bỏ trƣờng mà đi, Sõi tối 1, Vàng sao…là
một Chế Lan Viên với tiếng nói thiết tha ca tụng cái đẹp linh thiêng, một Chế

Thơ ngả vào lòng Mẹ…Nƣớc thiên đàng đã đến gần”[86, tr. 773]. Chàng
Phan Thơ ấy, chàng Phan Thơ có thực ngoài đời và chàng Phan Thơ trong
tâm tƣởng, cô đơn, hoảng loạn, bế tắc trƣớc một câu hỏi lớn đầy hứng khởi và
cũng đầy đau đớn: “Tôi là một Ngƣời có thể đƣợc yêu không?”[86, tr. 777].
Vàng sao và Gai lửa đã cùng Điêu tàn đánh dấu một giai đoạn sáng tác
đặc biệt của Chế Lan Viên – giai đoạn có thể xem nhƣ cả cuộc sống và sáng
tác đều thuộc về thế giới của những hƣ vô và siêu hình.
Đến với Cách mạng, Chế Lan Viên dứt khoát từ bỏ những hƣ vô, siêu
hình, đem ngòi bút và chính cuộc đời mình phụng sự nền văn nghệ kháng
chiến. Từ chiến trƣờng đầy ác liệt, từ những nỗi đau chiến tranh chất chứa đầy
máu và cả sự hy sinh, những áng văn bất hủ đã đƣợc viết lên. Thăm Trung
Quốc, Những ngày nổi giận, Giờ của số Thành đƣợc viết từ năm 1963 đến
năm 1976 đã phản ánh thật rõ ràng và đậm nét ý chí quyết tâm đánh giặc
ngoại xâm của dân tộc ta, lòng căm thù giặc cũng nhƣ những phẩm chất anh
hùng của ngƣời chiến sỹ trong công cuộc đấu tranh để gìn giữ non sông của
ông cha ngàn đời.
Thăm Trung Quốc, tập bút kí xuất bản năm 1963 gồm 6 bài viết với
nhiều cảm xúc. Trƣớc hết là niềm vui hân hoan của tác giả khi tận mắt chứng
kiến sự đổi thay của đất nƣớc bạn trong cuộc sống mới tƣơi đẹp (Cảnh xƣa
trong đời mới , Về thăm những nơi chiến đấu cũ). Tình hữu nghị bền vững
giữa hai dân tộc đƣợc tác giả thể hiện sâu sắc trong Sức mạnh và tình yêu.
Thầy giáo Lƣu Thiếu Kỳ ở mỏ An Nguyên và Gặp đồng chí Hồng Quân ở tỉnh
Cƣơng Sơn là tấm lòng cảm phục của Chế Lan Viên đối với tinh thần đấu

23


tranh cách mạng quyết liệt của nhân dân Trung Quốc. Lời văn giản dị, những
ghi chép tỉ mỉ, chi tiết và đặc biệt là cảm xúc chân thành, mãnh liệt, sâu sa đã
khiến cho tập tùy bút có đƣợc nhiều hấp dẫn từ phía bạn đọc.

làm nên thống nhất. Ngƣời cho chúng ta mƣợn danh hiệu mà thành công trong
chiến dịch, mƣợn tên tuổi Ngƣời mà hoá thân cho cả một đô thành…ở đâu, đi
đến đâu, thấy ảnh Ngƣời là ta rất an tâm. Biết rằng Tổ quốc đã tự do, thống
nhất”[85, tr. 479].
Nếu nhƣ Trên đỉnh Trƣờng Sơn – Trên đỉnh thời gian, Những mùa
xuân truy kích giặc, Bài học mùa xuân…đất nƣớc tự do thống nhất là niềm
tin, là hi vọng thì nay đã trở thành hiện thực. Từ mùa xuân trên đỉnh Trƣờng
Sơn, những mùa xuân truy kích giặc, đến hôm nay, mùa xuân đến “sóng đôi
cùng chiến thắng”, “nhân hậu”, “yêu thƣơng” “nâng sự sống và lòng chúng ta
lên hoàn mỹ”[85, tr. 518]. Chế Lan Viên say sƣa với chiến thắng, niềm vui
lớn hiện hữu, ngập tràn khắp muôn nơi trên đất nƣớc này. Những bài bút ký
của Chế Lan Viên đã ghi lại chân thật và đẹp đẽ khoảnh khắc lịch sử thiêng
liêng ấy của đất nƣớc.
Cũng nhƣ thơ, những trang văn xuôi, bút ký của Chế Lan Viên đã thể
hiện sâu sắc những bƣớc đƣờng tƣ tƣởng của ngƣời nghệ sĩ. Từ cái tôi cô đơn,
bế tắc, siêu hình đến cái tôi hồn hậu, mê say chan hoà với cuộc sống và chiến
đấu của dân tộc, mỗi trang văn xuôi bút ký của Chế Lan Viên đều thấy sự tha
thiết, sự nặng lòng của ngƣời nghệ sỹ đối với cuộc đời.
1.1.3. Phê bình và tiểu luận
Hoạt động nghệ thuật trong ý thức của Chế Lan Viên là một hoạt động
đòi hỏi trách nhiệm lớn lao ở ngƣời nghệ sỹ. Nghiêm khắc với nghề và
nghiêm khắc với chính mình, mỗi trang viết của Chế Lan Viên là sản phẩm
của biết bao tìm tòi, nghiên cứu, suy ngẫm, trải nghiệm và chiêm nghiệm.
Yêu nghệ thuật nhƣ một lý tƣởng, Chế Lan Viên sáng tác nghệ thuật với một
hệ thống quan niệm chặt chẽ. Hệ thống quan niệm ấy đƣợc thể hiện qua thơ,

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status