TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
***
NGUYỄN THỊ THUẤN
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG
TÁC PHẨM NGỒI KHÓC TRÊN CÂY
CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ KIỀU ANH
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
của cô giáo Nguyễn Thị Kiều Anh.
- Khoá luận không sao chép từ các tài liệu có sẵn.
- Kết quả nghiên cứu không trùng với kết quả nghiên cứu của bất cứ tác
giả nào khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả khoá luận Nguyễn Thị Thuấn
MỤC LỤC
Mở đầu 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Đối tượng và phạm vi đề tài nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Đóng góp của khoá luận 4
8. Bố cục của khoá luận 5
3.1.2.2. Ngôn ngữ độc thoại 48
3.2. Giọng điệu trần thuật 49
3.2.1. Giọng điệu trữ tình, ngọt ngào 49
3.2.2. Giọng điệu buồn bã, bi quan 52
3.2.3. Giọng điệu hài hước, hóm hỉnh 55
Kết luận 57
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mỗi tác phẩm nghệ thuật được coi là một “đứa con tinh thần” của nhà
văn. Trong quá trình sáng tác, nhà văn đã dồn hết tài năng và tâm huyết của
mình để gia công, trau chuốt cho từng chi tiết trong tác phẩm. Trong đó, nghệ
thuật trần thuật được coi là yếu tố quan trọng, là “sợi chỉ đỏ” dẫn đường để
người đọc đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, giúp độc giả nắm bắt được
quan niệm tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm mà tác giả gửi gắm.
Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật được coi là “chiếc chìa khoá vàng” mở
ra cánh cửa vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, thấy được sự sáng tạo tài tình
của nhà văn. Đây cũng là một trong những yêu cầu đặt ra đối với người
nghiên cứu và những người yêu thích văn chương.
Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn được những độc giả nhỏ tuổi yêu thích
bởi tác phẩm của ông mang đến cho người đọc những tình cảm trong sáng,
hồn nhiên của lứa tuổi mới lớn. Năm 1990, truyện dài Chú bé rắc rối được
Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao giải thưởng “Văn
học trẻ hạng A”. Năm 1995, ông được bầu chọn là nhà văn được yêu thích
nhất trong 20 năm (1975-1995) qua cuộc trưng cầu ý kiến bạn đọc về các
gương mặt trẻ tiêu biểu trên mọi lĩnh vực của Thành Đoàn thành phố Hồ Chí
Nhật Ánh. Dường như truyện này có vẻ nhiều kịch tính hơn. Có những chỗ lúc
đâù làm cho người đọc bi quan, tiếc nuối nhưng rồi lại được giải quyết một
cách có hậu như một sự hoang đường trong cổ tích, có Bụt, có tiên hoá giải
tất cả. Nó đem đến cho ta niềm tin khi mà hi vọng tưởng sắp lụi tàn”.Nhận
xét này khẳng định phong cách văn chương của Nguyễn Nhật Ánh với lối viết
hồn nhiên trong trẻo đã đưa người đọc về gần sân ga tuổi thơ. Đồng thời
khẳng định sự mới mẻ của Ngồi khóc trên cây, tác phẩm mang nhiều éo le,
kịch tính hơn các tác phẩm trước đó của nhà văn.
3
Trong lời giới thiệu sách trên trang web www.lazada.vn nhận định:
“Có thể không ngoa khi nói rằng Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn của tuổi mới
lớn và là nhà văn thành công nhất khi khai thác đề tài hết sức thú vị này.
Nhiều thế hệ độc giả Việt Nam đã lớn lên cùng những trang sách đầy mộng
mơ, hồn nhiên, tươi vui của Nguyễn Nhật Ánh. Người đọc luôn yêu quý và
thán phục ở ông chính là tâm hồn-một tâm hồn luôn tràn đầy năng lượng, hi
vọng và không ngừng yêu thương cuộc đời, con người và tạo vật xung quanh
mình. Tái ngộ độc giả với Ngồi khóc trên cây, Nguyễn Nhật Ánh tiếp tục làm
say mê không biết bao nhiêu độc giả mới lớn bằng một câu chuyện vừa quen
vừa lạ và như thường lệ, luôn đong đầy cảm xúc trong sáng cùng với những
nét vẽ minh hoạ ngộ nghĩnh, đáng yêu của Đỗ Hoàng Tường, nhà văn một lần
nữa tặng đến người đọc một món quà quý giá, giúp người đọc tin tưởng rằng:
điều tốt có thật và luôn tồn tại!”. Lời nhận xét này đã khẳng định giá trị của
tác phẩm là đem lại niềm tin và hi vọng cho con người.
Qua những ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy dù đứng dưới góc độ nào,
các nhà nghiên cứu cũng đi đến khẳng định tài năng, sự độc đáo của nhà văn
qua tác phẩm Ngồi khóc trên cây. Vì vậy, trên cơ sở tiếp thu những ý kiến đi
trước, tác giả khoá luận mong muốn ở một mức độ nhất định sẽ lí giải cụ thể,
hệ thống vấn đề “Nghệ thuật trần thuật trong Ngồi khóc trên cây của Nguyễn
Nhật Ánh”. Qua đó người viết phần nào hiểu sâu hơn giá trị tác phẩm.
của VHTN Việt Nam hiện nay. Thông qua đó, góp phần khẳng định tài năng,
vị trí của nhà văn trong nền văn học mới. Khoá luận cũng sẽ giúp bạn đọc có
cái nhìn sâu sắc, chân thực về nhà văn tài năng này.
5
8. Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của khóa luận gồm 3
chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về trần thuật và hành trình sáng tác
cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh
Chương 2. Điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm Ngồi khóc trên cây của
Nguyễn Nhật Ánh
Chương 3. Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tác phẩm Ngồi
khóc trên cây của Nguyễn Nhật Ánh
6
NỘI DUNG
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẦN THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH
1.1. Khái niệm trần thuật
1.1.1. Thuật ngữ
Trần thuật là phương thức đặc trưng quan trọng không thể thiếu đối với
các tác phẩm tự sự. Ngay từ đầu thế kỉ XX, trần thuật đã trở thành một trong
những vấn đề lý thuyết tự sự học thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu trên thế giới. Song, cho tới nay, ở Việt Nam và trên thế giới xuất
bằng các thuật ngữ cụ thể hơn như: người kể chuyện, điểm nhìn, ngôi kể…
Các quan niệm trên đều khẳng định trần thuật là một khái niệm luôn gắn liền
với bố cục và kết cấu của tác phẩm văn học. Trần thuật chính là cách thức, là
nghệ thuật dẫn dắt, tổ chức kết nối các chi tiết, sự kiện trong tác phẩm. Và khi
ấy nhà văn đã hình thành sợi dây vô hình xâu chuỗi các sự kiện xảy ra trong
tác phẩm. Mặt khác cũng thông qua trần thuật mà tài năng và cá tính sáng tạo
của nghệ sĩ được bộc lộ rõ nhất, bởi một tác phẩm văn học dù được kể như
thế nào: theo trật tự tuyến tính hay phi tuyến tính, theo quá khứ hay hiện tại,
nhanh hay chậm, đứt quãng hay dàn trải liên hồi…thì trần thuật luôn là một
hệ thống, một tổ chức nhất định trong mỗi tác phẩm tự sự.
Lý luận văn học trước đây không quan tâm tới trần thuật, thậm chí còn
xem nó không đặc trưng như miêu tả nhưng thực tế cho thấy vị trí của nó còn
quan trọng hơn miêu tả rất nhiều. Miêu tả chỉ phục vụ cho trần thuật dù miêu
tả trong văn nhiều đến đâu thì xét trong chỉnh thể trần thuật nó mới chỉ là cái
khung của sự kiện. G.Genette – chuyên gia hàng đầu về nghệ thuật kể chuyện,
ông tổ nghiên cứu chức năng trần thuật của miêu tả, của các thuật ngữ liên
quan đến trần thuật cho rằng: “Nghiên cứu miêu tả thực chất là nghiên cứu
8
chức năng trần thuật của miêu tả, các chức năng của miêu tả giúp cho trần
thuật được dựng lại, nghỉ ngơi hoặc chuẩn bị thúc đẩy trần thuật”[10,49].
Như vậy, nội hàm của khái niệm này bao quát một diện rất rộng. Do đó, các
yếu tố của nó cũng khá phong phú và phức tạp.
1.1.2. Vai trò của trần thuật đối với loại tác phẩm tự sự
Trong tác phẩm tự sự, trần thuật giữ một vai trò quan trọng tạo nên thế
giới nghệ thuật của tác phẩm, tạo nên phong cách cá tính sáng tạo của người
nghệ sĩ. Chính vì vậy mà Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học đã
nhấn mạnh: “Với sự trợ giúp của trần thuật miêu tả, bình luận tác giả, lời nói
nhân vật trong tác phẩm tự sự cuộc sống được nắm bắt tự do và sâu rộng”
[7,56] . Như vậy, ông đã đề cập đến vai trò của trần thuật đối với loại tác
trần thuật gồm 6 yếu tố cơ bản: “người kể chuyện; người trần thuật-vai trần
thuật; điểm nhìn trần thuật; lược thuật; miêu tả chân dung và dựng cảnh;
phân tích, bình luận; giọng điệu” [9,60].
Tìm hiểu các yếu tố của trần thuật trong tác phẩm tự sự nói chung và
tiểu thuyết nói riêng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về phương diện cơ bản của
thi pháp thể loại. trong giới hạn của khoá luận, người viết chỉ tập trung bàn về
một vài yếu tố cơ bản của vấn đề trần thuật đó là:
- Người trần thuật và ngôi kể
- Điểm nhìn trần thuật
- Ngôn ngữ trần thuật
1.2.1. Ngƣời trần thuật và ngôi kể
1.2.1.1. Ngƣời trần thuật
“Người trần thuật” hay “người kể chuyện” là vấn đề quan trọng, then
chốt của tác phẩm tự sự. Vì không có tác phẩm tự sự nào là không có người
trần thuật. Do đó, để tạo ra nhân vật kể chuyện trong sáng tác, các tác giả đã
sử dụng những hình thức kể chuyện khác nhau. Có khi đó là người đứng hoàn
toàn bên ngoài tác phẩm nhưng cũng có khi là nhân vật xưng tôi. Nhà nghiên
10
cứu T.Z.Todozov khẳng định: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc
tạo ra thế giới tưởng tượng….không thể có trần thuật mà thiếu người kể
chuyện” [7,116].
Còn M.Bakhtin đã đưa ra quan điểm của mình trên cơ sở lý thuyết giao
tiếp, lý thuyết “giọng” và “lời người khác”, ông đưa ra vấn đề người kể
chuyện được đặt trong quan hệ với người đọc giả định, với vấn đề “điểm
nhìn”, các loại hình, cấp độ và tình huống trần thuật.
Vấn đề người kể chuyện là một trong những vấn đề trung tâm của thi
pháp văn xuôi hiện đại, cũng là vấn đề xuất hiện ngay từ đầu thế kỉ XX ở Nga
và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Sau đó, vấn đề người kể chuyện
nhận được sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nhà
thực hiện hành vi trần thuật. Qua trần thuật, tác giả tạo ra một người gần gũi
nhất với mình để kể nhưng không bao giờ đồng nhất với tác giả tiểu sử.
1.2.1.2. Ngôi kể
Khái niệm người trần thuật luôn gắn liền với khái niệm ngôi kể. Chúng
gắn bó và tồn tại không tách rời nhau. Một tác phẩm văn học có thể được kể
theo ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ ba.
Trong trường hợp nhân vật đóng vai trò người trần thuật thì tác phẩm
được kể ở ngôi thứ nhất xưng “tôi”- đây chính là hình thức ngôi kể lộ diện.
Hình thức người kể chuyện xưng “tôi”, là một nhân vật trong chuyện
chứng kiến các sự kiện, đứng ra kể. Hình thức kể chuyện theo ngôi thứ nhất
chỉ cho phép nhân vật kể những gì mà khả năng của một người cụ thể có thể
biết được. Vì vậy hình thức này có ưu điểm là tạo ra được sự khách quan
trong lời kể, do đó có thể gây được những niềm tin chân thực nơi bạn đọc, kể
chuyện theo ngôi thứ nhất là hình thức nghệ thuật xuất hiện muộn, mãi đến
đầu thế kỉ XX mới có ở Châu Âu và thịnh hành cho tới ngày nay.
Hình thức kể chuyện theo ngôi thứ ba là hình thức kể truyện truyền
thống. Người kể giấu mặt, coi như đứng ở một vị trí nào đó trong không gian,
12
thời gian bao quát hết mọi diễn biến câu chuyện đã xảy ra trọn vẹn và kể lại
với chúng ta ở ngôi thứ ba cho phép người kể có thể kể ra tất cả những gì họ
biết, lời trần thuật ở đây mang tính khách quan hoá và trung tính. Đây là hình
thức kể được coi là “thượng đế toàn thông”.
Có một hình thức trung gian giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba là hình
thức kể theo ngôi thứ hai, người kể chuyện xưng “anh”. Hình thức này tạo ra
một không gian gián cách: có một cái tôi khác, một cái tôi được kể ra chứ
không phải tự kể như ngôi thứ nhất.
Như vậy, người trần thuật và ngôi kể là hai khái niệm gắn bó hữu cơ
với nhau trong đó người kể chuyện có ảnh hưởng rất lớn đến ngôi kể, người
trần thuật vừa đem lại tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá về mặt tư
định đúng tạo cho người đọc cái thế nhìn sâu trông xa, đưa họ đến nhận thức
và cảm thụ mà nhà văn muốn đạt được. Các yếu tố khác của tự sự như giọng
điệu, ngôn ngữ đều chịu sự chi phối của điểm nhìn. G.S.Trần Đình Sử cũng
cho rằng: “Điểm nhìn thể hiện vị trí người kể dựa vào để quan sát trần thuật
các nhân vật và sự kiện”[9,61]. Theo đó, khái niệm “điểm nhìn trần thuật”
được xác lập: điểm nhìn văn bản là phương thức phát ngôn, trình bày miêu tả
phù hợp với cái nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả.
Cao Kim Lan đã đưa ra tổng thuật về điểm nhìn: “Hiểu một cách đơn
giản nhất điểm nhìn chính là một “mánh khoé” thuộc về kĩ thuật, một phương
tiện để chúng ta có thể tiến đến cái đích tham vọng nhất: sức quyến rũ của
truyện kể. Và dù có sử dụng phương thức nào, phương pháp hay kĩ thuật nào
thì mục đích cuối cùng của người sáng tạo cũng chỉ là mê hoặc độc giả, buộc
anh ta phải đọc. Và “điểm nhìn là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật
chứ không phải bản thân cấu trúc đó”[9,135]. Chính quan điểm này đã khẳng
định: điểm nhìn nghệ thuật được coi là một nhân tố bộc lộ kĩ thuật sáng tác
của nhà văn, một mắt xích khách quan nội tại duy nhất mà theo đó chúng ta
có thể định giá được “tay nghề” của nhà văn.
14
Với những nhà văn tài năng việc vận dụng linh hoạt các điểm nhìn trần
thuật sẽ góp phần tạo nên tính sinh động, sự lôi cuốn và sự hấp dẫn đặc biệt
trong tác phẩm đồng thời giúp nhà văn thể hiện rõ nhất phẩm chất và cá tính
sáng tạo của mình.
Qua tìm hiểu một số quan niệm trên, chúng tôi nhận thấy các nhà
nghiên cứu coi điểm nhìn nghệ thuật là một yếu tố đặc biệt quan trọng, giữ vai
trò then chốt trong sáng tạo nghệ thuật. Điều này rất có cơ sở bởi trong tác
phẩm tự sự, người nghệ sĩ không thể miêu tả trần thuật các sự kiện nếu không
xác định được cho mình một điểm nhìn đối với chúng từ những góc độ và vị
trí khác nhau. Có được điểm nhìn, người kể chuyện dễ dàng giao tiếp với bạn
đọc và người tiếp nhận, có thể xác định được những tầng nghĩa hàm ẩn trong
Ngôn ngữ trần thuật không những có vai trò then chốt trong phương
thức trần thuật mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn truyền
đạt cái nhìn, cá tính, giọng điệu tác giả.
Ngôn ngữ trần thuật có thể có một giọng “chỉ nhằm gọi ra sự vật” hoặc
có thể có hai giọng “như lời mỉa mai, nhại…” thể hiện sự đối thoại với ý thức
khác về cùng một đối tượng miêu tả.
Ngôn ngữ nhân vật, theo Từ điển thuật ngữ văn học là “lời nói của
nhân vật trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự và kịch” [4,214].
Ngôn ngữ nhân vật là một trong những phương diện quan trọng mà nhà
văn thể hiện cuộc sống và tính cách nhân vật. Trước đây, trong văn học trung
đại, do ý thức cá nhân chưa được đề cao, ngôn ngữ nhân vật chưa được cụ thể
hoá sâu sắc và chưa được phân biệt với ngôn ngữ tác giả. Nhưng về sau, với
sự trỗi dậy của ý thức cá nhân, ngôn ngữ của nhân vật được coi là đối tượng
của sự miêu tả, và cá tính hoá trở thành một yêu cầu thẩm mĩ. Nhà văn có thể
cá tính hoá ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách đặt câu,
ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lặp lại những từ,
16
những câu mà nhân vật thích nói, hoặc trực tiếp miêu tả phong cách ngôn ngữ
nhân vật…
Dù tồn tại dưới hình thức nào hoặc được thể hiện bằng cách nào thì
ngôn ngữ nhân vật cũng phải kết hợp hài hoà tính cá thể hoá và tính khái quát
hoá. Nghĩa là một mặt, mỗi nhân vật có một ngôn ngữ, một đặc điểm riêng;
mặt khác, ngôn ngữ ấy lại phản ánh được ngôn ngữ của một tầng lớp người
nhất định.
Ngoài hai ngôn ngữ trên, ngôn ngữ trần thuật bao gồm cả ngôn ngữ
nước đôi. Đó vừa là lời nói của tác giả, vừa là lời nói của nhân vật, bộc lộ cả
thế giới bên trong và bên ngoài nhân vật.
Như vậy, ngôn ngữ trần thuật mang tính chính xác, tính cá thể hoá do
đặc trưng của ngôn ngữ người kể chuyện (người trần thuật) và ngôn ngữ nhân
điệu là một phạm trù thẩm mĩ. Giọng điệu trong mỗi tác phẩm gắn liền với
giọng tác giả ngoài đời, mà nó cùng một nội dung khái quát phù hợp với đối
tượng được thể hiện. Trong một văn bản nghệ thuật, không phải chỉ có một
giọng điệu duy nhất mà là sự phức hợp của các giọng. Điều này, một mặt tạo
nên sự hấp dẫn cho văn bản, mặt khác nó làm cho văn bản không tẻ nhạt, đơn
điệu mà có sự biến đổi linh hoạt. Sự “phức hợp” của các giọng này là tổng
hợp của giọng nhân vật, của người kể chuyện hay của tác giả. Theo đó, trong
khi trần thuật, tác giả sử dụng nhiều giọng điệu với những sắc thái khác nhau
nhưng thường bao giờ cũng sử dụng một giọng chủ âm nào đó. Nhìn chung,
tất cả các cách hiểu trên đều đi đến một kết luận: giọng điệu là yếu tố cơ bản
tạo nên phong cách của nhà văn và đó cũng là một yêu cầu nghệ thuật luôn
đòi hỏi cái mới lạ, độc đáo, hấp dẫn từ sức sáng tạo của các nghệ sĩ lớn.
Như vậy, tìm hiểu về “nghệ thuật trần thuật”, người viết đã tìm hiểu
những vấn đề lí luận chung từ khái niệm, vai trò của trần thuật đến các yếu tố
cơ bản của trần thuật như: người trần thuật và ngôi kể, điểm nhìn trần thuật,
ngôn ngữ trần thuật, giọng điệu trần thuật. Đó là những tiền đề cơ bản để
18
người viết tiến hành nghiên cứu cụ thể tác phẩm Ngồi khóc trên cây của
Nguyễn Nhật Ánh.
1.3. Nguyễn Nhật Ánh và hành trình sáng tác cho thiếu nhi
1.3.1. Con ngƣời
Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày 7.5.1955 tại xã Bình Quế, huyện Thăng
Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông có nhiều bút danh khác nhau như: Anh Bồ Câu,
Chu Đình Ngạn, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông…tuổi thơ của ông gắn
liền với vùng quê Quảng Nam, một vùng quê nghèo nhưng phong cảnh nên
thơ hữu tình, và chính gia đình, quê hương là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng
tâm hồn của Nguyễn Nhật Ánh để mỗi khi hồi tưởng lại, nó như một thước
phim quay chậm không có điểm dừng. Và ông đã dồn tất cả tình yêu ấy vào
những trang văn, trang thơ của mình: “Tôi viết về Bình Quế trong Mắt Biếc,
tôi có một niềm tin và cái nhìn trong trẻo với cuộc sống. Nếu không có thời
gian đi Thanh niên xung phong thì không hẳn tôi đã có những trang viết tươi
tắn như bây giờ” [6,18]. Năm 1973, ông vào Sài Gòn theo học ngành sư
phạm, những năm tháng dạy học, sống lại trong môi trường trong sáng và
thánh thiện của tuổi học trò những trang viết của ông đậm chất thơ trong trẻo,
nhẹ nhàng, mang tính hướng thiện và giáo dục cao. Không những thế, Nguyễn
Nhật Ánh cũng từng hăng hái tham gia các hoạt động Đoàn tổ chức các hoạt
động cho thiếu nhi. Công việc viết báo phụ trách trang thiếu nhi giúp nhà văn
nắm bắt những vấn đề nhạy cảm trong cuộc sống hiện tại của thanh thiếu niên
và đi vào những trang viết của ông như một yếu tố kích thích trí tò mò và lôi
cuốn người đọc.
Khi cầm bút, nhà văn ý thức về trách nhiệm của mình. Để có vốn hiểu
biết phong phú về thế giới học trò, ông đã sưu tầm các loại SGK từ lớp 1 đến
lớp 12 về đọc để nắm sát chương trình học phổ thông hiện nay, đăng ký lớp
học tiếng Anh buổi tối để có cơ hội quan sát, nắm bắt những “sự kiện” trong
20
lớp học hay tâm tình, trò chuyện với chính con gái cũng như các bạn của con
gái mình.
Nhận xét về Nguyễn Nhật Ánh, tác giả Vân Thanh trong Tác giả văn
học thiếu nhi Việt Nam (2006) viết: “Nếu trong thời kì chống Mỹ ở miền Bắc
hiện tượng Trần Đăng Khoa đã gây nên sự phấn chấn cho nhiều giới người
đọc, cả người lớn lẫn trẻ con, cả trong nước lẫn cả thế giới, thì trong công
cuộc Đổi mới hôm nay Nguyễn Nhật Ánh là một nhà văn được lớp trẻ vô
cùng gần gũi và yêu mến” [11,57].
Như vậy, với tính cách, tâm hồn, trải nghiệm nghề nghiệp và tấm lòng,
tâm huyết của một nhà văn chân chính, chuyên tâm viết cho thiếu nhi,
Nguyễn Nhật Ánh xứng đáng là một tên tuổi để lại dấu ấn đậm nét trong lòng
độc giả VHTN đương đại.
1.3.2. Hành trình sáng tác VHTN của Nguyễn Nhật Ánh