TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
NGUYỄN THỊ TRANG
TÌM HIỂU GIÁ TRỊ NỘI DUNG,
NGHỆ THUẬT LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC
CỦA VŨ TRINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ NHÀN
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài, đƣợc sự giúp đỡ tận tình
của cô giáo – Tiến sĩ Nguyễn Thị Nhàn, tác giả khóa luận xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc tới cô !
Nguyễn Thị Trang
.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
7. Đóng góp của khóa luận 5
8. Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG (TÁC GIẢ VŨ TRINH VÀ TÁC
PHẨM LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC) 6
1.1.Tác giả Vũ Trinh 6
GVHD: TS. Nguyễn Thị Nhàn 1 SVTH: Nguyễn Thị Trang MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong dòng chảy truyền kỳ Việt Nam, Lan Trì kiến văn lục của Vũ
Trinh đã góp một tiếng nói riêng. Đó là “tác phẩm cuối cùng của loại hình
truyền kỳ Việt Nam thời trung đại”. Tác phẩm xứng đáng góp mặt trong tủ
sách “Cảo thơm trƣớc đèn”.
Lan Trì kiến văn lục là tập truyện truyền kỳ nhƣng tái hiện những mảng
đề tài khá phong phú. Tác phẩm đƣợc chấp bút trên cơ sở những truyền thuyết
lƣu hành trong dân gian. Những thiên truyện của Vũ Trinh giúp ta hình dung
đƣợc thực trạng xã hội đƣơng thời. Ở đó, số phận và hạnh phúc của con ngƣời
đƣợc đặt ra nhƣ một vấn đề cấp thiết trong cuộc sống. Mƣợn hình thức kỳ ảo
kết hợp miêu tả những điều “sở kiến, sở văn”, Lan Trì kiến văn lục để lại ấn
tƣợng sâu sắc trong lòng ngƣời đọc. Tài dựng truyện, sự hấp dẫn kỳ thú của
nghệ thuật lãng mạn, sự rung động chân thực từ những số phận con ngƣời
cũng khiến tác phẩm của Vũ Trinh có vị trí trong đời sống văn chƣơng.
1.2. Xƣa nay, việc nghiên cứu tác phẩm Lan Trì kiến văn lục mới chỉ
dừng lại ở mức độ giới thiệu khái quát, gợi mở và mang tính chất lẻ tẻ, chƣa
đƣợc hệ thống và toàn diện. Điều đó khuyến khích chúng tôi tiếp tục ý tƣởng
khoa học để nghiên cứu tác phẩm sâu sắc hơn, hệ thống toàn diện hơn.
1.3. Đối với bản thân là sinh viên khoa Ngữ văn, việc tìm hiểu tác
phẩm Lan Trì kiến văn lục sẽ giúp tăng thêm vốn tri thức về thể loại truyền kỳ
nói riêng và văn học trung đại Việt Nam nói chung, sẽ hữu ích đối với công
thì sao biết đƣợc trong trời đất không gì là không có! Nên đem khắc in, công
bố cho mọi ngƣời đƣợc đọc. Tôi không chỉ vui vì tác phẩm này đƣợc lƣu
truyền mà còn vui hơn vì ngƣời đọc đƣợc thấy chuyện của ngƣời xƣa” (Trích
tiểu dẫn của Hoàng Văn Lâu ở đầu sách Lan Trì kiến văn lục).
GVHD: TS. Nguyễn Thị Nhàn 3 SVTH: Nguyễn Thị Trang Trần Danh Lƣu trong “Lời tựa 3”, in ở đầu tập Lan Trì kiến văn lục cho
biết: “Giữa vòng trời đất, vũ trụ bao la, vật gì mà chẳng có. Những việc tai
không đƣợc nghe, mắt không đƣợc nhìn mà cứ khăng khăng cãi là có hoặc
không thì có đƣợc không? Thế mà sách của Thầy lại là những điều tai mắt
ngày nay đƣợc nghe, đƣợc thấy. Đƣờng đời nguy hiểm, trộm cƣớp đầy đƣờng,
ma ác quỷ thiêng không phải là hƣ ảo. Mày râu chững chạc, thê thiếp yêu
chiều, nữ biến thành nam không phải là lạ! Truyện Ca kĩ họ Nguyễn, truyện
Liên Hồ quận công thì phấn hồng tơi tả, bụi vàng vùi thân, đọc truyện thấy
ngƣời ta thƣơng xót thở than cho ngƣời bạc mệnh. Truyện Người đàn bà trinh
tiết ở Thạch Thán, truyện Người con gái trinh liệt ở Cổ Trâu thì nêu gƣơng
tiết nghĩa, bảo vệ cƣơng thƣờng, có thể trở thành lời dạy luân lý hàng ngày;
đâu chỉ thêm thắt câu chuyện cho vui miệng ngƣời đời!” (Trích tiểu dẫn của
Hoàng Văn Lâu ở đầu sách Lan Trì kiến văn lục).
Nguyễn Đăng Na trong Đặc điểm văn học Việt Nam trung đại - Những
vấn đề văn xuôi tự sự (Nxb Giáo dục, 2003) đã đánh giá: “Kiến văn lục của
Vũ Trinh là đại biểu cuối cùng của văn xuôi tự sự thuộc xu hƣớng thế tục”
[11, tr. 38].
Tác giả Nguyễn Huệ Chi trong công trình Từ điển văn học (bộ mới)
(NXB Thế giới, 2004, trong mục “Vũ Trinh”) cho rằng: “Chủ đề nổi rõ nhất
của Kiến văn lục là trình bày hiện tƣợng phá vỡ “khuôn phép” của những con
ngƣời thời đại. Sự phá vỡ này có thể theo chiều hƣớng thoái hóa, làm cho con
ngƣời tàn bạo, mất hết nhân tính… nhƣng sự phá vỡ cũng theo chiều hƣớng
tích cực, ở đó con ngƣời thƣờng bị đặt trong những tình huống căng thẳng,
Bàng, năm 2013 )
b. Phạm vi nghiên cứu
Từ những gợi ý, những thành tựu của giới nghiên cứu đã có. Khóa luận
tìm hiểu nội dung và hình thức nghệ thuật tiêu biểu trong Lan Trì kiến văn
GVHD: TS. Nguyễn Thị Nhàn 5 SVTH: Nguyễn Thị Trang lục, để từ đó có đƣợc cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn đối với tác phẩm.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài chúng tôi thực hiện một số phƣơng pháp sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh
Cùng với một số phƣơng pháp trên, khóa luận kết hợp các thao tác
phân tích, miêu tả… để hoàn thành tốt hơn đề tài.
7. Đóng góp của khóa luận
Thông qua triển khai đề tài khóa luận, chúng tôi hi vọng bạn đọc hiểu
sâu sắc hơn một số phƣơng diện nội dung và hình thức nghệ thuật tiêu biểu
trong Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh. Đồng thời qua đó giúp bạn đọc có
cái nhìn thấu đáo hơn khi đánh giá tác phẩm, tìm hiểu về thể loại truyền kì,
giúp ích cho công việc giảng dạy, cũng nhƣ nghiên cứu sau này.
8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung
của khóa luận gồm 3 chƣơng nhƣ sau:
- Chương 1.Tác giả Vũ Trinh và tác phẩm Lan Trì kiến văn lục
- Chương 2. Lan Trì kiến văn lục nhìn từ góc độ nội dung
- Chương 3. Lan Trì kiến văn lục nhìn từ phƣơng diện hình thức
nghệ thuật
Chỉnh từ Nghệ An ra đánh dẹp. Nguyễn Hữu Chỉnh thâu tóm mọi quyền
hành, lấn át vua Lê. Lê Chiêu Thống vời Vũ Trinh vào chầu bàn mƣu giết
Hữu Chỉnh. Vũ Trinh can vua, nói là bên ngoài đƣơng có giặc mạnh, trong
triều không nên giết bề tôi có quyền thế.
GVHD: TS. Nguyễn Thị Nhàn 7 SVTH: Nguyễn Thị Trang Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lần thứ hai, Lê Chiêu Thống chạy sang
Kinh Bắc, cha con Vũ Trinh đón vua, dốc hết sản nghiệp lo dùng vào việc
quân, theo Lê Chiêu Thống chạy trốn ở các vùng Kinh Bắc, Hải Dƣơng,
Sơn Nam…
Năm 1789, khi Tôn Sĩ Nghị đem quân sang xâm lƣợc, các cựu thần
văn võ nhà Lê đều trốn chạy cả. Lê Chiêu Thống sai Vũ Trinh đi đón rƣớc,
đem trầu rƣợu khao quân Thanh. Sĩ Nghị hỏi Trinh về tình hình trong
nƣớc, Trinh ứng đối giỏi, đƣợc Nghị khen là có tài hùng biện.
Chiêu Thống dựa vào quân Thanh trở về Thăng Long, phong cho Vũ
Trinh làm Tham tri Chính sự.
Mùa xuân năm 1789, vua Quang Trung đánh tan quân xâm lƣợc nhà
Thanh. Chiêu Thống theo Tôn Sĩ Nghị chạy sang Trung Quốc. Vũ Trinh chạy
theo không kịp, lui về quê quán, không chịu ra làm quan cho Tây Sơn.
Năm Gia Long thứ 1 (1802), Vũ Trinh đƣợc ban ân huệ, và giữ chức Thị
trung học sĩ.
Năm Gia Long thứ 2 (1803), khi đƣa di hài Lê Chiêu Thống từ Trung
Quốc về nƣớc, bộ Lễ bàn là chôn theo nghi lễ thƣờng dân, chỉ nên ghi tên thôi.
Trƣớc việc ấy Vũ Trinh khuyên vua dùng lễ hậu, giữ hiệu cũ là Chiêu Thống
đế và đƣợc Gia Long chấp nhận. Vũ Trinh lại xin từ chức, nhƣng ông ra Bắc
thành tham dự tang lễ Lê Chiêu Thống. Gia Long khen ông là ngƣời có nghĩa,
cho phép, nhân sai ông đi hộ khám đê điều ở ngoài Bắc, ít lâu sau lại gọi về
Huế.
Năm 1807, ông là giám thí trƣờng thi Sơn Tây.
gian đƣơng thời mà Vũ Trinh thu thập đƣợc trong những năm về ẩn nhẫn ở
vùng Hồ Sơn (Nam Định).
Bên cạnh một số truyện tản mạn, gặp gì ghi lấy, kể thì tập truyện của
Vũ Trinh khá nhất quán về chủ đề tƣ tƣởng cũng nhƣ về phong cách nghệ
GVHD: TS. Nguyễn Thị Nhàn 9 SVTH: Nguyễn Thị Trang thuật. Phá vỡ “khuôn phép” của những con ngƣời thời đại là chủ đề nổi bật
nhất trong tác phẩm.
Sự phá vỡ đó có thể theo chiều hƣớng thoái hóa tiêu cực, con ngƣời
trở nên tàn bạo, mất hết nhân tính. Trên phƣơng diện này ngòi bút Vũ
Trinh là ngòi bút phê phán nghiêm khắc. Mũi nhọn sắc bút chĩa vào những
kẻ hoang dâm vô độ, lạm dụng uy quyền (Khỉ), những kẻ dứt bỏ máu mủ
ruột thịt, đến con mình cũng nỡ giết chết (Con hổ hào hiệp), lại có kẻ giết
vợ (Sống lại).
Sự phá vỡ còn theo cả chiều hƣớng tích cực. Ở đó, con ngƣời thƣờng
rơi vào tình cảnh bi đát cùng cực, nhƣng chính trong hoàn cảnh đó, những
phẩm chất tốt đẹp đƣợc ngời sáng, những gì cao quý nhất, ngƣời nhất đƣợc
lan tỏa. Đặc biệt, Vũ Trinh rất trân trọng yêu mến phụ nữ. Bởi thế có thể
nói, đề tài chiếm ƣu thế trong tác phẩm là nói về số phận, vẻ đẹp tỏa sáng,
sức sống trƣờng tồn của ngƣời phụ nữ. Đó có thể là một ca kỹ có phong tƣ
đoan chính và tình yêu trong sáng đầy chủ động (Ca kỹ họ Nguyễn); một
ngƣời con gái mang mối tình chung đầy oan trái, thủy chung với ngƣời tình
ngay cả khi đã bƣớc vào thế giới khác (Câu chuyện tình ở Thanh Trì); một
ngƣời đàn bà dệt vải khao khát nỗi yêu thƣơng, dù bị chồng đánh chết
nhƣng vẫn giữ trọn tình yêu với cố nhân (Sống lại); một cô gái xinh đẹp
con quan Thƣợng thƣ biết chủ động giành lấy hạnh phúc (Phu nhân Lan
quận công); một thiếu nữ trong chuỗi ngày bệnh tật hiểm nghèo đã sống
hết mình cho tình yêu, lúc đã ra đi đến thế giới khác vẫn mang trọn tình
yêu thƣơng nồng nàn (Tháp báo ân); một kiếp ngƣời khổ đau, không có
Tóm lại “Lan Trì kiến văn lục là tác phẩm cuối cùng của loại hình
truyện truyền kỳ Việt Nam thời trung đại”. Đó là một cống hiến đặc sắc
của Vũ Trinh cho văn học nƣớc nhà. Ghi lại những điều mắt thấy tai nghe ở
khoảng trời đất vô cùng này, tƣởng chừng nhƣ đó chỉ là những câu chuyện
GVHD: TS. Nguyễn Thị Nhàn 11 SVTH: Nguyễn Thị Trang khô khan nhƣng đằng sau nó lại là một tấm lòng bao la độ lƣợng ẩn chứa
một nhân sinh quan tiến bộ sâu sắc. Lan Trì kiến văn lục đã góp phần quan
trọng cho sự phát triển của truyện truyền kỳ Việt Nam trên nhiều phƣơng
diện, song đặc biệt là phƣơng diện phản ánh hiện thực.
GVHD: TS. Nguyễn Thị Nhàn 12 SVTH: Nguyễn Thị Trang CHƢƠNG 2
LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NỘI DUNG
2.1. Chủ đề tình yêu nam nữ
Nội dung Lan Trì kiến văn lục khá đa dạng phong phú. Thông qua khảo
sát, chúng tôi đã thống kê đƣợc 8/45 thiên truyện viết về tình yêu nam nữ.
Đó là những thiên truyện sau: Sống lại, Câu chuyện tình ở Thanh Trì,
Phu nhân Lan quận công, Người con gái trinh liệt ở Cổ Trâu, Người đàn bà
trinh tiết ở Thạch Thán, Tháp báo ân, Ca nữ họ Nguyễn, Trạng nguyên họ
Nguyễn.
Tình yêu đôi lứa qua ngòi bút của Vũ Trinh biểu hiện những sắc màu
khác nhau. Hầu hết là những câu chuyện tình thật cảm động.
Trong truyện Sống lại, tình yêu của cô gái và chàng trai thật đẹp, dù trải
qua bao sóng gió nhƣng tình yêu mà họ dành cho nhau mãi còn vẹn nguyên.
Ngƣời đọc gặp ở đây một nam tử si tình đến khác lạ giữa thời đại Nho giáo.
thành cây gỗ trên sông. Nhà cô gái đƣợc gỗ ấy, đem tiện làm bộ đồ trà. Có
điều lạ là: khi chén không có nƣớc thì đáy chén có bóng ngƣời chèo đò; khi
nƣớc đầy chén thì không thấy bóng hình đó. Ngƣời con gái nhà quan đã thấu
đƣợc oan tình anh lái đò ngày nào. Nƣớc mắt cô rơi vào đáy chén, chén vỡ ra
một màu tía hồng nhƣ máu. Oan hồn Trƣơng Chi đƣợc cô gái “giải thoát” mà
thỏa nguyện chăng?
Gợi lại lời kể dân gian để thấy rằng, Vũ Trinh đã hoán đổi cái chết của
chàng trai lái đò trong truyện dân gian sang cái chết cho cô gái trong truyện
của mình. Cái tình yêu “đuổi bắt” nhau trong cốt truyện dân gian đã trở thành
tình yêu “sóng đôi” cho hai nhân vật của ông. Chàng trai của Vũ Trinh không
còn phải mang gƣơng mặt xấu xí nhƣ kiểu truyện nhân vật xấu xí tài ba của
cổ tích thần kì. Vũ Trinh hƣớng tới sự toàn mĩ cho nhân vật của ông trong
GVHD: TS. Nguyễn Thị Nhàn 14 SVTH: Nguyễn Thị Trang lòng độc giả.
Một câu chuyện tiếp mạch của chủ đề tình yêu nam nữ là Tháp báo ân.
Chuyện vừa có thứ tình yêu tranh chấp với số phận của cô gái mang bệnh nan
y lại vừa có thứ tình yêu dâng hiến, thứ tình yêu vị tha của nàng. Ở đó, ngƣời
đọc cũng nhận thấy tình cảm ân nghĩa sâu nặng của chàng sĩ tử ngày nào đối
với một ngƣời con gái bạc mệnh; một hành xử ân tình thủy chung của kẻ có
học, tri ân một ngƣời đã thay đổi số phận cho mình. Cô gái xinh đẹp trong
truyện đã mắc chứng bệnh phong, mọi ngƣời đều xa lánh. Cho đến một đêm
mƣa gió, cuộc đời cô nhƣ đƣợc tái sinh. Chàng thƣ sinh trên đƣờng khoa cử
đã nƣơng nhờ qua đêm tại nhà cô gái, duyên số gặp nhau, run rủi cho họ. Ân
tình đằm thắm, cô gái mãn nguyện trong hạnh phúc tràn đầy.
Rồi Sinh cũng phải từ biệt cô gái lên kinh đi thi, còn đối với cô gái thì
dƣ âm ngọt ngào chƣa tan đi, âu sầu lại ngập đến. Cô đớn đau, day dứt dằn
vặt không thôi: “Đời tàn nhơ bẩn, may đƣợc gặp nhau trong bóng tối. Nếu
nhìn nhau lúc sáng trời thì một tối giao hoan đâu mà có đƣợc!. Ai hay một độ
nối nhau đỗ đầu khoa “một nhà trâm hốt đến nay vẫn không dứt”. Phải chăng,
tình yêu giản dị của ngƣời con gái ấy là động lực để chàng thƣ sinh nghèo có
thể vƣợt qua tất cả để có đƣợc bƣớc tiến nhƣ ngày hôm nay. Và đúng nhƣ ai
đó đã từng nói: “Đằng sau thành công của ngƣời đàn ông luôn có bóng dáng
của ngƣời phụ nữ”. Câu chuyện tình yêu của cô con gái quan Thƣợng thƣ họ
Đàm với Nguyễn Thực là một mối tình khác thƣờng và cao đẹp.
Viết về chủ đề tình yêu nam nữ, hay câu chuyện hôn nhân, Vũ Trinh rất
trân trọng và yêu mến ngƣời phụ nữ. Họ hiện lên thật đẹp với tính cách và
phẩm chất cao quý. Đó là phu nhân họ Nguyễn trong truyện Người con gái
trinh liệt ở Cổ Trâu. Nàng là ngƣời con dâu rất đỗi hiếu thảo với bố mẹ
chồng, chu đáo với gia đình chồng. Nàng chăm lo thờ phụng gia đình chồng,
giữ lễ nghĩa với làng xóm. Sống luôn theo khuôn phép của một dòng họ lớn.
GVHD: TS. Nguyễn Thị Nhàn 16 SVTH: Nguyễn Thị Trang Bởi thế, nàng rất đƣợc mọi ngƣời yêu mến. Nàng còn là ngƣời phụ nữ thủy
chung, đức hạnh, giàu lòng vị tha. Khi mới tròn hai mƣơi, nàng phải chịu
cảnh góa bụa cô đơn. Vị phu nhân họ Nguyễn ấy đã lấy cái chết để giữ tấm
lòng trinh bạch, để giữ trọn tình nghĩa thủy chung với chồng: “Sớm muộn thế
nào cũng theo chồng, để khỏi phụ lòng thề chết chung một huyệt”. Ngƣời đàn
bà trinh tiết ở Thạch Thán trong câu chuyện cùng tên cũng vậy. Bà không chỉ
là tấm gƣơng của ngƣời phụ nữ giữ tiết trọn đời với chồng mà trƣớc tiên là
một ngƣời con hiếu thảo, biết giữ phận làm con với bậc sinh thành. Khi chồng
chết, bà đã từng khóc và nói: “Chết không phải là việc khó. Nhƣng nếu ta chết
thì cha mẹ già đôi bên sớm tối biết dựa vào đâu!”. Bà là ngƣời sắc sảo chín
chắn, biết suy nghĩ trƣớc sau, làm sao cho phải lẽ để vừa giữ đƣợc tiết hạnh
với chồng lại vừa làm tròn đạo hiếu với song thân. Bà đã quyết định không tái
giá, ở vậy suốt đời thờ chồng và phụng dƣỡng tứ thân phụ mẫu. Sự hy sinh,
tấm lòng chung thủy của bà đƣợc mọi ngƣời biết đến, nhà vua đƣơng triều
ngự ban cho bà danh hiệu “Nhà tiết phụ”. Ngƣời đàn bà này thật kiên cƣờng,
2.2. Chủ đề báo ứng
Cùng với chủ đề tình yêu lứa đôi, chủ đề báo ứng cũng là một trong
những vấn đề nổi bật của tác phẩm. Báo ứng là câu chuyện muôn thuở của
nhân thế xƣa nay. Nó thƣờng gắn với những kẻ gây nên nghiệp ác cho ngƣời
vô tội, ngƣời lƣơng thiện mà sau đó phải nhận kết cục thê thảm. Bởi vậy,
trong một số thiên truyện của mình, Lan Trì đã khai thác chủ đề đậm tính thế
sự, tính triết lí sâu sắc này.
Theo khảo sát, chúng tôi thống kê đƣợc 5/45 thiên truyện tác giả viết về
chủ đề báo ứng: Con hổ hào hiệp, Tiên ăn mày, Cá thần, Nhớ ba kiếp, Khỉ.
Vũ Trinh đã khắc họa loại ngƣời gieo mầm ác lại gặt lấy quả báo. Đó là
loại ngƣời tàn bạo, mất hết nhân tính. Trên phƣơng diện này, ngòi bút của Vũ
Trinh phê phán nghiêm khắc. Ông lên án những kẻ lòng lang dạ thú, hành
GVHD: TS. Nguyễn Thị Nhàn 18 SVTH: Nguyễn Thị Trang động tàn ác sẽ bị báo ứng. Ví nhƣ nhân vật Hoàng trong truyện Con hổ hào
hiệp. Ngƣời nông dân này lấy vợ cùng làng, sinh đƣợc đứa con trai. Sau mấy
năm chung sống thì ngƣời vợ qua đời, để lại đứa con thơ dại. Tang vợ vừa
hết, Hoàng liền nhờ mối đƣa lời nói với cô gái góa chồng làng bên. Cô gái từ
chối vì không muốn chăm sóc đứa con trai của vợ trƣớc. Hoàng muốn thỏa
nguyện lấy đƣợc cô gái nên đã dứt bỏ đứa con trai. Hắn manh tâm đƣa con
vào rừng sâu cho hổ ăn thịt. Dân gian vẫn lƣu truyền câu ngạn ngữ: “Hổ
không ăn thịt con”. Vậy mà kẻ thất đức này lại nỡ giết con mình. Hoàng đã
bƣớc qua nhân tính. Hắn đáng bị ngƣời đời phỉ nhổ, đáng bị trời tru đất diệt.
Những kẻ bạc ác nhƣ hắn sẽ không bao giờ có kết cục tốt đẹp. Quả vậy!
Hoàng đã bị hổ xé nát thành trăm mảnh. Kẻ dã tâm đƣa con làm mồi cho hổ
nay bị chính hổ xé xác, thân thể vung vãi khắp nơi. Hả dạ thay! Lan Trì Ngƣ
giả bàn rằng: “Khi Hoàng đem con vào rừng, có phải hổ không giết luôn đƣợc
hắn đâu, mà để lại nhiều tình tiết nữa cho câu chuyện lan truyền khắp thôn
xóm, để quan trên thấy rõ tội ác xấu xa của hắn”.
của mình. Cả hai sáng tác đều tập trung vào chủ đề báo ứng. Cả hai đều tham
vàng mà hủy hoại ông lão vô tội. Kẻ ác lầm tƣởng ông lão ăn mày kia là ông
tiên có phép nhiệm màu: gõ vào mũi ông là máu chảy ra, hóa thành vàng thật!
Triết lý và ƣớc mơ công lý của nhân dân bao đời nay đã khiến các câu chuyện
của dân gian và văn chƣơng gặp gỡ nhau, hƣớng về điều tốt đẹp, công bằng.
Trong cõi trời đất này, luôn có thế lực thay trời hành đạo trừng trị những kẻ
bất nhân. Truyện Vũ Trinh có ý nghĩa thật sâu xa. Nó thanh lọc hƣớng con
ngƣời đến miền thánh thiện, đánh thức điều thiện trong nhân tâm mỗi ngƣời.
Nhớ ba kiếp là truyện viết về đề tài báo ứng luân hồi đƣợm màu Phật
giáo. Mỗ là nhân vật trung tâm của truyện. Mọi ngƣời đều kinh ngạc bởi
những chuyện kỳ lạ xảy ra trong cuộc đời ông. Mỗ đã kể cho Thƣợng thƣ họ
Trần và những ngƣời xung quanh ở Thanh Hóa nghe chuyện mình đã trải qua
GVHD: TS. Nguyễn Thị Nhàn 20 SVTH: Nguyễn Thị Trang các kiếp nhƣ thế nào. Ông liên tiếp rơi vào những tình huống li kỳ. Để trở lại
với con ngƣời bình thƣờng nhƣ hiện tại, ông đã phải trải qua bao kiếp. Kiếp
thứ nhất đƣợc làm ngƣời, sống cuộc sống giàu có nhƣng làm nhiều điều bất
nghĩa. Bởi vậy, khi chết xuống địa phủ, Diêm Vƣơng phạt ông phải làm kiếp
con gà. Sau khi quỷ sứ quấn đệm lông quanh ngƣời ông, ném lên cao, rơi
xuống đất thì ông đã thấy mình nằm trong ổ gà rồi. Thân hình ông giờ là con
gà mới nở, lông tơ đầy mình, đang đƣợc gà mẹ ấp ủ dƣới cánh. Mỗ lớn lên
cao to hung tợn và trở thành một “chọi thủ”. Hễ chủ đƣa đi chọi ở đâu là đều
thắng ở đó. Song Mỗ muốn nhanh kết thúc kiếp con gà đi, Mỗ dùng cựa đạp
vào lƣng con nhà chủ, mổ lên lƣng cho chủ tức giận mà giết. Cuối cùng Mỗ
đƣợc toại nguyện. Lần thứ hai Mỗ xuống địa phủ, vì mang tội chống lại chủ
nên phải đày làm thân con lợn. Những ngày tháng sống trong chuồng, Mỗ
ngẫm nghĩ và biết hƣớng thiện. Chính vì lẽ đó khi Mỗ bị giết thịt, xuống phủ
Diêm Vƣơng ông đƣợc đầu thai làm ngƣời. Đó chính là ông cử nhân Mỗ hiện
nay. Nhân vật Mỗ rơi vào tình huống thật lạ. Vòng xoáy cuộc đời nhƣ những