1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRẦN NGỌC ANH
LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM
NÂNG CAO SỨC BỀN CHUNG CHO
VẬN ĐỘNG VIÊN BÓNG ĐÁ NAM KHỐI 10
TRƯỜNG THPT NGUYỄN DU- HẢI DƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CNKHSP TDTT- GDQP
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
quan của trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Trần Ngọc Anh 3Mục lục
Đặt vấn đề .1
CHƯơng 1:Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 6
1.1. Những nột c trng c bn ca búng ỏ hin i 6
1.2. Vai trò ca sc bn i vi búng ỏ 8
1.3. Mt s phng phỏp hun luyn sc bn 10
1.4. c im tõm sinh lý la tui THPT 12
ChƯơng 2: Nhiệm vụ, phơng pháp và tổ chức nghiên
cứu 16
2.1. Nhim v nghiờn cu 16
2.2. Phng phỏp nghiờn cu 16
2.3. T chc nghiờn cu 22
Bảng 3.5. Kết quả phỏng vấn để lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao
sức bền chung cho VĐV bóng đá nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du-
Hải Dương (n=20)… 34
Bảng 3.6. Kết quả phỏng vấn về mức độ ưu tiên sử dụng số buổi tập
trong mỗi tuần, thời gian cho mỗi buổi huấn luyện sức bền chung cho VĐV
bóng đá nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du – Hải Dương
(n=20)……………… …………35
Bảng 3.7. Tiến trình giảng dạy …………………… ……… ….… 37
Bảng 3.8. So sánh các Test đánh giá sức bền chung của 2 nhóm thực
nghiệm (
A
n
= 12) và nhóm đối chứng (
B
n
= 12) trước thực nghiệm… …38
Bảng 3.9. So sánh các Test đánh giá sức bền chung của 2 nhóm thực
nghiệm (n=12) và nhóm đối chứng (n=12)sau thực nghiệm …39 5Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t vµ c¸c ký hiÖu 1. TDTT : ThÓ dôc thÓ thao
2. V§V : VËn ®éng viªn
3. NXB : Nhµ xuÊt b¶n
4. GDTC :
Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, là nhân tố đặc
biệt của quá trình lao động xã hội. Mục đích của TDTT là phát triển con
người có tri thức, đạo đức và thể chất.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, TDTT của Việt Nam đang
phát triển lớn mạnh không ngừng, đã và đang trở thành một bộ phận không
thể tách rời trong đời sống và sinh hoạt của nhân dân.
Trong suốt các chặng đường cách mạng Đảng, Nhà nước và Bác hồ luôn
coi trọng con người là vốn quý nhất, là cội nguồn vững chắc để nâng cao trình
độ hiểu biết, nâng cao sức sản xuất và chiến đấu góp phần tích cực vào công
cuộc xây dựng xã hội mới.
Ngay từ đầu ngày thành lập nước mặc dù bận trăm công ngàn việc Bác
Hồ vẫn quan tâm tới TDTT thể hiện sự quan tâm đó là bức thư kêu gọi toàn
dân tập thể dục ngày 27/03/1946. Trong thư Người viết : “Mỗi người dân
khỏe mạnh là làm cho cả nước khỏe mạnh, mỗi người dân yếu ớt sẽ làm cho
cả nước yếu ớt một phần’’[12].
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như sau
ngày thống nhất đất nước, cả nước ta dồn sức vào công cuộc khôi phục và
phát triển kinh tế Đảng ta luôn coi trọng công tác TDTT. Từ văn kiện các đại
hội ban chấp hành trung ương Đảng khóa 3 đến khóa 9. Văn kiện nào cũng
được đề xuất và định hướng cho sự phát triển TDTT của nước nhà.
Ngoài văn kiện đại hội Đảng, Đảng ta mà trực tiếp là ban bí thư Trung
ương Đảng đã nhiều lần ra các chỉ thị về chỉ đạo công tác TDTT. Trong các
chỉ thị 36/CT – TW về công tác TDTT Đảng ta đã chỉ rõ : TDTT là một bộ
phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà
nước nhằm phát huy nhân tố con người…’’[1] 7
10191775 với tỷ lệ 65%; số học sinh đạt tiêu chuẩn RLTT là 9423986 với tỷ
lệ 60%.
Kết quả các số liệu thu được cho thấy số lượng học sinh tập luyện TDTT
thường xuyên còn thấp, chưa phản ánh được nhu cầu của học sinh.
Vì hiệu quả GDTC chỉ đạt được khi tập luyện thường xuyên liên tục, mặt
khác thông qua rèn luyện, học sinh phát triển được thể chất, tinh thần và nó
chỉ thực sự có hiệu quả khi cơ sở vật chất đáp ứng được nhu cầu tập luyện của
học sinh.
Số lượng, tỉ lệ cơ sở vật chất TDTT trong các trường phổ thông cả nước
năm học 2007- 2008.
Số trường cả nước 28114, trong đó có 120 nhà thi đấu với tỷ lệ 0,43%;
394 nhà đa năng với tỷ lệ 1,4%; 2347 sân vận động với tỷ lệ 8,3%; 22322 sân
tập ở các trường với tỷ lệ 79,4%; 15 bể bơi với tỷ lệ 0,05% và 3495các công
trình khác với tỷ lệ 12,43% [2],[8].
Thông qua số liệu thu được cho thấy cơ sở vật chất dành cho GDTC
trường học đặc biệt thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo và hoạt động
thể thao trường học. Mặt khác, cơ sở vật chất có sự phân bố không đều ở các
tỉnh thành trong cả nước, chỉ tập trung ở một số địa phương.
Trên thực tế hoạt động GDTC trường học đã không đáp ứng được nhu
cầu học tập môn thể dục và hoạt động thể thao trường học của các em.
Nguyên nhân hạn chế đó là:
- Cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu nhiều
- Giờ học thể dục còn đơn điệu, nhàm chán
- Sự quan tâm và đánh giá về môn học thể dục của hệ thống quản lý
giáo dục bậc phổ thông, đội ngũ giáo viên trường phổ thông chưa cao. 9
10lịch thi đấu hai trận trong một tuần. Càng về cuối giải sức bền các cầu thủ
càng giảm sút nghiêm trọng, đặc biệt là các trận đấu quyết định căng thẳng về
mặt tâm lý, các cầu thủ không còn đủ sức để di chuyển trên sân.
Hải Dương là một tỉnh có phong trào bóng đá rất phổ biến tuy nhiên qua
thực tế cho thấy bóng đá của tỉnh vẫn chưa đươc phát triển, mặc dù được các
cấp chính quyền của tỉnh và sở TDTT tỉnh Hải Dương đã quan tâm, đầu tư
thích đáng nhưng vẫn chưa đạt thành tích cao.
Trong những năm gần đây việc tìm ra những phương pháp huấn luyện có
hiệu quả nhất để phát triển sức bền chung cho các cầu thủ bóng đá trẻ còn rất
hạn chế. Khối 10 đã có một nền tảng rất tốt về sự phát triển cơ thể. Do đó có
thể nhận thấy lứa tuổi này là thời kỳ tốt để huấn luyện sức bền chung. Từ
những lý do trên mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“ Lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao sức bền chung cho VĐV
bóng đá nam khối 10 trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương”.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở đánh giá thực trạng thể lực của các VĐV bóng đá nam khối
10 Trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương đề tài nghiên cứu tiến hành lựa
chọn một số bài tâp nhằm phát triển sức bền chung cho các VĐV bóng đá
nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương. 12mệt mỏi gia tăng tới mức tối đa vào cuối trận đấu. Do chức năng của các cầu
thủ ngày nay càng mở rộng, tốc độ thi đấu ngày càng cao thông qua việc
chuyển nhanh từ tấn công sang phòng thủ và ngược lại, sự đối kháng trực tiếp
ngày càng quyết liệt đòi hỏi ở VĐV sức chịu đựng với cường độ lớn. Trung
bình trong một trận đấu một cầu thủ phải thực hiện từ 600 đến 660 động tác lẻ
trong đó có từ 48 - 75 lần chạy rút tốc độ đột biến, tăng tốc 40 - 60 lần, chạy
nhẹ từ 224 - 310 lần, đi bộ từ 216 - 262 lần với tổng số quãng đường từ 5 - 8
km, thời gian hoạt động với bóng của một cầu thủ giao động từ 22’’- 2’45’’
với tổng số lần hoạt động với bóng từ 34 - 70 lần (Gagaieva nghiên cứu
những thuộc tính của sự chú ý và kỹ năng hoạt động tập thể của VĐV bóng đá
cấp cao. Trong báo cáo tham luận của hội nghị tâm lý học thể thao toàn liên
bang xô viết Mát xơ cơ va). [14]
Trình độ phát triển thể lực cao sẽ giúp cho VĐV thực hiện các hành động
kỹ thuật chuẩn xác, duy trì sự tập trung phân phối và luân chuyển chú ý trong
suốt quá trình trận đấu. Chiếm lĩnh giành thể chủ động về không gian thời
gian là yếu tố quan trọng hàng đầu của bóng đá hiện đại. Giành thế chủ động
thông qua kiểm soát, điều chỉnh nhịp độ trận đấu, xử lý các kỹ thuật hợp lý,
hiệu quả, chiến thuật chặt chẽ, công thủ toàn diện. Nền tảng cơ bản của mọi
hoạt động kỹ chiến thuật là “sự dồi dào, sung mãn về thể lực”, đó chính là khả
năng thích nghi cao của người cầu thủ với lượng vận động ngày càng gia tăng.
Lượng vận động và sức bền tâm lý có liên quan biện chứng lẫn nhau. Lượng
vận động thể chất lớn tạo áp lực lên VĐV làm các quá trình tâm lý diễn ra ráo
riết hơn gây giảm sút các năng lực tâm lý ở họ. Bởi vì cường độ hoạt động
không những chỉ phụ thuộc trực tiếp vào sự vận động mà còn cả sự căng
thẳng tâm lý của các hoạt động kỹ chiến thuật. Do đó hoàn thiện thể lực cho
bền trong thời gian trung bình, sức bền trong thời gian dài.
- Sức bền trong thời gian ngắn là sức bền cần thiết để vượt qua cự ly
hoặc thực hiện khối lượng thi đấu từ 45 giây đến 2 phút. 14- Sức bền trong thời gian trung bình là sức bền cần thiết cho VĐV để
vượt qua cự ly hoặc hoàn thành khối lượng vận động trong thời gian từ 2 đến
11 phút.
- Sức bền trong thời gian dài là sức bền cần thiết cho VĐV để vượt qua
cự ly hoặc hoàn thành khối lượng vận động trong thời gian từ 11 phút tới
nhiều giờ về cơ bản.
Bảng 1. Tóm tắt loại sức bền dựa trên cơ sở thời gian thi đấu chuyên môn
Trong huấn luyện thể thao, để tiến hành huấn luyện sức bền, người ta lại
phân ra thành sức bền chung và sức bền chuyên môn:
- Sức bền chung là năng lực vận động được vận động trong thời gian
kéo dài.
- Sức bền chuyên môn là sức bền cần thiết đảm bảo cho thi đấu chuyên
môn thi đấu được tốt.
Theo quan điểm sinh lý học TDTT :
Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào đó. Sức bền
được chia làm 2 loại: Sức bền ưa khí (aerobis) và sức bền yếm khí
(anareobis).
- Sức bền ưa khí : phụ thuộc vào khả năng hấp thụ oxy tối đa của cơ
thể và khả năng duy trì mức hấp thụ oxy cao.
Sức bền trong thời gian dài
Loại
cơ thể. Để nâng cao khả năng ưa khí cần giải quyết 3 nhiệm vụ :
- Nâng cao khả năng hấp thụ oxy tối đa
- Nâng cao khả năng kéo dài thời gian duy trì mức hấp thụ oxy tối đa.
- Làm cho hệ tuần hoàn và hệ hô hấp nhanh chóng đạt được mức hoạt
động với hiệu suất cao.
Để giải quyết nhiệm vụ này, nguyên tắc chung của phương pháp tập
luyện nâng cao khả năng ưa khí là sử dụng các bài tập trong đó hiệu suất hô
hấp và tuần hoàn có thể đạt mức tối đa và duy trì được mức hấp thụ oxy cao
trong thời gian dài. Tất nhiện đó phải là những bài tập có sự tham gia của
nhiều nhóm cơ và có tốc độ gần tới hạn. Các phương pháp được sử dụng để
nâng cao khả năng ưa khí của cơ thể là phương pháp đồng đều liên tục,
phương pháp lặp lại và biến đổi, phương pháp nghỉ giữa quãng, phương pháp
tập luyện vòng tròn, phương pháp thi đấu…
* Phương pháp đồng đều liên tục (phương pháp liên tục kéo dài)
Áp dụng rộng rãi trong giai đoạn đầu của quá trình huấn luyện nâng cao
sức bền. Đặc điểm của phương pháp này là bài tập liên tục, không có nghỉ giữa
quãng với tốc độ ở mức độ gần tới hạn và thời gian tương đối dài (10’ – 12’) 16Lượng vận động trong các phương pháp kéo dài là một lượng vận động
dài và không bị gián đoạn bởi các đợt nghỉ. Tốc độ của các phương pháp kéo
dài có thể đồng đều hoặc tăng lên, giảm xuống. Việc cải thiện khả năng hấp
thụ oxy được bằng hai cách: một là lượng vận động kéo dài, liên tục trong các
điều kiện ưa khí; hai là lượng vận động kéo dài với cường độ thay đổi (Tốc
độ, dùng lực, tần số động tác).
* Phương pháp giãn cách tương đối
Các phương pháp này được huấn luyện theo nguyên tắc giãn cách, nó đòi
Thời gian nghỉ không vượt quá 3’- 4’ khi tuần hoàn và hô hấp giảm
nhiều, không được nghỉ thụ động để chuyển đột ngột từ hoạt động động sang
yên tĩnh và ngược lại, nó còn quỹ thời gian để phục hồi lượng vận động lớn.
- Số lần lặp lại: phải đảm bảo duy trì hoạt động trong sự phối hợp hoạt
động các hệ thống cơ quan trong cơ thể, thể hiện mức hấp thu oxy tối đa trong
cơ thể.
* Phương pháp tập luyện vòng tròn
Phương pháp tập luyện vòng tròn hiện đại mục đích để huấn luyện kỹ
thuật và phát triển các tố chất thể lực. Thông qua thay đổi các tham số huấn
luyện của bài tập (thời gian, số lần lặp lại, cường độ vận động, thời gian nghỉ
giữa…) Đem nội dung huấn luyện với các phương pháp sắp xếp thành các
phương án để phát triển các tố chất khác nhau.
Thực tiễn thể thao chứng minh rằng phương pháp tập luyện vòng tròn có
nhiều tác dụng phát triển các tố chất thể lực khác nhau, đặc biệt là phát triển
sức bền cơ bắp.
Trên đây là cơ sở để đưa ra những bài tập cho VĐV bóng đá nam khối
10 nhằm phát triển sức bền chung. Ngoài các phương pháp trên cần sử dụng
các phương pháp khác như phương pháp tổng hợp (kết hợp giữa các phương
pháp).
1.4. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi THPT
Do đối tượng nghiên cứu là VĐV khối 10. Vì vậy để có thể lựa chọn
được những bài tập có hiệu quả phát triển sức bền chung cho các em đề tài đã
tiến hành tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi.
1.4.1. Đặc điểm sinh lý
Ở lứa tuổi 14, 15 các em biến đổi về cấu trúc cơ thể diễn ra không tương
xứng, chiều cao tăng đáng kể do tứ chi dài ra. 18
lên, các quá trình hưng phấn và ức chế cũng như mối liên hệ lẫn nhau giữa
chúng được hoàn thiện.
Nói chung, ở lứa tuổi 14 - 16 là thời kỳ phát dục thứ hai của cơ thể nên
rất thuận lợi cho sự phát triển các tố chất thể lực đặc biệt là sức bền ưa khí.
Theo sinh lý học thể dục thể thao thì ở lứa tuổi 12 - 15 là thời kỳ nhạy
cảm phát triển sức bền yếm khí và từ 14 - 16 là thời kỳ nhạy cảm phát triển
sức bền ưa khí. Do vậy trong huấn luyện sức bền cho VĐV bóng đá thời kỳ
này là rất thuận lợi.
1.4.2. Đặc điểm tâm lý
Tuổi thanh niên là thời kỳ phát triển đầy đủ nhất các chức năng tâm lý, là
thời kỳ nhân cách con người được hình thành cơ bản và có tính độc lập cao.
Trong thời kỳ này có những biến đổi mạnh mẽ trong việc nhận thức có
liên quan đến sự thay đổi những năng lực thể chất, trí tuệ. Ở lứa tuổi 16 do
những biến đổi về sinh học, cấu trúc cơ thể diễn ra không tương xứng đồng
thời nên các cử động có phần vụng về. Ở lứa tuổi 16 khả năng tiếp thu động
tác kém hơn ở lứa tuổi 12 - 13. Tuy vậy khi đến 16 tuổi tốc độ, độ chính xác,
sự phối hợp động tác, độ bền vững của những định hình động lực đạt mức
phát triển như người lớn. Cấu trúc phức tạp của vỏ não được hoàn thiện, trên
vỏ não đã tạo nhiều hệ thống phức tạp của các đường liên hệ tạm thời. Quá
trình hưng phấn thường chiếm ưu thế so với quá trình ức chế. Tuy nhiên trong
giai đoạn này quá trình ức chế cũng được tăng cường. Chức năng điều chỉnh
ức chế của vỏ bán cầu đại não rõ nét hơn. Tuổi này khó có thể kiểm soát,
khống chế mình kìm hãm các động tác không cần thiết.
Hoạt động trí tuệ ở lứa tuổi này hoàn thiện hơn do phát triển tiếp tục của
quá trình tâm lý như tri giác, biểu tượng, tư duy, trí nhớ, tưởng tượng và chú
ý. Điều đó cho phép phát triển khả năng quan sát như là tri giác có mục đích
và tổ chức, có ý nghĩa đặc biệt trong các môn bóng.
21Ch¬ng 2
NhiÖm vô, ph¬ng ph¸p vµ tæ chøc nghiªn cøu
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết mục đích của đề tài nghiên cứu, xác định giải quyết hai
nhiệm vụ sau:
1. Đánh giá thực trạng sức bền chung của VĐV bóng đá nam khối 10
Trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương.
2. Lựa chọn và đánh giá hiệu quả của một số bài tập nhằm nâng cao sức
bền chung cho VĐV bóng đá nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du - Hải
Dương.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau :
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu trong quá trình
nghiên cứu với mục đích thu thập những thông tin có liên quan mang tính lý
luận, sư phạm để tổng hợp, phân tích và hệ thống các kiến thức đó, qua đó
hình thành cơ sở lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. Các hướng
nghiên cứu phân tích và tổng hợp tài liệu đó là:
- Nghiên cứu tài liệu, văn kiện của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào
tạo về chiến lược con người, về giáo dục và TDTT, qua đó hình thành cơ sở
lý luận phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
- Nghiên cứu chương trình môn học Giáo dục thể chất cấp THPT đổi
mới năm 2000.
lĩnh vực thực hành TDTT. 23Trong đề tài sử dụng phương pháp này để kiểm tra thực trạng phát triển
sức bền chung của các em bằng các test sau:
2.2.4.1. Test chạy 3000m
Cách thực hiện cho VĐV chạy hết 3000m tính thời gian thực hiện.
2.2.4.2. Test PWC170 : Đánh giá hoạt động ở tần số mạch 170
Dụng cụ: Phòng thí nghiệm, bộ xe đạp lực kế, máy đo điện tim, đồng hồ
bấm giây, giấy bút, máy gõ nhịp, thuốc men cấp cứu khi cần thiết.
Cách tiến hành :
Chuẩn bị máy và thiết bị: Bộ điều khiển phanh từ của đĩa xe, đồng hồ
phản hồi cường độ vận động, điện tim và dây đất chống nhiễu.
Chuẩn bị đối tượng kiểm tra: Đối tượng kiểm tra chỉ mặc đồ mùa hè,
hiểu rõ nhiệm vụ phải làm, chỉ đạp đủ tốc độ để kim chỉ đúng trong đồng hồ
trước mặt.
Quy trình thử nghiệm:
Lấy mạch trước xuất phát
)(
0
f
của đối tượng hoặc ghi điện tim 6 nhịp
Xác định công suất
21
,NN
cho đối tượng thử nghiệm thực hiện các
công suất này và ghi lại nhịp tim và mạch.
t
H
Trong đó : H là chỉ số haward
t là thời gian thực hiện
1
f
là mạch 30” đầu của phút hồi phục 1
2
f
là mạch 30” đầu của phút hồi phục 2
3
f
là mạch 30” đầu của phút hồi phục 3
Cách đánh giá: Nếu : Rất tốt > 96
Tốt 83 – 96
Bình thường 68 – 82
Yếu 54 – 67
Kém < 54
2.2.4.3. Test chạy 400m:
Cách thực hiện: cho VĐV chạy hết 400m dùng thời gian để đánh giá
trình độ sức bền chung.
Sau khi lựa chọn được 4 Test đánh giá sức bền chung đã sử dụng 3 Test:
- Tính phương sai:
2
)()(
22
2
BA
BBAA
nn
xxxx
- So sánh 2 số trung bình ở mẫu bé (n < 30) :