Tìm hiểu khả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản (Danh từ, động từ, tính từ) của học sinh tiểu học - Pdf 29

- 1 -

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
*********** NGUYỄN THỊ CẨM VÂN TÌM HIỂU KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN
VÀ PHÂN BIỆT CÁC TỪ LOẠI CƠ BẢN
(DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ) CỦA HỌC
SINH TIỂU HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí thuyết ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học
THS. LÊ BÁ MIÊN

hiểu về khả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản (danh từ, động từ,
tính từ) của học sinh tiểu học.
- 3 -

Phân biệt được từ loại là vấn đề rất quan trọng trong lĩnh vực xử lý ngôn
ngữ tự nhiên. Phân biệt được từ loại sẽ xác định được chính xác từ loại cho các
từ trong văn bản tiếng Việt. Việc xác định này sẽ hỗ trợ cho việc phân tích cú
pháp các văn bản góp phần giải quyết tính đa nghĩa của từ và trợ giúp các hệ
thống rút trích thông tin đến ngữ nghĩa. Hệ thống bài tập về từ loại có số lượng
không nhiều song vấn đề về từ loại tiếng Việt được đưa vào giảng dạy ngay từ
bậc Tiểu học, trung học Cơ sở, trung học Phổ thông và lên cả đại học. Các bài
tập trong sách giáo khoa là cơ bản, đa số học sinh đều làm được do đó khó phân
loại học sinh và phát hiện học sinh khá, giỏi. Trong khi đó để dạy học đạt hiệu
quả cao cần phân loại học sinh để các bài tập đưa ra không tạo sự nhàm chán hay
quá khó đối với các em. Qua điều tra thực tế việc nhận diện và phân biệt từ loại
cơ bản của học sinh, tôi nhận thấy còn những vấn đề tồn tại làm cho hiệu quả
học từ loại của học sinh chưa cao. Là một giáo viên tiểu học tương lai, tự nhận
thấy tầm quan trong của việc bồi dưỡng kiến thức tiếng Việt cho học sinh, tôi
mạnh dạn chọn và thực hiện đề tài “Tìm hiểu khả năng nhận diện và phân biệt
các từ loại cơ bản (danh từ, động từ, tính từ) của học sinh tiểu học”, với mong
muốn được học hỏi, nâng cao tri thức cho học sinh.
2. Lịch sử vấn đề
Nói đến các công trình nghiên cứu về ngữ pháp trong đó có vấn đề về từ
loại trước hết phải kể đến Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam (1948) của tác giả Lê
Văn Lý với hơn 200 trang, dành nửa số trang cho vấn đề từ loại. Ở đây, tác giả
đưa ra các tiêu chuẩn xếp từ loại bằng xem xét khả năng phối hợp của các từ
ngữ.
Năm 1960, trong cuốn Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nguyễn
Tài Cẩn đã khảo sát về một trong những từ loại quan trọng bậc nhất của tiếng
Việt hiện đại: từ loại danh từ. Trong cuốn này, Nguyễn Tài Cẩn đã nêu rõ đặc

- 5 -

Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tình thái từ)
Đồng thời tác giả có sự lí giải cho cách sắp xếp nêu trên.
Ngoài những tài liệu trên, Luận văn thạc sĩ của giảng viên Lê Thị Lan Anh
(Đại học Sư phạm Hà Nội II-2006) cũng nghiên cứu về từ loại qua đề tài Từ loại
tiếng Việt và việc dạy từ loại cho học sinh tiểu học. Bên cạnh việc đề cập đến
các đặc điểm của từ loại tiếng Việt luận văn còn đưa ra những biện pháp nhằm
giải quyết một số vấn đề về phương pháp dạy học tiếng Việt.
Khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu khả năng xác định từ loại cơ bản của học
sinh tiểu học lớp 4 trên cơ sở các bài Tập đọc (sinh viên Trần Thị Hoa, K30B-
GDTH, Đại học Sư Phạm Hà Nội II) trình bày về một số đặc điểm của ba từ loại
cơ bản: danh từ, động từ, tính từ, đồng thời tìm hiểu khả năng xác định từ loại
của học sinh tiểu học qua một số bài tập.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về từ loại, liên quan đến từ loại
tiếng Việt đã trình bày hết sức chi tiết về đặc điểm của từ loại tiếng Việt. Song
những cuốn sách trên chỉ viết trên cơ sở lí luận mà chưa được thực nghiệm ở
trường Tiểu học, hai cuốn Luận văn thạc sĩ và Khóa luận tốt nghiệp lại nghiên
cứu hai khía cạnh là phương pháp dạy từ loại và khả năng xác định từ loại của
học sinh tiểu học. Bên cạnh việc kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình
đó, chúng tôi mạnh dạn tiến hành điều tra thực nghiệm một khía cạnh khác. Đó
là khả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản của học sinh tiểu học.
3. Mục đích nghiên cứu – Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích sau:
Tìm hiểu thực tế khả năng nhận diện, phân biệt từ loại cơ bản của học
sinh. Trên cơ sở đó nhận định đúng thực trạng đối tượng học sinh, đồng thời đưa
ra một số đề xuất nhằm giải quyết thực trạng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- 6 -

Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu – Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Đối tượng nghiên cứu – Phạm vi nghiên cứu
6. Dự kiến cấu trúc luận văn
Phần nội dung
Chương 1: Những vấn đề về từ loại cơ bản và việc học từ loại cơ bản của
học sinh tiểu học
1. Khái niệm về từ loại
2. Việc dạy và học từ loại cơ bản ở Tiểu học
Chương 2: Khả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản của học sinh
tiểu học
1. Khả năng hiểu khái niệm từ loại cơ bản (trên phương diện lí thuyết)
2. Khả năng vận dụng lí thuyết vào thực tiễn xác định từ loại cơ bản
3. Khả năng nhận diện từ loại trong hệ thống các từ rời
4. Khả năng nhận diện từ loại cơ bản trong lời nói
5. Khả năng kết hợp các từ loại cơ bản
6. Khả năng kết hợp từ để chuyển loại các từ loại cơ bản
7. Khả năng đặt câu với các từ loại cơ bản
Kết luận
Phụ lục
Tài liệu tham khảo

- 8 -

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỪ LOẠI CƠ BẢN VÀ VIỆC HỌC TỪ LOẠI CƠ

1.3. Tiêu chí phân định từ loại
Trong tiếng Việt người ta dựa vào ba tiêu chí sau đây để phân chia thành
các từ loại:
1.3.1. Ý nghĩa khái quát
Ý nghĩa khái quát là ý nghĩa phạm trù có tính chất khái quát hóa cao: nó là
kết quả của quá trình trừu tượng hóa nghĩa của hàng loạt cái cụ thể: danh từ chỉ
sự vật; động từ chỉ hoạt động, trạng thái; còn tính từ chỉ đặc điểm, tính chất
1.3.2. Khả năng kết hợp
Khả năng kết hợp của một từ là là năng lực tiềm tại của từ đó xuất hiện
trong một tổ hợp từ có nghĩa với tư cách một yếu tố thường trực trong tổ hợp từ
đó.
- Danh từ có khả năng kết hợp với tất cả, những, các, mọi , này, kia, đó
(Ví dụ: tất cả những ngôi nhà kia, mọi người ).
- Động từ có khả năng kết hợp với hãy, đừng, chớ (Ví dụ: đừng chạy,
hãy nói ).
- Tính từ có khả năng kết hợp với hơi, rất, lắm, quá (Ví dụ: đẹp lắm, hơi
nặng, cao quá, rất tốt ).
1.3.3. Khả năng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp
Khả năng giữ chức vụ cú pháp trong câu thường được sử dụng như một
tiêu chuẩn hỗ trợ. Các từ thuộc một lớp nào đó có thể đảm đương không phải
một mà một số chức vụ cú pháp ở trong câu. Trong số các chức vụ cú pháp đó
thường có một hoặc vài chức vụ nổi lên rõ hơn có tính chất tiêu biểu cho lớp từ
đó.
- 10 -

- Danh từ thường làm chủ ngữ. Khi làm vị ngữ, danh từ thường phải kết
hợp với từ “là” (Ví dụ: Tôi là sinh viên.).
- Động từ thường làm vị ngữ. Khi đóng vai trò chủ ngữ, động từ mất khả
năng kết hợp với đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, chứ, hãy, đừng, chớ
- Tính từ thường làm vị ngữ. Khi đóng vai trò chủ ngữ, tính từ mất khả

Danh từ chung là mảng từ lớn và đa dạng cần được xem xét ở một số dạng
khác nhau. Cụ thể là:
2. Danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp
Trong lớp lớn danh từ chung, việc tách ra lớp nhỏ danh từ tổng hợp là cần
thiết không chỉ do ý nghĩa mà còn bởi đặc điểm ngữ pháp của bản thân lớp con
này. Những danh từ chung không mang đặc điểm ý nghĩa và ngữ pháp của danh
từ tổng hợp làm thành lớp còn lại đối lập với nó và được gọi là danh từ không
tổng hợp.
Danh từ tổng hợp chỉ chung nhiều sự vật đồng nhất xét ở một phương diện
nào đó, như: cây cối, bạn bè, nhà cửa, xe cộ, đường xá
Danh từ không tổng hợp chỉ cả lớp sự vật đồng chất, hoặc thông qua từng
cá thể sự vật như là đại diện cho cả lớp, như: bụi cây, bạn tôi, xe máy
Cả danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp đều có thể xem xét ở các
phương diện sau đây.
3. Danh từ vật thể, danh từ chất thể, danh từ trừu tượng, danh từ tập thể,
danh từ chỉ hiện tượng thời tiết
3.1. Danh từ vật thể
Danh từ chỉ vật thể bao gồm 4 lớp con
- Danh từ chỉ đồ vật: bàn, ghế, ao, nhà, bát, đũa
- 12 -

- Danh từ chỉ thực vật: cỏ, lúa, nhãn, bưởi
- Danh từ chỉ động vật: cá, bò, trâu, chim
- Danh từ chỉ người: học sinh, sinh viên, công nhân
3.2. Danh từ chất thể
Danh từ chất thể chỉ các chất thuộc cả ba thể là: thể rắn, thể lỏng, thể khí,
như: đá, nước, hơi, khói
3.3. Danh từ trừu tượng
Danh từ trừu tượng gồm các danh từ chỉ các vật thể tưởng tượng, như:
thần, thánh, ma, quỷ, tiên, bụt ; và các danh từ chỉ khái niệm trừu tượng, như: lí

- Danh từ chỉ đơn vị hành chính, tổ chức xã hội như: nước, tỉnh, xã,
đoàn, đội, nghề, môn
- Danh từ chỉ không gian như: nơi, chốn, xứ, vùng, miền, khoảnh
- Danh từ chỉ đơn vị thời gian: dạo, khi, hồi, lúc
- Danh từ chỉ màu sắc, mùi vị, âm thanh: màu, mùi, tiếng
- Danh từ chỉ chức vụ: nhà văn, nghệ sĩ, giám đốc
- Danh từ chỉ lần của sự việc: lần, lượt, phen, chuyến
- Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng: tài năng, trí tuệ

5.1.2. Danh từ đếm được không tuyệt đối
Danh từ đếm được không tuyệt đối là những danh từ vốn không đếm
được, nhưng trong một số trường hợp sử dụng khá quen thuộc chúng có thể xuất
hiện trực tiếp sau số từ chính xác.
Ví dụ: Làng này có ba ao, năm giếng
Đồng hồ ba kim, bàn bốn chân
5.2. Danh từ không đếm được
- 14 -

5.2.1. Danh từ không đếm được là danh từ chất thể
Các danh từ chất thể như: muối, dầu, hơi không có khả năng trực tiếp
đứng sau số từ chính xác. Chúng có thể đo đếm được thông qua các loại đơn vị
thích hợp biểu thị bằng danh từ đơn vị quy ước và một số loại từ thích hợp.
Ví dụ: hai tấn thóc, hai xe sắt, hai lít dầu, hai thùng dầu
5.2.2. Danh từ không đếm được là danh từ tổng hợp
Các danh từ tổng hợp như: áo quần, binh lính, xe cộ không có khả năng
trực tiếp đứng sau số từ chính xác. Chúng chỉ có thể đo đếm được thông qua các
danh từ đơn vị quy ước, một số danh từ tập thể thích hợp dùng làm danh từ đơn
vị.
Ví dụ: hai bộ quần áo, hai tấn quần áo, hai chục kilomet đường xá
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học, từ loại danh từ trước hết được

DT đếm được DT không đếm được
DT DT DT DT DT
Vật chất trừu tập hiện
Thể thể tượng thể tượng
Thời
Tiết
- 16 -

Động từ không độc lập là những động từ về ý nghĩa, biểu thị quá trình chư
đầy đủ, chưa trọn vẹn; chúng chỉ tình thái vận động ở lúc bắt đầu hay kết thúc
quá trình; hoặc ý nghĩa quá trình không trực tiếp gắn với hành động hay trạng
thái cụ thể (có thể nói là “trống” nghĩa); về khả năng kết hợp và đảm nhiệm chức
năng cú pháp, do đặc điểm ý nghĩa, lớp động từ này khi làm thành phần câu,
thường đòi hỏi kết hợp với thực từ hay tổ hợp thực từ để khỏi “trống” nghĩa.
Lớp động từ không độc lập thường bao gồm một số nhóm sau đây:
1.1. Nhóm động từ tình thái
Động từ tình thái thường biểu thị các ý nghĩa tình thái (có tính chất quá
trình) khác nhau:
- Ý nghĩa tình thái về sự cần thiết: cần, nên, phải, cần phải
- Chỉ ý nghĩa tình thái về khả năng: có thể, không thể, chưa thể
- Chỉ ý nghĩa tình thái về ý chí: định, toan, nỡ, dám
- Chỉ ý nghĩa tình thái mong muốn: mong, muốn, ước, mong muốn, mong
ước, ước muốn
- Chỉ ý nghĩa tình thái tiếp thụ, chịu đựng: bị, mắc, phải, được
- Chỉ ý nghĩa tình thái đánh giá, nhận định: cho, xem, thấy
1.2. Nhóm động từ quan hệ
Động từ trong nhóm này biểu thị các ý nghĩa quan hệ (có tính chất quá
trình) giữa các thực thể, quá trình hay đặc trưng:
- Chỉ quan hệ đồng nhất hiểu rộng: là, làm.
- Chỉ quan hệ tồn tại (xuất hiện, tồn tại hoặc tiêu biến): còn, có, biến,

tượng được lợi hay bị thiệt do tác động của hành động nêu ở động từ (động từ
ngoại động): cho (em) (một cái kẹo), gửi (bạn) (một bức thư)
- 18 -

- Nhóm động từ có hai thực từ đi kèm biểu thị đối tượng sai khiến và nội
dung sai khiến (động từ khiên động, thuộc lớp động từ ngoại động): nhờ (bạn)
(xách nước), bảo (con) (học), cử (người) (tiếp khách)
- Nhóm động từ có thực từ đi kèm chỉ hướng dời chuyển, hoặc hướng nối
kết của hành động nêu ở động từ; hoặc chỉ đích dời chuyển của hành động, hoặc
nêu đối tượng bị tác động dời chuyển: lăn vào, chạy ra, đi xuống; buộc vào, cởi
tháo ra; chạy ra phố, đi xuống chân núi; buộc vào cột, kéo thuyền ra; đùn cát lên,
đẩy xe vào nhà, lên gác
* Tóm tắt:

C. Tính từ
Tính từ là những từ chỉ đặc điểm hay tính chất.
Giống như động từ, tính từ có khả năng kết hợp với các loại phụ từ. So với
động từ, tính từ dễ kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ hơn nhưng hầu như không
kết hợp được với các phụ từ chỉ mệnh lệnh. Khả năng này cũng có thể coi là khả
năng làm thành tố chính của cụm tính từ.
Tính từ có khả năng đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu: khi
làm vị ngữ, tính từ không cần đến từ “là”. Ví dụ: Bạn tôi rất xinh.
Các tiểu loại:
Động từ

từ và tính từ không có khả năng làm vị ngữ. Còn ở tiếng Việt, tính từ và động từ
lại có nhiều điểm chung để đối lập với danh từ. Trong thực tế tiếng Việt không
phải chỉ có tính từ mới có khả năng kết hợp với: rất, quá, lắm, cực kì, vô cùng
(yêu lắm, rất ghét, giận vô cùng ) và không chỉ có động từ mới kết hợp được
với: hãy, đừng, chớ Nhập động từ và tính từ thành một từ loại là vị từ (theo
một số tài liệu của Cao Xuân Hạo, Lê Biên ) góp phần giải quyết khó khăn
- 20 -

trong việc phân biệt hai loại từ này về khả năng kết hợp. Song chúng tôi không
đưa ra hệ thống từ loại tiếng Việt với sự gộp chung này khi mục đích đề tài
chúng tôi là hướng đối tượng học sinh tiểu học. Với đối tượng học sinh này, cuối
cùng vẫn phải phân loại và tách vị từ ra thành động và tính từ để các em có thể
dễ dàng hơn trong việc sử dụng từ; nhập để rồi lại tách thêm một lần gây khó cho
học sinh lứa tuổi này.
2. Việc dạy và học từ loại cơ bản ở Tiểu học
2.1. Nội dung dạy từ loại cơ bản ở Tiểu học
Về từ loại, ở Tiểu học chỉ học các khái niệm danh từ, động từ, tính từ,
danh từ riêng, danh từ chung, tính từ chỉ tính chất chung không có mức độ, tính
từ chỉ tính chất có xác định mức độ, đại từ chỉ ngôi. Ở chương trình cải cách giáo
dục, nội dung kiến thức về từ loại nằm trong phân môn Từ ngữ - Ngữ pháp học
sinh được học ngay từ lớp 2. Đến chương trình Tiếng Việt 2000, theo sự tăng
dần độ khó của kiến thức, ở học kì I (lớp 4) học sinh mới chính thức được học
các khái niệm về danh từ, động từ, tính từ. Cụ thể:
Lớp 2: Các em có thể nhận biết các từ chỉ người, vật, hành động.
Lớp 3: Các em nhận biết được từ chỉ tính chất, nhận biết cách dùng một số
cặp từ nối.
Lớp 4: Hình thành khái niệm sơ giản về danh từ, động từ, tính từ.
Lớp 5: Hình thành các khái niệm sơ giản về đại từ, quan hệ từ.
Các bài Luyện từ và câu đề cập đến cách phân loại các từ loại cơ bản.
Cách phân loại này dựa vào các tiêu chí: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và

- Thêm các từ rất, lắm, quá, vô cùng, cực kì vào trước hoặc sau tính từ.
Ví dụ: cao: rất cao, cao lắm, cao quá
- Tạo ra phép so sánh:
- 22 -

So sánh ngang bằng
So sánh hơn kém
So sánh tuyệt đối
2.2.Việc dạy học từ loại cơ bản ở Tiểu học
Thực tế cho thấy việc học các kiến thức ngữ pháp tiếng Việt là rất quan
trọng đối với học sinh, bởi qua học tập về ngữ pháp giúp cho học sinh có hiểu
biết về quy tắc cấu tạo từ, nắm quy tắc dùng từ, đặt câu và tạo văn bản để sử
dụng trong giao tiếp. Vì vậy, việc học tập ngữ pháp hiện nay được tiến hành một
cách có kế hoạch mang tính chủ động. Thông qua hệ thống các bài tập trong sách
giáo khoa, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện, phân loại các đơn vị ngữ
pháp, nắm các quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị này trong hoạt động giao
tiếp của mình.
Dạy học từ loại cũng được tiến hành tuần tự theo các bước nhận thức của
học sinh. Bắt đầu là việc phân tích ngữ liệu là các từ hoặc đoạn văn cho trước để
tìm ra đặc điểm, hiện tượng của khái niệm để làm bài tập cụ thể. Các bước này
có thể chia thành hai hướng là dạy lí thuyết và dạy thực hành từ loại.
Do ngữ pháp là một môn khó (hiện nay là Luyện từ và câu) cho nên giáo
viên vẫn có những hạn chế nhất định trong việc tổ chức tiết dạy sao cho đạt yêu
cầu chuyên môn, đúng đặc trưng phân môn và đạt hiệu quả dạy học cao. Tuy
nhiên, hạn chế lớn nhất là về mặt kiến thức. Giáo viên có những khó khăn khi
xác định đơn vị từ và xác định từ loại. Cụ thể:
Xác định đơn vị từ (phân tách từ): Trước khi đi vào xác định từ loại thì
khâu đầu tiên đó là phải phân tích đúng đơn vị từ. Một bộ phận giáo viên không
chắc chắn trong việc xác định đơn vị từ, nhiều khi còn nhầm lẫn giữa từ và cụm
từ, nhầm lẫn giữa từ ghép với hai từ đơn.

Các phiếu bài tập dưới đây được phát cho 34 học sinh lớp 4 và 35 học sinh
lớp 5 vào thời gian khác nhau.

PHIẾU BÀI TẬP 1
Danh từ là những từ có ý nghĩa gọi tên cái gì? Em hãy nêu một số danh từ
mà em biết.

PHIẾU BÀI TẬP 2
Động từ là những từ có ý nghĩa gọi tên gì? Em hãy nêu một số động từ mà
em biết.

PHIẾU BÀI TẬP 3
- 25 -

Tính từ là những từ có ý nghĩa gọi tên gì? Em hãy nêu một số tính từ mà
em biết.
1.2.2. Thống kê, phân loại phiếu bài tập
Đây là phần tìm hiểu khả năng hiểu khái niệm từ loại cơ bản của học sinh
nên chúng tôi chỉ xem xét kết quả trả lời câu hỏi về khái niệm danh từ, động từ,
tính từ (ý thứ nhất của câu hỏi) còn phần lấy ví dụ (ý thứ hai của câu hỏi) chúng
tôi sẽ trình bày ở phần 2 – khả năng vận dụng lí thuyết vào thực tiễn xác định từ
loại cơ bản.

4 5 Từ
loại
Lớp
Phân loại
Số lượng HS Tỉ lệ % Số lượng HS Tỉ lệ %
Đúng
25 73,53 32 91,43

Trích đoạn Nhận xét, đánh giá chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status