Bước đầu tìm hiểu về phép điệp và phép lặp trong các bài thơ thuộc phân môn tập đọc chương trình tiếng việt lớp 4 - Pdf 29


1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
********* LƯU THỊ KIM NHÀI BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ PHÉP ĐIỆP VÀ PHÉP LẶP
TRONG CÁC BÀI THƠ THUỘC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC
CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thu Trang Hà Nôi, tháng 5 năm 2011

2

Từ những đặc điểm trên, tôi thấy rằng việc lựa chọn đối tượng nghiên
cứu là phép điệp và phép lặp trong các bài thơ viết cho thiếu nhi trong
chương trình Tiểu học là cần thiết, không chỉ để khẳng định một vấn đề lý
thuyết mà còn là một cách tiếp cận chương trình sách giáo khoa chuẩn bị cho
việc giảng dạy sau này của bản thân ở trường Tiểu học.
Chính vì những lý do nêu trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Bước
đầu tìm hiểu về phép điệp và phép lặp trong các bài thơ thuộc phân môn
Tập đọc chương trình Tiếng Việt lớp 4” để nghiên cứu.
1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2.1. Lịch sử nghiên cứu lý thuyết về phép điệp và phép lặp
Ở cuốn “Phong cách học Tiếng Việt” (Nxb GD, 1998) tác giả Đinh
Trọng Lạc đã đề cập đến phép điệp theo hướng xét các phương diện sử dụng:
- Phương diện tu từ
- Phương diện ngữ âm
- Phương diện cú pháp
1.2.2. Góc độ phân tích, cảm thụ văn học
a. Nhằm trau dồi khả năng cảm thụ văn học cho học sinh Tiểu học, tác
giả Trần Mạnh Hưởng trong cuốn “Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu
học” đưa ra các dạng bài tập nhằm giúp học sinh tìm hiểu và vận dụng một
số biện pháp tu từ gần gũi, trong đó có phép điệp và phép lặp bao gồm năm
dạng bài tập về cảm thụ tu từ:
a.1. Bài tập về tìm hiểu tác dụng của cách dùng từ, đặt câu sinh động.
a.2. Bài tập phát hiện những hình ảnh chi tiết có giá trị gợi tả.
a.3. Bài tập tìm hiểu và vận dụng một số biên pháp tu từ gần gũi quen
thuộc với các em: nhân hoá, so sánh, phép điệp, phép lặp,…

4
a.4. Bài tập về đọc diễn cảm có sáng tạo.
a.5. Bài tập về bộc lộ cảm thụ văn học qua viết văn.
b. Tác giả Đinh Trọng Lạc đã biên soạn cuốn “Vẻ đẹp của ngôn ngữ

Khoa phát biểu: “Học sinh phải được viết bằng chính những ấn tượng của
mình thì mới hay”. Chính vì vậy mà trong cuốn “Văn miêu tả và phương
pháp dạy văn miêu tả ở Tiểu học” (Nxb GD, 2002) với mục đích tạo ấn
tượng, đồng thời hướng dẫn học sinh viết văn, tác giả Nguyễn Trí đã đề cập
rất tỉ mỉ đến vấn đề sử dụng các biên pháp tu từ trong đó có phép điệp và
phép lặp.
Qua việc phân tích tài liệu của nhà nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng các
ví dụ để minh hoạ cho lí thuyết hay để phân tích, cảm thụ các tác giả đều tập
trung lấy ví dụ trong thơ thiếu nhi, đặc biệt là các bài thơ trong sách giáo
khoa Tiếng Việt Tiểu học.
Để có một cái nhìn hệ thống và khai thác triệt để, hiệu quả phép điệp
và phép lặp trong thơ thiếu nhi, đặc biệt là các bài thơ chọn giảng dạy trong
chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt sau năm 2000, chúng tôi chọn đề tài
“Bước đầu tìm hiểu về phép điệp và phép lặp qua các bài thơ thuộc phân
môn Tập đọc chương trình Tiếng Việt lớp 4”.
Với đề tài này, tôi hy vọng đóng góp thêm một tiếng nói khẳng định vị
trí cũng như hiệu quả nghệ thuật của phép điệp và phép lặp trong thơ viết
cho thiếu nhi nói chung, thơ trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học nói
riêng. Kết quả thống kê, phân tích của đề tài sẽ là tư liệu cần thiết cho việc
giảng dạy sau này.
1.3. Đối tượng nghiên cứu

6
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, tôi chọn đối tượng nghiên cứu
của đề tài là phép điệp và phép lặp trong các bài Thơ thuộc phân môn Tập
đọc chương trình Tiếng Việt lớp 4.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Cũng do giới hạn thời gian, chúng tôi chỉ thống kê phép điệp và phép
lặp trong các văn bản thơ thuộc phân môn Tập đọc Sách giáo khoa Tiếng
Việt 4. Chúng tôi không thống kê phép điệp và phép lặp trong các văn bản

8
Chương 1
Cơ sở lí luận

Đề tài xác định cơ sở lí luận gồm những nội dung như đặc trưng tâm lí
lứa tuổi Tiểu học, việc nhận biết và sử dụng phép điệp và phép lặp. Ngoài ra,
chúng tôi tập trung xem xét cơ sở ngôn ngữ học của đề tài.
1.1. Cơ sở tâm lí học
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là thứ công cụ có giá trị, có tác dụng
vô cùng to lớn. Nó có thể dùng để biểu đạt tất cả những gì mà con người
nghĩ ra, nhìn thấy, biết được những vật thể vô cùng rộng lớn, từ những thực
thể vật chất đến những giá trị tinh thần trừu tượng mà các giác quan của con
người không thể với tới được. Một công cụ mà tính năng có những nét kì
diệu như thế phải là một bộ máy, một cơ chế hết sức tinh xảo, phức tạp. Cho
nên, học để nắm được ngôn ngữ, cho dù với yêu cầu đặt ra ở mức trung bình
cũng không phải chuyện một sớm, một chiều có thể giải quyết ngay được.
Mặt khác, ngôn ngữ còn là công cụ để hiện thực hoá tư duy. Ngôn ngữ
và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.

Là biện pháp lặp lại một hay nhiều lần những từ, ngữ, âm, vần, thanh
hay cú pháp nhằm mục đích mở rộng nghĩa, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra
những xác cảm trong lòng người đọc, người nghe.
1.2.1.2. Phân loại phép điệp
Tuỳ theo từng phương diện được xem xét, tác giả Đinh Trọng Lạc
trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ” chia phép điệp thành
những loại sau đây.

10
a. Xét theo phương diện tu từ cú pháp, có những loại sau
a.1. Điệp ngữ
Là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh hoặc gợi
ra những xúc cảm trong lòng người đọc, người nghe.
Điệp ngữ có cơ sở lí luận là quy luật tâm lí: một vật kích thích, xuất
hiện nhiều lần sẽ làm người ta chú ý.
Căn cứ vào tính chất của tổ chức cấu trúc, điệp ngữ được chia làm
nhiều dạng:
+ Điệp ngữ nối tiếp: là dạng điệp ngữ trong đó những từ ngữ được lặp
lại trực tiếp đứng bên nhau nhằm tạo nên ấn tượng mới mẻ có tính chất tăng
tiến:
Ví dụ:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.
(Hồ Chí Minh)
+ Điệp ngữ ngắt quãng: là dạng điệp ngữ trong đó những từ ngữ được
lặp lại đứng cách xa nhau nhằm gây một ấn tương nổi bật và có tác dụng âm
nhạc rất cao.
Ví dụ:
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn thét núi

b.1 Điệp phụ âm đầu.
Là biện pháp tu từ ngữ âm, trong đó người ta cố ý tạo ra sự trùng điệp
về âm hưởng bằng cách lặp lại phụ âm đầu, nhằm mục đích tăng tính tạo
hình và diễn cảm cho những câu thơ.
Ví dụ:

12
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
(Nguyễn Khuyến)
b.2. Điệp vần
Là biện pháp tu từ ngữ âm trong đó, người ta tạo ra sự trùng điệp về
âm hưởng bằng cách lặp lại những âm tiết có phần vần giống nhằm mục đích
tăng tính biểu cảm, tăng tính nhạc của câu thơ.
Ví dụ:
Lá bàng đang đỏ ngọn cây
Sếu giang mang lạnh đang bay ngang trời
(Tố Hữu)
b.3 Điệp thanh
Là biện pháp tu từ ngữ âm, trong đó người ta cố ý tạo ra sự trùng điệp
về âm hưởng bằng cách lặp lại thanh điệu, thường là cùng thuộc nhóm bằng
hay cùng thuộc nhóm trắc, nhằm tăng tính tạo hình và diễn cảm của câu thơ.
Các thanh bằng được lặp lại thường thích hợp để nói một cái gì êm
đềm, nhẹ nhàng, chậm, buồn.
Ví dụ:
Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.
(Xuân Diệu)
Các thanh trắc được lặp lại thường thích hợp để nói một cái gì có tính
sắc gọn, đột ngột, dứt khoát, mạnh.
Ví dụ:

1.2.2.2. Phân loại
a. Xét theo phương diện tu từ cú pháp có phép lặp liên từ

14
Là liên từ dạng đặc biệt của mối liên hệ dựa trên sự kết hợp bằng liên
từ giữa các thành tố của câu.
Lặp liên từ thường được sử dụng rộng rãi trong thơ.
Ví dụ:
Và vạn anh hùng trên gió mây
Và nghìn thế hệ tới sau đây.
Đương nhìn ta đó! Đi đi bạn
Cất nhẹ thân lên giữa phút này.
(Tố Hữu)
Chức năng tu từ học cơ bản của lặp liên từ là tạo ra một tiết tấu nhất
định làm nổi bật những ý nghĩ, tình cảm quan trọng nhất, đặc biệt khi được
sử dụng kết hợp với biện pháp tách biệt cú pháp.
Ví dụ:
Người ta chỉ còn có thể mang đến cho Dì Hảo ốm đau mỗi ngày một
xu quà, và rất nhiều nước mắt. Và rất nhiều lời than thở.
(Nam Cao)
b. Xét theo biện pháp tu từ cú pháp, phép lặp được chia thành
những loại sau:
b.1. Lặp đầu
Là biện pháp tu từ cốt ở việc lặp lại một vài yếu tố ở đầu câu trong
một số câu tiếp theo.
Là một trong những nguồn phong phú của tính diễn cảm của lời nói,
lặp đầu được sử dụng rộng rãi trong những văn bản nghệ thuật, đặc biệt trong
thơ ca.
Ví dụ:
Đã nghe nước chảy lên non


16
Bản tình ca em hát cho anh bên dòng kênh xanh
Trời mây trong xanh và mắt em xanh.
Tiếng hát ta làm vui cuộc đời.
(Tôn Thất Lập)
1.2.2.3. Giá trị nghệ thuật của phép lặp
Phép lặp nhằm nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa, một sắc thái biểu cảm
nào đó, làm nổi bật những từ ngữ quan trọng, thu hút sự chú ý của mọi
người.
Phép điệp và phép lặp có tác dụng giáo dục phù hợp với tâm lí lứa tuổi
trẻ thơ. Để phân tích, khám phá phép điệp và phép lặp cũng chính là mục
đích của đề tài.
1.3. Chương trình phân môn Tập đọc lớp 4
1.3.1. Vị trí của việc dạy đọc ở Tiểu học
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học,
tư tưởng, tình cảm của thế hệ trước và của cả những người đương thời phần
lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không
thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình
thường, có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết
đọc, con người đã nâng khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, có khả năng chế
ngự một phương tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp với thế giới bên trong
của người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác. Đặc biệt khi
đọc các tác phẩm văn học, con người không chỉ được thức tỉnh nhận thức mà
còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tươi đẹp, khơi dậy năng lực
hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như bồi dưỡng tâm hồn.
Vì những lẽ trên, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn ở Tiểu học. Đọc trở
thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Trước hết là trẻ
phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh một


5, Tập đọc được học 31 tuần (không kể 4 tuần ôn tập). Ở lớp 2, mỗi tuần có 4
tiết (3 bài), ở lớp 3, mỗi tuần có 3,5 tiết (3 bài). Ở lớp 4 và lớp 5 mỗi tuần có
2 tiết Tập đọc.
1.3.3.2. Sách giáo khoa dạy học Tập đọc lớp 4
a. Các tác phẩm văn xuôi tập một:
- Chủ đề Thương người như thể thương thân:
+ Dế mèn bênh vực kẻ yếu - Tô Hoài
+ Thư thăm bạn - Quách Tuấn Lương
+ Người ăn xin - Tuốc Ghe Nhép
- Chủ để Măng mọc thẳng:
+ Một người chính trực - Theo Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
+ Những hạt thóc giống - Truyện dân gian Khơ Me
+ Nỗi dằn vặt của Anđrây- ca - Xu-Khôm-Lin-Xki
+ Chị em tôi - Theo Liên Hương
- Chủ đề Trên đôi cánh ước mơ:
+ Thu độc lập - Thép Mới
+ Ở vương quốc tương lai - Mát- tec- Lích
+ Đôi giày ba ta màu xanh - Hàng Chức Nguyên.
+ Thưa chuyện với mẹ - Nam Cao
+ Điều ước của vua Mi- Đát - Thần thoại Hy Lạp
- Chủ đề Có chí thì nên:
+ Ông Trạng thả diều - Theo Trinh Đường
+ “Vua tàu thủy” Bạch Thái Bưởi - Theo từ điển nhân vật lịch sử Việt
Nam
+ Vẽ trứng - Theo Xuân Tiến

19
+ Người tìm đường lên các vì sao - Theo Nguyên Long, Phạm Ngọc
Toàn
+ Văn hay chữ tốt - Theo truyện đọc 1

c. Các tác phẩm thơ tập một.
- Chủ đề Thương người như thể thương thân:
+ Mẹ ốm - Trần Đăng Khoa.
+Truyện cổ nước mình - Lâm Thị Mỹ Dạ
- Chủ đề Măng mọc thẳng:
+ Tre Việt Nam - Nguyễn Duy
+ Gà Trống và Cáo - La Phông- Ten
- Chủ đề Trên đôi cánh ước mơ:
+ Nếu chúng mình có phép lạ - Định Hải
- Chủ đề Có chí thì nên:
+ Có chí thì nên - Tục ngữ.
-Chủ đề Tiếng sáo diều:
+ Tuổi ngựa - Xuân Quỳnh.
d. Các tác phẩm thơ tập hai:
- Chủ đề Người ta là hoa đất:
+ Chuyện cổ tích về loài người - Xuân Quỳnh
+ Bè xuôi sông La - Vũ Duy Thông
- Chủ đề Vẻ đẹp muôn màu:
+ Chợ Tết - Đoàn Văn Cừ
+ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm
+ Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận
- Chủ đề Những người quả cảm:
+ Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật

21
- Chủ đề Khám phá thế giới:
+ Trăng ơi từ đâu đến? - Trần Đăng Khoa
+ Dòng sông mặc áo - Nguyễn Trọng Tạo
- Chủ đề Tình yêu cuộc sống:
+ Ngắm trăng, Không đề - Hồ Chí Minh

chúng trong mỗi lần sử dụng.
2.1. Tiêu chí thống kê
Dựa vào khái niệm và cách thức phân loại phép điệp và phép lặp đã
xác định ở chương 1, chúng tôi tiến hành thống kê những trường hợp sử
dụng biện pháp tu từ này trong các bài thơ thuộc phân môn Tập đọc trong
chương trình Tiếng Việt lớp 4. Từ đó, chúng tôi có thể làm nổi bật được các
mức độ sử dụng cũng như dễ dàng phân tích giá trị thẩm mỹ của phép điệp
và phép lặp.
2.2. Miêu tả kết quả thống kê
2.2.1. Phép điệp
Số thứ tự Phép điệp Số lần sử dụng Tỉ lệ
1 Điệp âm 18 16,3%
2 Điệp vần 39 35,4%
3 Điệp thanh 4 3,7%
4 Điệp ngữ 43 39,1%
5 Điệp cấu trúc

6 5,4%
Tổng số 110 100%
23
2.2.2. Phép lặp
Số thứ tự Phép lặp Số lần sử dụng Tỉ lệ
1 Lặp liên từ 0 lần 0%
2 Lặp đầu 7 lần 100%
3 Lặp cuối 0 lần 0%
Tổng số 7 100%


Ví dụ:
Nếu chúng mình có phép lạ

Nếu chúng mình có phép lạ.
(Nếu chúng mình có phép lạ, Định Hải, [9,76])
- Điệp thanh được sử dụng 4 lần, chiếm tỉ lệ thấp nhất 3,7%.
Ví dụ:
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành.
(Tre Việt Nam, Nguyễn Duy,[9,41])
- Phép lặp sử dụng ít hơn so với phép điệp và toàn bộ phép lặp được
sử dụng là lặp đầu với 7 lần.
Ví dụ:
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng.
(Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Nguyễn Khoa Điềm,
[10,49])
2.3. Nhận xét về hiệu quả thẩm mỹ của phép điệp và phép lặp
trong các bài thơ thuộc phân môn Tập đọc lớp 4
2.3.1. Phép điệp

25
2.3.1.1. Điệp âm
Điệp âm được sử dụng 18 lần trong tổng số 16 bài thơ được khảo sát
trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 gồm những bài sau: Mẹ ốm, Truyện cổ
nước mình, Tre Việt Nam, Gà trống và Cáo, Bè xuôi sông La, Chợ tết, Khúc
hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Trăng ơi từ đâu đến, Dòng sông mặc
áo, Con chim chiền chiện.
Ví dụ:
Thị thơm thị giấu người thơm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status